BỆNH VIỆC BẮC THĂNG LONG
BẮC THĂNG LONG HOSPITAL

(84-24).0889.615.815

Email: bvbtl@hanoi.gov.vn

BỆNH VIỆC BẮC THĂNG LONG
BẮC THĂNG LONG HOSPITAL

Tin Tức

Tin Tức - Sự Kiện

Bộ Y tế quy định “Danh mục bệnh bẩm sinh khuyến khích khám sàng lọc trước sinh và sơ sinh”, chủ động bảo vệ trẻ thơ ngay từ trong bụng mẹ

Bộ Y tế ban hành Thông tư số 12/2026/TT-BYT quy định “Danh mục bệnh bẩm sinh khuyến khích khám sàng lọc trước sinh và sơ sinh”, có hiệu lực từ ngày 1-7-2026. Sinh ra một đứa trẻ lành lặn, khỏe mạnh là ước nguyện lớn nhất của bất kỳ bậc làm cha, làm mẹ nào. Tuy nhiên, rủi ro từ các bệnh lý di truyền và dị tật bẩm sinh vẫn luôn là nỗi lo hiện hữu, có thể đẩy nhiều gia đình vào bi kịch cả về tinh thần lẫn kinh tế. Trước thực tế đó, Thông tư 12/2026/TT-BYT ra đời như một giải pháp mang tính chiến lược, cụ thể hóa các quy định của Luật Dân số năm 2025 nhằm chủ động bảo vệ trẻ thơ ngay từ trong bụng mẹ và những ngày đầu đời. Tại Phụ lục I của Thông tư, Bộ Y tế đã lập danh mục chi tiết gồm 70 bệnh bẩm sinh khuyến khích sàng lọc trước sinh, được chia thành các nhóm rất khoa học. Đáng chú ý, nhóm các bệnh di truyền phổ biến như tan máu bẩm sinh (Thalassaemia), hội chứng Down, Edwards, Patau… đã được đưa vào danh mục sàng lọc thường quy. Thalassaemia hiện đang là gánh nặng lớn của xã hội khi ước tính nước ta có hàng triệu người mang gen bệnh. Việc khuyến khích sàng lọc thường quy giúp các cặp vợ chồng chủ động phát hiện sớm nguy cơ từ giai đoạn bào thai, từ đó nhận được sự tư vấn y khoa kịp thời. Bên cạnh đó, danh mục cũng bao phủ toàn diện các bất thường cấu trúc thai có thể can thiệp hoặc chuẩn bị tâm lý điều trị sớm như tim bẩm sinh, nứt đốt sống, khe hở môi, vòm miệng… Việc định hình rõ ràng các nhóm bệnh giúp người dân không còn mơ hồ, dễ dàng tiếp cận các dịch vụ xét nghiệm, siêu âm đúng thời điểm vàng của thai kỳ. Phụ lục II cũng xác định rõ danh mục 33 bệnh bẩm sinh cần sàng lọc sơ sinh. Thông tư chú trọng vào các kỹ thuật xét nghiệm từ giọt máu thấm khô (lấy máu gót chân trẻ) để quét diện rộng các bệnh lý nguy hiểm như: Suy tuyến giáp bẩm sinh, thiếu men G6PD, tăng sản tuyến thượng thận bẩm sinh. Danh mục mới cũng bổ sung kỹ thuật sàng lọc suy giảm miễn dịch kết hợp trầm trọng (SCID), giúp cứu sống nhiều trẻ nhỏ tránh khỏi những đợt nhiễm trùng tử vong bằng cách cách ly phòng ngừa sớm. Việc Bộ Y tế ban hành danh mục chuẩn hóa này giúp người dân có một “kim chỉ nam” đáng tin cậy, tránh việc hoang mang trước các dịch vụ xét nghiệm tràn lan, thiếu kiểm chứng trên thị trường. Đây cũng là cơ sở để các cơ quan chức năng, hệ thống bệnh viện phụ sản từ trung ương đến địa phương đồng bộ hạ tầng, đầu tư máy móc, đào tạo nhân lực nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu sàng lọc ngày càng cao của nhân dân. Thông tư 12/2026/TT-BYT có hiệu lực từ ngày 1-7-2026 và sẽ được rà soát cập nhật định kỳ 2 năm một lần. Với sự vào cuộc đồng bộ, việc khám sàng lọc trước sinh và sơ sinh không còn là câu chuyện riêng của ngành y, mà là trách nhiệm, tình yêu thương, lựa chọn thông thái của mỗi bậc cha mẹ vì tương lai vững bền của gia đình và giống nòi Việt Nam./. https://moh.gov.vn/index.jsp?pageId=5803&aid=168658&cid=8356

Hà Nội triển khai thí điểm mô hình “xã, phường xã hội chủ nghĩa” tại 2 xã Phúc Thịnh và Thư Lâm

Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Trần Đức Thắng đã ký ban hành Nghị quyết số 16-NQ/TU ngày 8-7-2026 của Thành ủy Hà Nội về xây dựng và triển khai thí điểm mô hình “xã, phường xã hội chủ nghĩa” trên địa bàn thành phố. Hiện thực hóa bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa từ cấp cơ sở Nghị quyết nêu rõ, thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết Đại hội XVIII Đảng bộ thành phố và Chương trình công tác toàn khóa của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố khóa XVIII, nhằm cụ thể hóa mục tiêu xây dựng và phát triển Thủ đô “Văn hiến – Văn minh – Hiện đại – Hạnh phúc”; lấy con người làm trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực của phát triển; hiện thực hóa bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa từ cấp cơ sở; trên cơ sở tổng hợp ý kiến bằng văn bản của các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố, Thành ủy ban hành Nghị quyết về xây dựng và triển khai thí điểm mô hình “xã, phường xã hội chủ nghĩa” trên địa bàn thành phố. Nghị quyết khẳng định, việc xây dựng và triển khai thí điểm mô hình “xã, phường xã hội chủ nghĩa” trên địa bàn Thủ đô Hà Nội là yêu cầu có ý nghĩa chính trị, xã hội và thực tiễn sâu sắc; vừa cụ thể hóa các giá trị, mục tiêu, đặc trưng của chủ nghĩa xã hội Việt Nam trong điều kiện phát triển mới của Thủ đô, vừa tạo cơ sở kiểm nghiệm, hoàn thiện mô hình quản trị cấp cơ sở hiện đại, dân chủ, kỷ cương, nhân văn, phát triển, phù hợp với yêu cầu xây dựng Thủ đô “Văn hiến – Văn minh – Hiện đại – Hạnh phúc”. Thành ủy xác định quan điểm xây dựng và triển khai thí điểm mô hình “xã, phường xã hội chủ nghĩa” phải quán triệt đầy đủ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bám sát Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị, định hướng phát triển Thủ đô và các nguyên tắc phát triển của chế độ xã hội chủ nghĩa, lấy hạnh phúc, chất lượng sống của người dân làm mục tiêu cao nhất; là thước đo tổng hợp để đánh giá hiệu quả của mọi chính sách, hoạt động quản trị và kết quả phát triển ở cấp cơ sở trên địa bàn Thủ đô. Phát triển không chỉ dừng lại ở tăng trưởng kinh tế mà phải hướng tới nâng cao toàn diện đời sống vật chất, tinh thần, môi trường sống và cảm nhận hạnh phúc của người dân, bảo đảm mọi người dân đều được thụ hưởng thành quả phát triển một cách công bằng, bền vững. Thành ủy thống nhất mô hình “xã, phường xã hội chủ nghĩa” phải thể hiện rõ bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa từ cấp gần dân nhất; trong đó, người dân là trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực của phát triển; mọi chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp phải hướng tới nâng cao chất lượng sống, bảo đảm công bằng, tiến bộ xã hội, không để ai bị bỏ lại phía sau; lấy sự đồng thuận, hài lòng, mức độ thụ hưởng và hạnh phúc của nhân dân làm thước đo quan trọng. Xây dựng mô hình “xã, phường xã hội chủ nghĩa” hướng tới phát triển hài hòa, đồng bộ giữa kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường, bảo đảm sự cân bằng giữa tăng trưởng với tiến bộ, công bằng xã hội, giữa phát triển vật chất với nâng cao đời sống tinh thần, giữa khai thác nguồn lực với bảo vệ môi trường. Trong đó, văn hóa và con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực nội sinh, “hệ điều tiết” của quá trình phát triển; môi trường sống xanh, sạch, an toàn và văn minh sinh thái là một cấu phần thiết yếu của chất lượng sống; phát triển văn hóa là giải pháp then chốt để quản trị sự đa dạng văn hóa trong bối cảnh di cư và gia tăng dân số cơ học tại xã, phường thí điểm. Việc triển khai thí điểm phải gắn đổi mới quản trị với tổ chức lại không gian phát triển theo quy hoạch; sử dụng hiệu quả đất đai, hạ tầng, tài sản công và các nguồn lực tại chỗ; thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn; bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế với văn hóa, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội. Xây dựng mô hình “xã, phường xã hội chủ nghĩa” phải bảo đảm kế thừa truyền thống, phát huy bản sắc Hà Nội, kết hợp hài hòa giữa giá trị văn hiến lâu đời với yêu cầu phát triển hiện đại, góp phần hình thành và lan tỏa hình ảnh Thủ đô văn minh, thanh lịch, nhân văn, kỷ cương. Việc tổ chức thí điểm phải theo phương châm tinh gọn, thiết thực, khả thi, có thể triển khai ngay, đo lường được và nhân rộng được; lựa chọn địa bàn đại diện, thiết kế mô hình rõ ràng, xác định cụ thể tiêu chí, chỉ số đánh giá và cơ chế giám sát, bảo đảm quá trình thí điểm tạo ra kết quả thực chất, làm cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc hoàn thiện, mở rộng mô hình trên phạm vi toàn thành phố. Việc tổ chức thực hiện phải bảo đảm nguyên tắc không làm phát sinh đầu mối tổ chức trung gian, không làm tăng biên chế; gắn với

Ngành Y tế Hà Nội: Nhiều kết quả nổi bật trong 6 tháng đầu năm 2026

Chiều ngày 28/6, Sở Y tế Hà Nội đã tổ chức Hội nghị sơ kết công tác y tế 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026. Trong 6 tháng đầu năm 2026, bám sát sự chỉ đạo của Thành ủy, HĐND, UBND thành phố Hà Nội và Bộ Y tế, ngành Y tế Thủ đô đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân. Song song với việc tăng cường công tác phòng, chống dịch bệnh, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, phát triển y tế cơ sở, công tác chuyển đổi số tiếp tục được xác định là nhiệm vụ đột phá, tạo nền tảng xây dựng hệ thống y tế thông minh, hiện đại và lấy người dân làm trung tâm. Chuyển đổi số tiếp tục là điểm nhấn nổi bật của ngành Y tế Hà Nội trong 6 tháng đầu năm 2026. Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, Kế hoạch hành động số 20-KH/BCĐ57 của Thành ủy và Đề án 06 của Chính phủ, Sở Y tế Hà Nội đã tập trung xây dựng nền tảng y tế thông minh, đẩy mạnh phát triển dữ liệu số, ứng dụng công nghệ mới và nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành toàn ngành. Đến hết quý II/2026, ngành Y tế đã quản lý Hồ sơ sức khỏe điện tử cho gần 99% dân số được chuẩn hóa; tiếp tục cập nhật dữ liệu căn cước công dân, bảo hiểm y tế, hộ gia đình, lịch sử khám chữa bệnh, tiêm chủng và kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, bảo đảm dữ liệu “đúng – đủ – sạch – sống”. 100% bệnh viện công lập thực hiện liên thông dữ liệu khám chữa bệnh theo thời gian thực, từng bước hình thành kho dữ liệu y tế của thành phố. Cùng với đó, công tác triển khai bệnh án điện tử đạt nhiều kết quả tích cực. Đến nay, 100% bệnh viện công lập và 68% bệnh viện ngoài công lập đã triển khai bệnh án điện tử; các đơn vị tiếp tục hoàn thiện hệ thống HIS-LIS-PACS, chữ ký số và liên thông dữ liệu, hướng tới thay thế hoàn toàn bệnh án giấy theo lộ trình của Bộ Y tế. Ngành Y tế cũng tích cực triển khai kế hoạch khám sức khỏe định kỳ cho người dân, đồng bộ dữ liệu khám sức khỏe với Hồ sơ sức khỏe điện tử và Sổ sức khỏe điện tử trên VNeID, phục vụ công tác quản lý sức khỏe toàn dân. Song song với đó, Sở Y tế đã xây dựng Đề án Chuyển đổi số ngành Y tế Hà Nội đến năm 2030 cùng các chương trình, dự án thành phần về dữ liệu số, bệnh viện thông minh, hồ sơ sức khỏe điện tử, bệnh án điện tử, khám chữa bệnh từ xa (Telehealth), trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT) và Trung tâm điều hành y tế thông minh (Health IOC). Nhiều công nghệ mới đã được đưa vào ứng dụng thực tiễn. Trong quý II/2026, ngành đã triển khai thí điểm AI trong chẩn đoán hình ảnh tại 3 bệnh viện với hơn 24.000 ca; triển khai mô hình vận chuyển mẫu bệnh phẩm bằng thiết bị bay không người lái (UAV) tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang; hoàn thiện Đề án Telehealth giai đoạn 2026-2030, Đề án ứng dụng IoT trong điều phối phương tiện cấp cứu và Trung tâm điều hành cấp cứu thông minh, đồng thời xây dựng mô hình bệnh viện thông minh tại 3 bệnh viện của thành phố. Đặc biệt, thanh toán không dùng tiền mặt được đẩy mạnh tại các cơ sở y tế. Đến nay, 100% bệnh viện trực thuộc Sở Y tế đã triển khai thanh toán không dùng tiền mặt; trong đó 59,5% bệnh viện được trang bị 97 máy POS, 47,6% bệnh viện triển khai hơn 190 điểm thanh toán bằng mã QR động và 100% bệnh viện triển khai hơn 400 điểm thanh toán bằng mã QR tĩnh. Cùng với đó, các đơn vị tiếp tục mở rộng đăng ký khám bệnh trực tuyến, kê đơn điện tử, ký số hồ sơ, sử dụng phần mềm có bản quyền và bảo đảm an toàn thông tin theo quy định. Hội nghị sơ kết công tác y tế 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026. Bên cạnh việc triển khai các nhiệm vụ chuyên môn, ngành Y tế Hà Nội cũng đẩy mạnh công tác truyền thông về Hồ sơ sức khỏe điện tử, bệnh án điện tử, khám sức khỏe định kỳ, ứng dụng VNeID trong khám chữa bệnh và các nhiệm vụ chuyển đổi số trên Cổng thông tin điện tử, Fanpage Sức khỏe Thủ đô và các phương tiện thông tin đại chúng, góp phần nâng cao nhận thức và sự đồng thuận của người dân trong quá trình xây dựng y tế số, y tế thông minh. Trong 6 tháng đầu năm 2026, mạng lưới khám chữa bệnh trên địa bàn thành phố tiếp tục được củng cố, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân. Toàn thành phố có 17.365 giường bệnh, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm 2025. Các bệnh viện đã thực hiện trên 4.387.000 lượt khám bệnh, trong đó có trên 2.549.000 lượt khám bảo hiểm y tế; điều trị ngoại trú gần 775.000 lượt và điều trị nội trú trên 530.000 lượt. Đáng chú ý, số lượt chuyển tuyến tiếp tục giảm còn 98.919 lượt, giảm 15,91% so với cùng kỳ năm trước, phản ánh hiệu quả tích cực của hệ thống khám chữa bệnh các tuyến, góp phần giảm quá tải cho các bệnh viện tuyến trên. Cùng với việc nâng cao

Phát triển VNeID thành “siêu ứng dụng”, trung tâm của hệ sinh thái số quốc gia

Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng vừa ký Quyết định số 940/QĐ-TTg ngày 26/5/2026 phê duyệt Đề án “Phát triển ứng dụng định danh quốc gia VNeID giai đoạn 2026 – 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Đề án đặt mục tiêu phát triển VNeID trở thành “siêu ứng dụng”, đóng vai trò trung tâm trong hệ sinh thái số quốc gia, phục vụ người dân, doanh nghiệp và cơ quan nhà nước trong thực hiện thủ tục hành chính, giao dịch điện tử và khai thác các tiện ích số. Theo Đề án, VNeID sẽ được phát triển thành nền tảng số quốc gia an toàn, hiện đại, có khả năng mở rộng cao, đáp ứng hiệu quả nhu cầu giao dịch số ngày càng lớn của xã hội. Đồng thời, đây cũng sẽ là nền tảng số tin cậy để kết nối, chia sẻ, xác thực thông tin giữa các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, hệ thống thông tin của các bộ, ngành, địa phương, tổ chức và doanh nghiệp; góp phần thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia, phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Đề án xác định nhiều mục tiêu quan trọng trong từng giai đoạn phát triển. Đến năm 2028, phấn đấu hoàn thành việc đồng bộ khung thể chế, cơ chế, chính sách nhằm tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, thống nhất cho việc phát triển, vận hành và mở rộng VNeID. Đồng thời, hoàn thành triển khai 100% hạ tầng kỹ thuật, công nghệ, phần mềm phục vụ nâng cấp tổng thể hệ thống VNeID và phát triển ứng dụng này thành “siêu ứng dụng”. Một trong những nội dung đáng chú ý là việc mở rộng hệ sinh thái tiện ích số trên VNeID. Theo mục tiêu đề ra, đến hết năm 2028, phấn đấu tích hợp khoảng 50% tiện ích số thiết yếu phục vụ nhu cầu giao dịch số của người dân, doanh nghiệp và cơ quan, tổ chức. 100% tài khoản định danh điện tử cho cá nhân, tổ chức đủ điều kiện sẽ được cấp theo nhu cầu; đồng thời 100% giấy tờ công dân, tổ chức theo quy định pháp luật về định danh và xác thực điện tử sẽ được tích hợp lên VNeID. Đặc biệt, Đề án đặt mục tiêu đến năm 2028, 100% đối tượng nhận các khoản hỗ trợ, hưu trí và chi trả an sinh xã hội được tích hợp thông tin tài khoản thanh toán, ví điện tử trên VNeID. Đây được xem là bước tiến quan trọng trong thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt, tăng tính minh bạch, thuận tiện trong chi trả chính sách an sinh xã hội và các dịch vụ công. Cùng với đó, 100% thuê bao di động sẽ được đăng ký, xác thực thông tin trên VNeID; 80% công dân đủ điều kiện được cấp chứng thư chữ ký số để sử dụng trong các dịch vụ công trực tuyến và các giao dịch điện tử. Đề án cũng định hướng bước đầu tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI) vào hệ thống nhằm nâng cao trải nghiệm, hỗ trợ cá nhân hóa dịch vụ cho người dùng. Đến năm 2030, mục tiêu tiếp tục mở rộng và hoàn thiện toàn diện hệ sinh thái số trên VNeID. Theo đó, 100% công dân có tài khoản VNeID mức độ 2 và được tích hợp thông tin tài khoản thanh toán, ví điện tử khi có nhu cầu. 100% công dân đủ điều kiện được cấp chứng thư chữ ký số để sử dụng trong các dịch vụ công trực tuyến; đồng thời hoàn thiện các dịch vụ tin cậy phục vụ giao dịch dân sự của người dân và doanh nghiệp. Đáng chú ý, đến năm 2030, phấn đấu 70% tiện ích, dịch vụ trên VNeID được tích hợp trí tuệ nhân tạo nhằm cá nhân hóa và nâng cao trải nghiệm người dùng; 70% người dùng sử dụng thanh toán không tiền mặt, thanh toán hóa đơn thiết yếu thông qua VNeID; 70% người dùng thường xuyên truy cập và sử dụng các dịch vụ, tiện ích trong hệ sinh thái VNeID. Tầm nhìn đến năm 2045, VNeID tiếp tục được mở rộng hệ sinh thái tiện ích số, nâng cấp hạ tầng công nghệ hiện đại, bảo đảm hoạt động ổn định, an toàn, thông suốt. Mục tiêu đặt ra là 100% tiện ích, dịch vụ được tích hợp trí tuệ nhân tạo; 100% người dùng được trải nghiệm thanh toán không tiền mặt và 90% người dùng thường xuyên sử dụng các tiện ích trong hệ sinh thái VNeID. Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, Đề án đưa ra nhiều nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm. Trong đó, Bộ Công an được giao chủ trì phối hợp với các bộ, ngành, địa phương rà soát, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến định danh và xác thực điện tử, giao dịch điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân và các quy định pháp luật chuyên ngành có liên quan đến việc khai thác, sử dụng VNeID. Bộ Công an cũng sẽ tham mưu Chính phủ trình Quốc hội ban hành Luật Định danh và xác thực điện tử cùng các văn bản hướng dẫn thi hành; trình Chính phủ ban hành Nghị quyết về phát triển công dân số nhằm xác định rõ giá trị pháp lý, điều kiện sử dụng và trách nhiệm của các chủ thể khi sử dụng VNeID trong các giao dịch hành chính, dân sự và thương mại. Song song với hoàn thiện thể chế, Bộ Công an sẽ chủ trì điều chỉnh kiến trúc, nâng cấp tổng thể VNeID giai đoạn 2026 – 2030 theo hướng hiện đại, đồng

Khai trương đôi tàu chuyên dụng phục vụ y, bác sĩ Bệnh viện Bạch Mai làm việc tại Ninh Bình

Sáng nay (26-6), ngành Đường sắt Việt Nam đã chính thức vận hành đôi tàu chuyên dụng, đưa đón đội ngũ y bác sĩ, cán bộ và người lao động của Bệnh viện Bạch Mai di chuyển làm việc giữa cơ sở Hà Nội và cơ sở Ninh Bình (khu vực Phủ Lý cũ). Bệnh viện Bạch Mai cơ sở Ninh Bình có quy mô lên tới 1.000 giường bệnh, được kỳ vọng sẽ giải quyết căn bản tình trạng quá tải cho cơ sở chính ở Hà Nội, đồng thời mang dịch vụ y tế kỹ thuật cao đến gần hơn với người dân khu vực Nam đồng bằng sông Hồng. Để phục vụ nhu cầu đi lại hằng ngày của hơn 500 cán bộ, nhân viên y tế Bệnh viện Bạch Mai, Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam tổ chức đoàn tàu gồm 9 toa xe ghế ngồi mềm, trang bị hệ thống điều hòa không khí và tiện ích, dịch vụ trên tàu, bảo đảm không gian nghỉ ngơi cho đội ngũ nhân viên y tế trong suốt hành trình. Đặc biệt, xe trung chuyển đã được tỉnh Ninh Bình bố trí sẵn tại ga Phủ Lý để đưa đón hai chiều giữa nhà ga và Bệnh viện Bạch Mai cơ sở Ninh Bình, tạo nên một quy trình di chuyển khép kín thuận tiện, an toàn. Trong giai đoạn đầu vận hành, các nhà ga trên tuyến sẽ tăng cường lực lượng nhân viên nhằm hỗ trợ phân luồng hành khách, đảm bảo an toàn, hiệu quả về mặt thời gian cho công tác chuyên môn của các y bác sĩ tại cơ sở Ninh Bình. Cán bộ, nhân viên Bệnh viện Bạch Mai trên chuyến tàu khai trương. Ảnh: VNR   Vượt lên trên ý nghĩa của một phương tiện di chuyển thông thường, sự ra đời của đôi tàu PL1/PL2 không chỉ giúp nâng cao hiệu quả kết nối hạ tầng để phát triển y tế chất lượng cao tới các địa phương, mà còn là lời cam kết của ngành Đường sắt luôn sẵn sàng đồng hành cùng các chiến sĩ áo trắng trên con đường phụng sự nhân dân. Theo lịch trình, tàu sẽ hoạt động đều đặn từ thứ Hai đến thứ Sáu hàng tuần. Chiều đi, tàu PL1 sẽ xuất phát tại ga Hà Nội lúc 6h15, đến ga Phủ Lý lúc 7h22. Chiều ngược lại, tàu PL2 sẽ xuất phát từ ga Phủ Lý lúc 17h20, về đến ga Hà Nội lúc 18h30. Xe trung chuyển được bố trí sẵn tại ga Phủ Lý để đưa đón hai chiều giữa nhà ga và Bệnh viện Bạch Mai cơ sở Ninh Bình.   https://hanoimoi.vn/khai-truong-doi-tau-chuyen-dung-phuc-vu-y-bac-si-benh-vien-bach-mai-lam-viec-tai-ninh-binh-1209205.html

Hà Nội hỗ trợ đến 20 triệu đồng mỗi tháng cho bác sĩ về tuyến dưới

HĐND thành phố Hà Nội vừa thông qua Nghị quyết hỗ trợ nhân viên y tế tuyến trên luân phiên về cơ sở với mức chi thêm từ 6 đến 20 triệu đồng mỗi tháng, áp dụng từ ngày 1/7. Chính sách nằm trong Nghị quyết quy định một số chính sách phát triển hệ thống y tế Thủ đô được HĐND TP Hà Nội thông qua tại kỳ họp chuyên đề hôm 15/6 và có hiệu lực từ ngày 1/7. Đây được xem là động thái khuyến khích đội ngũ chuyên gia, bác sĩ và kỹ thuật viên có giấy phép hành nghề tăng cường hỗ trợ chuyên môn cho tuyến dưới. Theo quy định, mức hỗ trợ căn cứ trực tiếp vào trình độ chuyên môn của người đi luân phiên. Cụ thể, Giáo sư và Phó giáo sư nhận mức cao nhất 20 triệu đồng mỗi tháng. Tiến sĩ và bác sĩ chuyên khoa II hưởng 17 triệu đồng. Nhóm thạc sĩ, bác sĩ nội trú và bác sĩ chuyên khoa I nhận 12 triệu đồng, trong khi các bác sĩ khác hưởng 10 triệu đồng. Đối với điều dưỡng, hộ sinh và kỹ thuật viên y tế, mức hỗ trợ dao động từ 6 đến 8 triệu đồng tùy trình độ cao đẳng hay đại học. Để nhận khoản thù lao này, nhân sự y tế phải thực hiện đợt luân phiên liên tục ít nhất một tháng và hoàn thành đầy đủ thời gian công tác theo kế hoạch. Thành phố kỳ vọng nguồn lực chất lượng cao từ các bệnh viện lớn sẽ giúp nâng cao năng lực khám chữa bệnh cho y tế cơ sở, đồng thời thu hẹp khoảng cách về chất lượng điều trị giữa các tuyến. Bên cạnh chế độ luân phiên, Hà Nội còn áp dụng cơ chế trải thảm đỏ để hút nhân lực về Trung tâm Cấp cứu 115 và các trạm y tế. Người có trình độ từ thạc sĩ, bác sĩ nội trú hoặc chuyên khoa I trở lên khi tuyển dụng lần đầu có thể nhận hỗ trợ một lần lên tới 100 lần mức lương tối thiểu vùng I, đi kèm cam kết làm việc ít nhất 5 năm. Riêng nhân viên tại Trung tâm Cấp cứu 115 được hưởng thêm 5 triệu đồng mỗi tháng nhằm bù đắp áp lực công việc đặc thù. Thành phố cũng cho phép các cơ sở y tế chi từ 500.000 đồng đến 2 triệu đồng cho mỗi buổi mời chuyên gia về đào tạo hoặc chuyển giao kỹ thuật. Hệ thống chính sách này là giải pháp trọng tâm của Thủ đô nhằm giải quyết tình trạng thiếu hụt nhân sự tại các vị trí đặc thù, đồng thời củng cố mạng lưới y tế gần dân nhất trong chiến lược chăm sóc sức khỏe toàn dân. https://vnexpress.net/ha-noi-ho-tro-den-20-trieu-dong-moi-thang-cho-bac-si-ve-tuyen-duoi-5086385.html

Hà Nội: Khẩn trương rà soát, lập danh sách đối tượng khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc miễn phí

Sở Y tế Hà Nội vừa có Công văn khẩn số 5552/SYT-NVY ngày 9/6 gửi UBND các xã, phường về việc hướng dẫn rà soát, lập danh sách đối tượng khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí năm 2026. Đây là bước chuẩn bị quan trọng nhằm triển khai bài bản, khoa học, bảo đảm hiệu quả sử dụng nguồn lực trong khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc miễn phí toàn dân. Chủ động rà soát, tránh bỏ sót đối tượng thụ hưởng chính sách Theo đó, Sở Y tế Hà Nội hướng dẫn các xã, phường tổ chức rà soát, thống kê đối với người dân khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí có đăng ký thường trú hoặc tạm trú từ 12 tháng trở lên trên địa bàn thành phố. Việc lên danh sách đầy đủ các nội dung như sau: tổng số dân trên địa bàn xã, phường; tổng số người thuộc diện khám sức khỏe theo các nhóm, độ tuổi; tổng hợp kết quả khám sức khỏe, khám sàng lọc đã thực hiện trong 6 tháng đầu năm 2026; dự kiến số lượng khám trong 6 tháng cuối năm. Đặc biệt, lưu ý các xã, phường rà soát kỹ, tránh trùng lặp hoặc chồng chéo với các nhóm đối tượng đã được nhà nước hỗ trợ kinh phí khám sức khỏe theo quy định riêng như cán bộ thuộc diện Thành ủy quản lý, người có công với cách mạng và các đối tượng khác đã được hưởng chính sách tương tự. Sau khi rà soát, các địa phương lập danh sách các đối tượng theo mẫu hướng dẫn để làm căn cứ xây dựng kế hoạch tổ chức khám và mời đối tượng tham gia khám theo lịch của địa phương. Hướng dẫn các nhóm đối tượng rà soát Tại phụ lục 1 ban hành kèm theo công văn, Sở Y tế Hà Nội hướng dẫn các địa phương phân loại đối tượng theo 5 nhóm cụ thể: Nhóm 1: Người cao tuổi, người khuyết tật, người thuộc hộ nghèo, cận nghèo, người có công, người mắc bệnh mạn tính, người sống tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, xã đảo, đặc khu sẽ do UBND phường, xã chịu trách nhiệm tổ chức khám. Nhóm 2: Trẻ em trong cơ sở giáo dục mầm non, học sinh trong các cơ sở giáo dục phổ thông do UBND phường, xã phối hợp với cơ sở giáo dục, trạm y tế tổ chức khám, thời gian dự kiến tháng 9/2026. Nhóm 3: Người lao động (nhóm đối tượng có quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động) tiếp tục được người sử dụng lao động chịu trách nhiệm tổ chức khám sức khỏe định kỳ theo quy định của luật lao động. Nhóm 4: Các đối tượng thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quản lý do cơ quan chủ quản chịu trách nhiệm tổ chức khám. Nhóm 5: Các đối tượng không thuộc quy định tại nhóm 1, nhóm 2, nhóm 3, nhóm 4 do UBND phường, xã chịu trách nhiệm tổ chức khám. Hướng dẫn nội dung khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc miễn phí * Nội dung khám sức khỏe định kỳ được xây dựng theo từng nhóm tuổi – Đối với trẻ em dưới 6 tuổi: Thực hiện theo Quyết định số 1284/QĐ-BYT ngày 07/5/2026 của Bộ trưởng Bộ Y tế gồm: các dấu hiệu sinh tồn; đánh giá tình trạng dinh dưỡng; đánh giá sự phát triển tinh thần, vận động; đánh giá tiêm chủng; thăm khám toàn thân và các bộ phận: da, đầu – cổ, mắt, tai mũi họng, răng miệng, hô hấp, tim mạch, bụng và cơ quan sinh dục, cơ xương khớp và thần kinh; trắc nghiệm phát hiện nguy cơ tự kỷ (áp dụng cho trẻ từ 16-30 tháng tuổi). – Đối với người từ đủ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi (trừ các đối tượng đang đi học mầm non, phổ thông): khám đầy đủ các nội dung chuyên khoa lâm sàng theo mẫu số 02, phụ lục số XXIV, Thông tư số 32/2023/TT-BYT, bao gồm: tiền sử bản thân (sản khoa, tiêm chủng), khám thể lực và các chuyên khoa nhi (tuần hoàn, hô hấp, tiêu hoá, thận – tiết niệu, thần kinh, tâm thần), mắt, tai – mũi – họng, răng – hàm – mặt. Các xét nghiệm cận lâm sàng thực hiện khi có chỉ định của bác sĩ hoặc yêu cầu tự nguyện chi trả của người dân, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp hoặc theo tình hình thực tiễn về khả năng hỗ trợ chi trả của địa phương, đơn vị. – Đối với người từ đủ 18 tuổi trở lên: Khám đầy đủ các nội dung chuyên khoa lâm sàng theo mẫu số 03, phụ lục số XXIV ban hành kèm theo Thông tư số 32/2023/TT-BYT, bao gồm tiền sử sản phụ khoa, khám thể lực và các chuyên khoa nội (tuần hoàn, hô hấp, tiêu hoá, thận – tiết niệu, nội tiết, cơ xương khớp, thần kinh, tâm thần), ngoại khoa, da liễu, sản phụ khoa, mắt, tai mũi họng, răng hàm mặt. Các xét nghiệm cận lâm sàng theo mẫu số 01, phụ lục số XXIV ban hành kèm theo Thông tư số 32/2023/TT-BYT, gồm: xét nghiệm máu (công thức máu: số lượng hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu); sinh hóa máu (đường máu, Urê, Creatinin, ASAT (GOT), ALAT (GPT)); xét nghiệm nước tiểu (đường, Protein); chẩn đoán hình ảnh (X.quang tim phổi thẳng). Khi hỏi tiền sử bệnh tật, khám lâm sàng, cận lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh nếu có dấu hiệu tổn thương nghi ngờ mắc bệnh lao, u phổi hay bệnh lý khác sẽ chỉ định thực hiện các xét nghiệm cận lâm sàng chuyên khoa làm

Hiểu rõ “một đầu mối – một xuyên suốt” để thực hiện nghiêm túc, hiệu quả

Trong quản trị hiện đại, hiệu quả của một bộ máy không chỉ được đo bằng số lượng cơ chế, chính sách hay nguồn lực được trao mà quan trọng hơn là năng lực tổ chức thực hiện và trách nhiệm của những người được giao thực thi. Với tinh thần đó, Hà Nội đã xác định phương châm công vụ “6 rõ – 1 xuyên suốt”, trong đó “một đầu mối – một xuyên suốt” có ý nghĩa như “sợi chỉ đỏ” của toàn bộ quá trình lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ. 1. “Một đầu mối – một xuyên suốt” nghĩa là mỗi nhiệm vụ phải có một chủ thể chịu trách nhiệm chính, theo đuổi công việc từ đầu đến cuối, chịu trách nhiệm đến cùng về kết quả thực hiện. Đó không đơn thuần là một quy trình quản lý mà là sự chuyển biến về tư duy cầm quyền, từ quản lý theo thủ tục sang quản trị theo kết quả; từ “cùng chịu trách nhiệm” sang “có người chịu trách nhiệm chính”; từ “làm hết phần việc của mình” sang “làm đến cùng vì mục tiêu chung”. Phương châm này chính là sự cụ thể hóa rõ nhất tinh thần “Hà Nội đã nói là làm – làm nhanh, làm đúng, làm hiệu quả, làm đến cùng”. Thực tiễn triển khai thời gian qua cho thấy, phương châm “6 rõ – 1 xuyên suốt” đã tạo ra những chuyển động tích cực trong hoạt động của hệ thống chính trị Thủ đô. Khi trách nhiệm được xác định rõ ràng, công việc được giao đúng người, đúng đầu mối, tiến độ thực hiện nhiều nhiệm vụ được đẩy nhanh, kỷ luật, kỷ cương hành chính được tăng cường, hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị được cải thiện. Đặc biệt, trong bối cảnh Hà Nội đang vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, yêu cầu về phân cấp, phân quyền mạnh hơn, xử lý công việc nhanh hơn, gần dân hơn, hiệu quả hơn, thì “một đầu mối – một xuyên suốt” càng trở thành điều kiện tiên quyết để bộ máy hoạt động thông suốt. Một mô hình quản trị mới không thể phát huy hiệu quả nếu trách nhiệm bị phân tán, nếu công việc không có người chịu trách nhiệm cuối cùng hoặc bị đẩy từ nơi này sang nơi khác. Chính nhờ đề cao trách nhiệm cá nhân, đề cao tính chủ động của người đứng đầu và xác định rõ đầu mối chịu trách nhiệm, Hà Nội đã tạo thêm động lực mới cho cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy, góp phần khai thác tốt hơn các cơ chế, chính sách đặc thù mà Trung ương dành cho Thủ đô, tạo nền tảng để thành phố phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn mới. Tuy nhiên, nhìn thẳng vào thực tế, việc thực hiện “một đầu mối – một xuyên suốt” vẫn còn những hạn chế, tồn tại đáng suy ngẫm. Ở một số nơi, một số cán bộ, công chức chưa hiểu đầy đủ hoặc thậm chí cố tình không hiểu đúng tinh thần của phương châm này. Vẫn còn hiện tượng tham mưu lòng vòng, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm; có việc thuộc thẩm quyền của mình nhưng không chủ động giải quyết, lại chuyển sang cơ quan khác hoặc xin ý kiến nhiều cấp không cần thiết; việc đáng lẽ phải nhận thì tìm cách “đá bóng”, việc đáng lẽ phải quyết thì tìm cách trì hoãn. Những biểu hiện đó không chỉ làm chậm tiến độ xử lý công việc mà còn gây ra những hệ lụy không đáng có. Một văn bản đi lòng vòng nhiều ngày, một dự án chậm thêm vài tháng, một thủ tục bị kéo dài không chỉ là sự lãng phí về thời gian, nguồn lực mà còn có thể làm mất đi những cơ hội phát triển quý giá. Đối với một đô thị đặc biệt như Hà Nội, cơ hội phát triển nhiều khi có tính thời điểm; sự chậm trễ hôm nay có thể trở thành sự tụt hậu của ngày mai. Đáng lo hơn, tình trạng đùn đẩy, né tránh trách nhiệm nếu không được khắc phục sẽ dần hình thành “văn hóa an toàn trách nhiệm”, nơi người dám làm chịu nhiều áp lực hơn người không làm; nơi không quyết định trở thành cách thức để tránh sai; nơi tinh thần đổi mới, sáng tạo bị triệt tiêu bởi tâm lý sợ trách nhiệm. Khi đó, “một đầu mối – một xuyên suốt” sẽ bị biến dạng, còn “6 rõ” rất dễ rơi vào hình thức. 2. Bởi vậy, điều quan trọng trước hết là phải hiểu đúng để thực hiện nghiêm minh. Cấp ủy, chính quyền các cấp cần tiếp tục quán triệt sâu sắc rằng “một đầu mối – một xuyên suốt” không chỉ là kỹ năng quản trị mà là yêu cầu chính trị, là thước đo bản lĩnh, tinh thần trách nhiệm và năng lực của đội ngũ cán bộ. Mỗi cán bộ phải chuyển từ tư duy “việc này thuộc ai” sang “việc này ai chịu trách nhiệm chính”; từ tâm lý “không sai quy trình” sang yêu cầu “đạt được kết quả cuối cùng”. Điều quan trọng là phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế giao việc theo phương châm “6 rõ” gắn với chế tài nghiêm. Đối với các nhiệm vụ liên ngành, liên cấp, phải xác định cụ thể cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, trách nhiệm của từng đơn vị và trách nhiệm cuối cùng của đầu mối được giao. Không thể để việc chung trở thành “vùng xám trách nhiệm”, nơi ai cũng có trách nhiệm nhưng cuối cùng lại không ai chịu trách nhiệm. Vai trò của người đứng đầu cũng

Ứng dụng AI vào y học cổ truyền đưa y thuật Việt ra thế giới

Từ hỗ trợ chẩn đoán bằng tứ chẩn, lựa chọn huyệt vị đến xây dựng cơ sở dữ liệu bệnh án, trí tuệ nhân tạo đang mở ra những hướng ứng dụng mới cho y học cổ truyền. Lần đầu tiên tại Việt Nam, hơn 400 chuyên gia, nhà khoa học và đại diện các trường đại học, bệnh viện từ nhiều quốc gia đã cùng thảo luận về tương lai của y học cổ truyền dưới góc nhìn của trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn (Big Data). Thông tin từ Hội thảo quốc tế “Ứng dụng Trí tuệ nhân tạo và công nghệ tiên tiến trong Y học cổ truyền” (AITM 2026) do Bệnh viện Châm cứu Trung ương tổ chức ngày 5/6. Hội thảo quy tụ nhiều chuyên gia hàng đầu thế giới trong lĩnh vực châm cứu, y học cổ truyền và công nghệ y tế. Trong bối cảnh AI đang tạo ra những thay đổi mạnh mẽ đối với y học hiện đại, các nhà khoa học cho rằng đây cũng là cơ hội để y học cổ truyền bước sang một giai đoạn phát triển mới, nơi những kinh nghiệm điều trị được chuẩn hóa, số hóa và kiểm chứng bằng dữ liệu khoa học. Từ y học kinh nghiệm đến y học dựa trên dữ liệu Hàng nghìn năm qua, y học cổ truyền phát triển dựa trên kinh nghiệm lâm sàng được tích lũy qua nhiều thế hệ thầy thuốc. Tuy nhiên, việc chuẩn hóa và lượng hóa những tri thức này luôn là bài toán khó. Theo các chuyên gia, đây chính là khoảng trống mà AI có thể tham gia. Theo PGS.TS. Trần Văn Thanh – Giám đốc Bệnh viện Châm cứu Trung ương, đối với y học cổ truyền, trí tuệ nhân tạo và công nghệ tiên tiến sẽ góp phần chuẩn hóa dữ liệu, hỗ trợ nghiên cứu khoa học, nâng cao chất lượng điều trị và mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ y tế cho người dân. “Tuy nhiên, công nghệ không thay thế người thầy thuốc mà là công cụ hỗ trợ để nâng cao năng lực chuyên môn, giảm sai sót, tối ưu hóa quy trình khám chữa bệnh và mang lại hiệu quả tốt hơn cho người bệnh”, PGS Thanh nhấn mạnh. Khẳng định vai trò dẫn dắt của đơn vị đầu ngành châm cứu tại Việt Nam, PGS Thanh nhấn mạnh, là bệnh viện chuyên khoa đầu ngành về châm cứu và phục hồi chức năng, Bệnh viện Châm cứu Trung ương xác định đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là yêu cầu tất yếu để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, tối ưu hóa nguồn lực và đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của nhân dân. Tại hội thảo, nhiều báo cáo tập trung vào các hướng nghiên cứu như xây dựng cơ sở dữ liệu lớn về bệnh án y học cổ truyền, số hóa tứ chẩn, ứng dụng thuật toán AI trong hỗ trợ chẩn đoán, cá thể hóa điều trị và phục dựng tri thức y học cổ truyền bằng công nghệ tạo sinh. Nếu trước đây việc đánh giá thể trạng người bệnh phần lớn dựa vào kinh nghiệm của từng thầy thuốc, thì trong tương lai các hệ thống AI có thể hỗ trợ phân tích triệu chứng, đối chiếu hàng triệu dữ liệu lâm sàng và đưa ra những gợi ý điều trị phù hợp hơn. Nhiều chuyên gia nhận định đây là bước chuyển quan trọng giúp y học cổ truyền tiến gần hơn tới mô hình y học chính xác, nơi mỗi người bệnh có thể được xây dựng phác đồ điều trị riêng dựa trên dữ liệu và đặc điểm cá nhân. Cơ hội đưa y học cổ truyền Việt Nam vươn tầm quốc tế Phát biểu tại hội thảo, Thứ trưởng Thường trực Bộ Y tế Vũ Mạnh Hà cho biết, Đảng và Nhà nước luôn xác định phát triển y học cổ truyền là một trong những nhiệm vụ quan trọng của ngành y tế. Theo ông, những định hướng gần đây của Tổng Bí thư Tô Lâm đã đặt ra yêu cầu phát triển y học cổ truyền trên nền tảng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; từng bước chuẩn hóa, số hóa và hiện đại hóa các giá trị y học dân tộc. “Đây là yêu cầu để biến những giá trị truyền thống thành nguồn lực phát triển mới của đất nước”, Thứ trưởng Vũ Mạnh Hà nhấn mạnh. Theo lãnh đạo Bộ Y tế, nhiều nội dung đặc thù của y học cổ truyền như tứ chẩn, biện chứng luận trị, đánh giá thể trạng, lựa chọn huyệt vị, theo dõi đáp ứng điều trị hay phục hồi chức năng đều có tiềm năng ứng dụng công nghệ rất lớn. Nếu được chuẩn hóa và số hóa bài bản, những tri thức này không chỉ phục vụ khám chữa bệnh trong nước mà còn có thể trở thành nguồn dữ liệu khoa học giá trị cho cộng đồng y học quốc tế. Năm hướng đi để nâng tầm y thuật Việt Tại hội thảo, Thứ trưởng Hà đã đưa ra 5 định hướng trọng tâm cho giai đoạn tới. Thứ nhất, cần xác định rõ mục tiêu cuối cùng của ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong y học cổ truyền là phục vụ người bệnh và cộng đồng. Mọi giải pháp công nghệ phải hướng tới nâng cao chất lượng chẩn đoán, điều trị, phục hồi chức năng, tăng khả năng tiếp cận dịch vụ y tế, giảm chi phí, nâng cao hiệu quả quản lý và đem lại lợi ích thiết thực cho người dân. Thứ hai, đẩy mạnh chuẩn hóa và số hóa tri thức y học cổ truyền. Muốn ứng dụng hiệu quả trí tuệ nhân tạo thì phải

Nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh y học cổ truyền từ chính sách BHYT

Trong bối cảnh định hướng chuyển mạnh sang chăm sóc sức khỏe toàn diện, việc phát huy vai trò y học cổ truyền gắn với hoàn thiện chính sách BHYT được xác định là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ và bảo đảm quyền lợi người dân. Đây là thông tin tại hội nghị nâng cao chất lượng, hiệu quả khám, chữa bệnh (KCB) BHYT trong lĩnh vực y, dược cổ truyền do Bộ Y tế tổ chức chiều ngày 29/5. Khẳng định vị trí quan trọng của y học cổ truyền Phát biểu tại hội nghị, Thứ trưởng Thường trực Bộ Y tế, TS.BS Vũ Mạnh Hà khẳng định: y, dược cổ truyền là bộ phận không thể tách rời của nền y học Việt Nam, được hình thành, kế thừa và phát triển qua nhiều thế hệ. Quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước là phát huy giá trị y học cổ truyền trên cơ sở kết hợp hài hòa với y học hiện đại. Thời gian qua, nhiều chủ trương, chính sách lớn đã được ban hành nhằm thúc đẩy phát triển lĩnh vực này, như Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị và Chỉ thị số 25/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Các văn bản đều nhấn mạnh yêu cầu tăng cường quản lý nhà nước; nâng cao năng lực hệ thống; phát triển nguồn dược liệu; đẩy mạnh kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại trong đào tạo, phòng bệnh và khám, chữa bệnh; đồng thời đưa các giá trị y học cổ truyền đến gần hơn với cộng đồng. Những năm gần đây, mạng lưới khám, chữa bệnh y học cổ truyền tiếp tục được củng cố và phát triển. Hiện cả nước có 5 bệnh viện y học cổ truyền trực thuộc Bộ và các bộ, ngành; 61 bệnh viện tuyến tỉnh và 10 bệnh viện tư nhân. Năm 2025, tỷ lệ khám, chữa bệnh bằng y học cổ truyền đạt khoảng 3,3% tổng số lượt khám, tương đương khoảng 7 triệu lượt. Đáng chú ý, tại buổi làm việc ngày 20/5/2026 với Đảng ủy Bộ Y tế và các cơ quan liên quan, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy chữa bệnh sang chăm sóc sức khỏe toàn diện; phát huy vai trò y học cổ truyền trong phòng bệnh, phục hồi chức năng, chăm sóc người cao tuổi, đưa y học cổ truyền thực sự đến gần hơn với người dân. Trong đó, việc tích hợp các dịch vụ kỹ thuật và bài thuốc cổ truyền chính thống vào danh mục chi trả của BHYT được xác định là giải pháp quan trọng. Đây là định hướng có ý nghĩa chiến lược, vừa góp phần bảo tồn, phát huy giá trị truyền thống, vừa thúc đẩy nghiên cứu, chuẩn hóa và hiện đại hóa lĩnh vực y, dược cổ truyền. Cùng với đó, chính sách BHYT đối với lĩnh vực y, dược cổ truyền đang từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở quan trọng để nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ của người dân. Hiện danh mục thanh toán BHYT đã bao gồm 229 thuốc đông y, thuốc từ dược liệu và 349 vị thuốc cổ truyền. Bảo đảm sử dụng hiệu quả Quỹ BHYT, nâng cao chất lượng y học cổ truyền Tại hội nghị, Thứ trưởng đề nghị các đơn vị đánh giá toàn diện thực trạng hệ thống KCB BHYT trong lĩnh vực y, dược cổ truyền; làm rõ những kết quả đạt được, khó khăn, vướng mắc, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng chuyên môn, chất lượng phục vụ và hiệu quả sử dụng Quỹ BHYT. Trọng tâm là tăng cường kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại; hoàn thiện cơ chế đăng ký KCB ban đầu tại các cơ sở y học cổ truyền phù hợp với năng lực chuyên môn và nhu cầu thực tiễn; xây dựng danh mục bệnh, nhóm bệnh được tiếp cận cơ sở chuyên sâu bảo đảm quyền lợi người bệnh. Cùng với đó, cần tiếp tục rà soát, cập nhật các quy định về dịch vụ kỹ thuật, thuốc y học cổ truyền và cơ chế thanh toán BHYT theo hướng khoa học, khả thi; bảo đảm cân đối Quỹ BHYT và đáp ứng yêu cầu phát triển. Việc đổi mới chính sách BHYT đối với y học cổ truyền cần gắn với xu hướng chuyển mạnh sang phòng bệnh, chăm sóc sức khỏe từ sớm, từ xa; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và liên thông dữ liệu trong quản lý, điều hành. Theo ThS Trần Thị Trang, Vụ trưởng Vụ BHYT (Bộ Y tế), Chương trình phát triển y, dược cổ truyền đến năm 2030 đặt mục tiêu nâng tỷ lệ chi trả thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền trong tổng chi phí thuốc từ Quỹ BHYT lên tối thiểu 20% vào năm 2025 và 30% vào năm 2030. Tuy nhiên, thực tế cho thấy tỷ trọng chi cho thuốc y học cổ truyền còn khiêm tốn trong số chi quy BHYT. Năm 2024, con số này mới đạt 5,42%, tương đương hơn 3.100 tỷ đồng. Trong khi đó, nguồn dược liệu trong nước rất phong phú, nhiều bài thuốc đã được nghiên cứu, thử nghiệm lâm sàng bài bản. Điều này đặt ra yêu cầu cần có chính sách chi trả hợp lý, tạo động lực phát triển, đồng thời khẳng định đúng vị trí của y học cổ truyền trong hệ thống y tế, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân./. https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/linh-vuc-bao-hiem-y-te.aspx?ItemID=26611&CateID=169

Bộ Y tế ban hành tài liệu chuyên môn hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh do virus Ebola

Trước diễn biến phức tạp của dịch Ebola tại châu Phi và nguy cơ xâm nhập vào Việt Nam, ngày 25-5, Bộ Y tế đã khẩn trương cập nhật, ban hành Quyết định số 1505/QĐ-BYT Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh do virus Ebola năm 2026 với nhiều điểm mới quan trọng. Quyết định này thay thế Quyết định số 2968/QĐ-BYT ngày 8-8-2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh do virus Ebola. Việc ban hành Hướng dẫn năm 2026 có ý nghĩa chiến lược, không chỉ tăng cường năng lực phát hiện sớm, chẩn đoán chính xác và nâng cao tỷ lệ cứu sống người bệnh, mà còn đảm bảo môi trường an toàn tối đa cho đội ngũ nhân viên y tế và cộng đồng. Sự ra đời của phác đồ này khẳng định năng lực hội nhập và sự sẵn sàng của ngành y tế Việt Nam trước các thách thức an ninh y tế toàn cầu. Theo thông tin từ Tổ chức Y tế thế giới (WHO) từ ngày 5-5 đến 20-5-2026, tại Cộng hòa Dân chủ Congo và Uganda đã ghi nhận 600 ca nghi ngờ mắc Ebola, trong đó có 139 ca tử vong; hơn 50 ca được chẩn đoán xác định nhiễm Bundibugyo, một trong 6 chủng của virus Ebola. Ngày 17-5-2026, WHO công bố dịch bệnh Ebola do chủng Bundibugyo tại Congo và Uganda là sự kiện y tế công cộng khẩn cấp gây quan ngại quốc tế. Trước nguy cơ bệnh do virus Ebola xâm nhập vào Việt Nam, thực hiện chỉ đạo của lãnh đạo Bộ Y tế, Cục Quản lý Khám, chữa bệnh đã tổ chức họp Hội đồng chuyên môn ngày 22-5-2026 để cập nhật hướng dẫn quốc gia về chẩn đoán và điều trị bệnh do virus Ebola. Tại hướng dẫn cập nhật này một số nội dung pháp lý được thay đổi. Đồng thời, cập nhật thêm nhiều điểm mới, như tác nhân gây bệnh: Bổ sung 6 chủng, thêm Bombali ebolavirus (phát hiện 2018). Nhấn mạnh loài Zaire là loài duy nhất hiện có vaccine và thuốc đặc hiệu. Về phương pháp xét nghiệm: Bổ sung các kỹ thuật dùng trong phát hiện virus gây bệnh: Test nhanh tìm kháng nguyên/kháng thể để sàng lọc. Xác định rõ RT-PCR là tiêu chuẩn vàng. Bổ sung phương pháp giải trình tự gen. Đối với tiêu chuẩn chẩn đoán ca nghi ngờ, Hướng dẫn cập nhật tiêu chuẩn chẩn đoán ca bệnh nghi ngờ, trong đó các thông tin triệu chứng lâm sàng được lượng hóa chi tiết giúp dễ xác định hơn: Bắt buộc có sốt 38°C, ít nhất 1 triệu chứng đặc hiệu và có yếu tố dịch tễ trong vòng 21 ngày. Về điều trị, Hướng dẫn mới bổ sung các biện pháp điều trị hỗ trợ dinh dưỡng, tâm lý cho người bệnh. Đặc biệt lưu ý điều trị theo dõi cho người cao tuổi, suy giảm miễn dịch và trẻ em. Bổ sung các kháng thể đơn dòng (Inmazeb, Ebanga) áp dụng cho chủng Zaire. Không có chống chỉ định do rủi ro sinh mạng vượt qua rủi ro tác dụng phụ. Với vaccine phòng bệnh, Hướng dẫn đã cập nhật vaccine Ervebo (rVSV-ZEBOV) đã được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) và Tổ chức Y tế thế giới (WHO) phê duyệt năm 2019 để phòng ngừa chủng Zaire. Hướng dẫn cũng bổ sung quy định khắt khe quản lý người tiếp xúc gần là không được cho bú sữa mẹ, hiến máu, mô, tạng, tinh dịch trong vòng 21 ngày kể từ lần tiếp xúc cuối với các trường hợp tiếp xúc gần. Về quản lý sau xuất viện: Bắt buộc bệnh viện phải thông báo cho CDC địa phương để quản lý ca bệnh sau xuất viện. Đối với xử lý tử thi: Bắt buộc hỏa táng theo hướng dẫn tại Thông tư số 21/2021/TT-BYT về quản lý bệnh truyền nhiễm nhóm A theo quy định Luật. Bộ Y tế khẳng định sẽ tiếp tục theo dõi sát sao tình hình dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trên thế giới. Yêu cầu các Sở Y tế, các bệnh viện tuyến Trung ương và cơ sở khám, chữa bệnh trên toàn quốc khẩn trương tổ chức phổ biến, tập huấn và chuẩn bị sẵn sàng các phương án triển khai nghiêm túc Hướng dẫn chuyên môn mới này. Phía đại diện Cục Phòng bệnh cũng đang thực hiện cập nhật hướng dẫn giám sát, phòng chống bệnh do virus Ebola. Bệnh do virus Ebola là một bệnh truyền nhiễm cấp tính, có thể bùng phát thành dịch. Bệnh lây truyền do tiếp xúc trực tiếp với mô, máu và dịch cơ thể (phân, nước tiểu, nước bọt, tinh dịch) của động vật hoặc người nhiễm bệnh. Virus có thể lây truyền do tiếp xúc với các đồ dùng của người bị nhiễm bệnh như quần áo, chăn, kim tiêm đã sử dụng. Bệnh có biểu hiện lâm sàng nghiêm trọng, thường có hội chứng xuất huyết và suy đa tạng, tỉ lệ tử vong trung bình 50% (dao động từ 25% đến 90%). https://www.qdnd.vn/y-te/cac-van-de/bo-y-te-ban-hanh-tai-lieu-chuyen-mon-huong-dan-chan-doan-va-dieu-tri-benh-do-virus-ebola-1041234

Đặt Lịch Khám

    Đặt Lịch Khám