BỆNH VIỆC BẮC THĂNG LONG
BẮC THĂNG LONG HOSPITAL

(84-24).0889.615.815

Email: bvbtl@hanoi.gov.vn

BỆNH VIỆC BẮC THĂNG LONG
BẮC THĂNG LONG HOSPITAL

PHÁP LUẬT - ĐỜI SỐNG

Pháp luật - Đời sống

Cảnh báo giả mạo ứng dụng VssID chứa mã độc chiếm đoạt thông tin, tài sản của người dùng

Bảo hiểm xã hội Việt Nam vừa phát hiện một ứng dụng giả mạo có tên “VSSID.apk” chứa mã độc có khả năng chiếm quyền điều khiển điện thoại của người dùng. Đây là một kiểu lừa đảo mới rất nguy hiểm, nhắm vào người dùng ứng dụng VssID – BHXH số. https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/chuyen-doi-so.aspx?ItemID=26544&CateID=176

Bộ Nội vụ ban hành Thông tư hướng dẫn thực hiện hợp đồng lao động điện tử từ ngày 01/7/2026

Bộ Nội vụ vừa ban hành Thông tư số 08/2026/TT-BNV ngày 15/5/2026 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 337/2025/NĐ-CP của Chính phủ về hợp đồng lao động điện tử. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/7/2026. Thông tư quy định cụ thể về việc cấp mã định danh hợp đồng lao động điện tử (ID); cấp, khóa, mở khóa tài khoản truy cập Nền tảng hợp đồng lao động điện tử; kết nối giữa các nhà cung cấp eContract với nền tảng; quản lý, khai thác, lưu trữ và chia sẻ dữ liệu liên quan đến hợp đồng lao động điện tử. Theo quy định, mỗi hợp đồng lao động điện tử sau khi được gửi về Nền tảng hợp đồng lao động điện tử và đáp ứng đầy đủ điều kiện sẽ được cấp một mã định danh (ID) duy nhất, không trùng lặp. ID được cấp một lần và không thay đổi trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng, kể cả khi hợp đồng được sửa đổi, bổ sung, tạm hoãn hoặc chấm dứt. Thông tư cũng quy định cấu trúc ID gồm 1 ký tự chữ và 12 ký tự số. Trong đó, ký tự “A” áp dụng với hợp đồng lao động điện tử giao kết từ ngày 01/7/2026 thông qua eContract đủ điều kiện; ký tự “B” áp dụng với hợp đồng được chuyển đổi từ bản giấy; ký tự “C” áp dụng với hợp đồng điện tử được giao kết trước ngày 01/7/2026. Đáng chú ý, kể từ ngày 01/7/2026, tất cả hợp đồng lao động điện tử sau khi giao kết đều phải được gửi về Nền tảng hợp đồng lao động điện tử để cấp ID theo quy định. Việc cấp ID được thực hiện tự động thông qua hệ thống thông tin của nền tảng trong vòng 24 giờ kể từ thời điểm tiếp nhận hồ sơ hợp lệ. Thông tư cũng đặt ra yêu cầu chặt chẽ về xác thực danh tính, chữ ký số, dấu thời gian và chứng thực thông điệp dữ liệu đối với các hợp đồng lao động điện tử. Trường hợp hợp đồng không đáp ứng các điều kiện theo quy định sẽ không được cấp ID và hệ thống tự động thông báo lý do từ chối. Đối với người lao động và người sử dụng lao động, việc truy cập Nền tảng hợp đồng lao động điện tử được thực hiện thông qua tài khoản định danh điện tử quốc gia (VNeID). Người lao động sử dụng tài khoản định danh cá nhân; người sử dụng lao động là tổ chức sử dụng tài khoản định danh điện tử tổ chức. Thông tư cũng quy định cụ thể quy trình kết nối giữa các nhà cung cấp eContract với Nền tảng hợp đồng lao động điện tử. Theo đó, nhà cung cấp phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện kỹ thuật, an toàn thông tin, bảo mật dữ liệu và hoàn thành thủ tục đăng ký kết nối với Bộ Nội vụ. Để bảo đảm an toàn dữ liệu, Thông tư yêu cầu toàn bộ hoạt động kết nối, khai thác, chia sẻ dữ liệu phải tuân thủ quy định của pháp luật về dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân, an ninh mạng và lưu trữ. Mọi hoạt động truy cập, chia sẻ hoặc xuất dữ liệu đều phải được ghi nhận, giám sát và có khả năng truy vết. Một nội dung đáng chú ý khác là dữ liệu hợp đồng lao động điện tử sẽ được lưu trữ tối thiểu 10 năm kể từ ngày hợp đồng chấm dứt. Trong trường hợp người lao động và người sử dụng lao động giao kết nhiều hợp đồng liên tiếp thì thời hạn lưu trữ được tính từ ngày chấm dứt hợp đồng cuối cùng. Thông tư cũng quy định trách nhiệm báo cáo của nhà cung cấp Contract, người sử dụng lao động, Sở Nội vụ và Ban quản lý khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất thông qua Nền tảng hợp đồng lao động điện tử nhằm phục vụ công tác quản lý lao động, kết nối dữ liệu và thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực lao động. Việc ban hành Thông tư số 08/2026/TT-BNV được kỳ vọng sẽ tạo hành lang pháp lý đồng bộ cho việc triển khai hợp đồng lao động điện tử trên phạm vi toàn quốc, góp phần hiện đại hóa quản lý lao động, nâng cao tính minh bạch, an toàn dữ liệu và thúc đẩy chuyển đổi số trong quan hệ lao động./. https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/chuyen-doi-so.aspx?ItemID=26578&CateID=176 TOÀN VĂN Thông tư 08/2026/TT-BNV hướng dẫn Nghị định 337/2025/NĐ-CP về hợp đồng lao động điện tử

Chính thức: Tăng lương cơ sở lên 2.530.000 đồng/tháng từ 01/7/2026

Chính phủ ban hành Nghị định số 161/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 quy định mức lương cơ sở và chế độ tiền thưởng đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang. Theo đó, mức lương cơ sở sẽ tăng lên 2.530.000 đồng/tháng kể từ ngày 01/7/2026. Nghị định này quy định mức lương cơ sở áp dụng đối với người hưởng lương, phụ cấp và chế độ tiền thưởng áp dụng đối với người hưởng lương làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị – xã hội trực thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức xã hội thực hiện các nhiệm vụ được nhà nước giao (sau đây gọi chung là cơ quan, đơn vị) ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở xã, phường, đặc khu trực thuộc cấp tỉnh (sau đây gọi chung là cấp xã), ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt và lực lượng vũ trang. Đối tượng áp dụng 1. Người hưởng lương, phụ cấp áp dụng mức lương cơ sở bao gồm: a) Cán bộ, công chức từ trung ương đến cấp xã quy định tại Điều 1 Luật Cán bộ, công chức; b) Viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập quy định tại Điều 1 Luật Viên chức; c) Người làm các công việc theo chế độ hợp đồng lao động trong cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập quy định tại Nghị định của Chính phủ thuộc trường hợp được áp dụng hoặc có thỏa thuận trong hợp đồng lao động áp dụng xếp lương theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang; d) Người làm việc trong chỉ tiêu biên chế tại các hội được ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí hoạt động theo quy định tại Nghị định số 126/2024/NĐ-CP ngày 08/10/2024 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội; đ) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng, công chức quốc phòng và lao động hợp đồng thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; e) Sĩ quan, hạ sĩ quan hưởng lương, công nhân công an và lao động hợp đồng thuộc Công an nhân dân; g) Người làm việc trong tổ chức cơ yếu; h) Hạ sĩ quan và binh sĩ thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; hạ sĩ quan và chiến sĩ nghĩa vụ thuộc Công an nhân dân; i) Người hoạt động không chuyên trách ở thôn và tổ dân phố. 2. Người hưởng lương quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e và g nêu trên (không bao gồm đối tượng hưởng phụ cấp, sinh hoạt phí) thuộc đối tượng áp dụng chế độ tiền thưởng. Nghị định quy định mức lương cơ sở dùng làm căn cứ: a) Tính mức lương trong các bảng lương, mức phụ cấp và thực hiện các chế độ khác theo quy định của pháp luật đối với các đối tượng quy định tại Điều 2 Nghị định này; b) Tính mức hoạt động phí, sinh hoạt phí theo quy định của pháp luật; c) Tính các khoản trích và các chế độ được hưởng theo mức lương cơ sở. Từ ngày 01/7/2026, mức lương cơ sở là 2.530.000 đồng/tháng. Đối với các cơ quan, đơn vị đang được áp dụng các cơ chế tài chính, thu nhập đặc thù ở trung ương, theo điểm c khoản 6.2 Nghị quyết số 142/2024/QH15 ngày 29/6/2024 của kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XV thì: Thực hiện bảo lưu phần chênh lệch giữa tiền lương và thu nhập tăng thêm tháng 6/2026 của cán bộ, công chức, viên chức với tiền lương từ ngày 01/7/2026 sau khi sửa đổi hoặc bãi bỏ cơ chế tài chính và thu nhập đặc thù. Trong thời gian chưa sửa đổi hoặc bãi bỏ các cơ chế này thì thực hiện mức tiền lương và thu nhập tăng thêm hằng tháng tính theo mức lương cơ sở 2.530.000 đồng/tháng theo cơ chế đặc thù từ ngày 01/7/2026 bảo đảm không vượt quá mức tiền lương và thu nhập tăng thêm được hưởng tháng 6/2026 (không bao gồm phần tiền lương và thu nhập tăng thêm do điều chỉnh hệ số tiền lương ngạch, bậc khi nâng ngạch, nâng bậc). Đối với các cơ quan, đơn vị đang bảo lưu phần chênh lệch giữa tiền lương và thu nhập tăng thêm tháng 6/2024 với tiền lương từ ngày 01/7/2024 do sửa đổi hoặc bãi bỏ cơ chế tài chính và thu nhập đặc thù thì thực hiện giảm phần chênh lệch bảo lưu tương ứng với tỷ lệ tăng lương cơ sở từ ngày 01/7/2026. Trường hợp tính theo nguyên tắc trên, nếu mức tiền lương và thu nhập tăng thêm từ ngày 01/7/2026 thấp hơn mức tiền lương theo quy định chung thì thực hiện chế độ tiền lương theo quy định chung. Chính phủ điều chỉnh mức lương cơ sở sau khi báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định phù hợp khả năng ngân sách nhà nước, chỉ số giá tiêu dùng và tốc độ tăng trưởng kinh tế của đất nước. Chế độ tiền thưởng Nghị định quy định chế độ tiền thưởng được thực hiện trên cơ sở thành tích công tác đột xuất và kết quả theo dõi, đánh giá, xếp loại chất lượng hằng năm đối với các đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị định này. Chế độ tiền thưởng được dùng để thưởng đột xuất theo thành tích công tác và thưởng định kỳ hằng năm căn cứ theo

Tăng 8% lương hưu và trợ cấp từ ngày 01/7/2026

Từ ngày 01/7/2026, theo Nghị định 162/2026/NĐ-CP, mức lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội sẽ tăng thêm 8%. Đặc biệt, Chính phủ nâng mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng lên 3,8 triệu đồng/tháng đối với một số trường hợp có mức hưởng thấp sau khi tăng chung. 09 nhóm đối tượng áp dụng Nghị định này điều chỉnh mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng đối với các đối tượng hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng trước ngày 01/7/2026, bao gồm (*): a) Cán bộ, công chức, công nhân, viên chức và người lao động (kể cả người có thời gian tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, người nghỉ hưu từ quỹ bảo hiểm xã hội nông dân Nghệ An chuyển sang theo Quyết định số 41/2009/QĐ-TTg về việc chuyển bảo hiểm xã hội nông dân Nghệ An sang bảo hiểm xã hội tự nguyện); quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu đang hưởng lương hưu hằng tháng. b) Cán bộ xã, phường, thị trấn quy định tại Nghị định số 33/2023/NĐ-CP quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố, Nghị định số 34/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố, Nghị định số 92/2009/NĐ-CP về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, Nghị định số 121/2003/NĐ-CP về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và Nghị định số 09/1998/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 50/CP ngày 26/7/1995 của Chính phủ về chế độ sinh hoạt phí đối với cán bộ xã, phường, thị trấn đang hưởng lương hưu, trợ cấp hằng tháng. c) Người đang hưởng trợ cấp mất sức lao động hằng tháng theo quy định của pháp luật; người đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 91/2000/QĐ-TTg về việc trợ cấp cho những người đã hết tuổi lao động tại thời điểm ngừng hưởng trợ cấp mất sức lao động hằng tháng, Quyết định số 613/QĐ-TTg ngày 06/5/2010 về việc trợ cấp hằng tháng cho những người có từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm công tác thực tế đã hết thời hạn hưởng trợ cấp mất sức lao động; công nhân cao su đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 206-CP ngày 30/5/1979 của Hội đồng Chính phủ về chính sách đối với công nhân mới giải phóng làm nghề nặng nhọc, có hại sức khỏe nay già yếu phải thôi việc. d) Cán bộ xã, phường, thị trấn đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 130-CP ngày 20/6/1975 của Hội đồng Chính phủ bổ sung chính sách, chế độ đãi ngộ đối với cán bộ xã và Quyết định số 111-HĐBT ngày 13/10/1981 của Hội đồng Bộ trưởng về việc sửa đổi, bổ sung một số chính sách, chế độ đối với cán bộ xã, phường. đ) Quân nhân đang hưởng chế độ trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg về thực hiện chế độ đối với quân nhân tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước có dưới 20 năm công tác trong quân đội đã phục viên, xuất ngũ về địa phương, được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định số 38/2010/QĐ-TTg và Quyết định số 22/2025/QĐ-TTg. e) Công an nhân dân đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 53/2010/QĐ-TTg quy định về chế độ đối với cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân tham gia kháng chiến chống Mỹ có dưới 20 năm công tác trong Công an nhân dân đã thôi việc, xuất ngũ về địa phương. g) Quân nhân, công an nhân dân, người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân, công an nhân dân đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg về chế độ, chính sách đối với đối tượng tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, giúp bạn Lào sau ngày 30/4/1975 đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc, được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định số 22/2025/QĐ-TTg. h) Người đang hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng. i) Người đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo quy định tại Điều 23 của Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15. Các đối tượng quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e và g nêu trên nghỉ hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng trước ngày 01/01/1995 (bao gồm những người đã nghỉ hưởng trợ cấp mất sức lao động trước ngày 01/01/1995, sau đó được tiếp tục hưởng trợ cấp theo Quyết định số 91/2000/QĐ-TTg và Quyết định số 613/QĐ-TTg), sau khi thực hiện điều chỉnh có mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng thấp hơn 3.800.000 đồng/tháng (**). Thời điểm và mức điều chỉnh Từ ngày 01/7/2026, điều chỉnh tăng thêm 8% trên mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng của tháng 6/2026 đối với các đối tượng quy định tại (*). Từ ngày 01/7/2026, người đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng theo quy định tại (**), sau khi điều chỉnh, có mức hưởng thấp hơn 3.800.000 đồng/tháng thì được điều chỉnh như sau: Tăng thêm 300.000 đồng/người/tháng đối với những người có mức hưởng bằng hoặc thấp hơn 3.500.000

Tất cả người dân khi đi bệnh viện chú ý quy định phạt tới 80 triệu đồng từ 15/5

Nhằm tăng cường bảo vệ an toàn cho đội ngũ y bác sĩ, Nghị định 90/2026/NĐ-CP đã đưa ra những chế tài tài chính rất nặng đối với các hành vi xâm phạm sức khỏe, danh dự của người hành nghề tại các cơ sở y tế. Quy định xử phạt nghiêm khắc Theo điểm g, khoản 7, Điều 38 của Nghị định này, kể từ ngày 15/5/2026, mọi hành vi xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, hoặc xúc phạm nhân phẩm, danh dự của bác sĩ, điều dưỡng và những người làm việc tại cơ sở khám chữa bệnh sẽ bị xử phạt hành chính ở khung cao nhất. Ngoài ra, hành vi phá hoại tài sản của bệnh viện cũng nằm trong diện bị xử lý theo khung phạt này. Các hành vi khác cũng bị xử lý nặng Nghị định 90/2026 cũng quy định mức phạt từ 30 đến 40 triệu đồng (đối với cá nhân) cho các vi phạm khác trong hoạt động khám chữa bệnh: Từ chối cấp cứu: Cố tình chậm trễ hoặc không tiếp nhận cấp cứu cho bệnh nhân khi không có lý do chính đáng theo luật định. Thông tin sai lệch: Đăng tải các nội dung mang tính quy kết trách nhiệm cho bác sĩ hoặc bệnh viện khi xảy ra sự cố y khoa mà chưa có kết luận chính thức từ cơ quan chức năng. Quy định mới này được ban hành trong bối cảnh nhiều vụ việc đau lòng đã xảy ra, điển hình như trường hợp một nam điều dưỡng tại huyện Thanh Ba (Phú Thọ) từng bị người nhà bệnh nhi hành hung ngay trong khi đang nỗ lực cấp cứu ngừng tuần hoàn cho bệnh nhân. Chế tài mới được kỳ vọng sẽ trở thành “lá chắn” hiệu quả, giúp đội ngũ y tế yên tâm công tác và đảm bảo môi trường bệnh viện an toàn, văn minh. https://soha.vn/tat-ca-nguoi-dan-khi-di-benh-vien-chu-y-quy-dinh-phat-toi-80-trieu-dong-tu-15-5-198260512235929091.htm

Hà Nội: Phí sử dụng tạm thời lòng đường, hè phố cao nhất 400.000 đồng/m2/tháng

Phí sử dụng tạm thời lòng đường, hè phố tại Hà Nội để trông giữ xe ô tô cao nhất 400.000 đồng/m2/tháng; trông giữ xe đạp, xe máy cao nhất 220.000 đồng/m2/tháng. Sáng 11-5, tại kỳ họp thứ hai (kỳ họp chuyên đề), HĐND thành phố Hà Nội khóa XVII đã thông qua Nghị quyết sửa đổi, bổ sung quy định về phí sử dụng tạm thời lòng đường, hè phố tại Nghị quyết số 06/2020/NQ-HĐND ngày 7-7-2020 của HĐND thành phố về việc ban hành một số quy định thu phí, lệ phí trên địa bàn thành phố Hà Nội. Đại biểu HĐND thành phố Hà Nội biểu quyết thông qua nội dung tại kỳ họp. Ảnh: Quang Thái Cụ thể, Nghị quyết sửa đổi, bổ sung quy định sử dụng tạm thời lòng đường, hè phố (vỉa hè) để trông giữ xe ô tô, đối với các đường, phố nằm trong đường Vành đai I và trên đường Vành đai I gồm các tuyến phố cần hạn chế, khu vực đô thị lõi (khu bảo tồn cấp I): Nguyễn Xí, Đinh Lễ, Lý Thái Tổ, Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt; Hai Bà Trưng, Hàng Đường, Hàng Đào, Hàng Ngang, Hàng Giấy, Phủ Doãn, Quán Sứ là 400.000 đồng/m2/tháng. Các tuyến đường, phố còn lại nằm trong đường Vành đai I và trên đường Vành đai I (trừ khu vực đô thị lõi) là 360.000 đồng/m2/tháng. Các đường, phố từ phạm vi từ ngoài đường Vành đai I đến phạm vi nằm trong đường Vành đai II và trên đường Vành đai II là 160.000 đồng/m2/tháng. Các đường, phố nằm từ phạm vi từ ngoài đường Vành đai II đến phạm vi trong đường Vành đai III và trên đường Vành đai III là 120.000 đồng/m2/tháng. Các đường, phố nằm từ phạm vi từ đường ngoài Vành đai III đến phạm vi trong đường Vành đai IV và trên đường Vành đai IV là 90.000 đồng/m2/tháng. Phường Sơn Tây, phường Tùng Thiện, xã Đoài Phương (thị xã Sơn Tây cũ) là 40.000 đồng/m2/tháng. Các đường, phố còn lại là 30.000 đồng/m2/tháng. Về sử dụng tạm thời lòng đường, hè phố (vỉa hè) để trông giữ xe đạp, xe máy, đối với các đường, phố nằm trong đường Vành đai I và trên đường Vành đai I gồm các tuyến phố cần hạn chế, khu vực đô thị lõi (khu bảo tồn cấp I): Nguyễn Xí, Đinh Lễ, Lý Thái Tổ, Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt; Hai Bà Trưng, Hàng Đường, Hàng Đào, Hàng Ngang, Hàng Giấy, Phủ Doãn, Quán Sứ là 220.000 đồng/m2/tháng. Các tuyến đường, phố còn lại nằm trong đường Vành đai I và trên đường Vành đai I (trừ khu vực đô thị lõi) là 180.000 đồng/m2/tháng. Các đường, phố từ phạm vi từ ngoài đường Vành đai I đến phạm vi nằm trong đường Vành đai II và trên đường Vành đai II là 120.000 đồng/m2/tháng. Các đường, phố nằm từ phạm vi từ ngoài đường Vành đai II đến phạm vi trong đường Vành đai III và trên đường Vành đai III là 90.000 đồng/m2/tháng. Các đường, phố nằm từ phạm vi từ ngoài đường Vành đai III đến phạm vi trong đường Vành đai IV và trên đường Vành đai IV là 50.000 đồng/m2/tháng. Phường Sơn Tây, phường Tùng Thiện, xã Đoài Phương (Thị xã Sơn Tây cũ) là 40.000 đồng/m2/tháng Các đường, phố còn lại là 30.000 đồng/m2/tháng. https://hanoimoi.vn/ha-noi-phi-su-dung-tam-thoi-long-duong-he-pho-cao-nhat-400-000-dong-m2-thang-749347.html

Luật Thủ đô năm 2026: Thí điểm cơ chế, chính sách mới

Một trong những điểm nổi bật của Luật Thủ đô năm 2026 là tư duy chuyển từ “thực thi chính sách” sang “thiết kế chính sách”, tạo điều kiện để Hà Nội chủ động xử lý các vấn đề thực tiễn phát sinh; trong đó có quy định mới về thí điểm cơ chế, chính sách. Mô hình mới về tổ chức bộ máy các cấp Đây là bước phân cấp rất lớn, thể hiện sự tin tưởng của Trung ương, đồng thời cũng đặt ra yêu cầu cao về trách nhiệm, năng lực tổ chức thực hiện của chính quyền Thủ đô. Tuy nhiên, trao quyền đi đôi với kiểm soát quyền lực. Điều 9 Luật Thủ đô năm 2026 quy định về thí điểm cơ chế, chính sách, cụ thể: Thành phố được quyết định thí điểm cơ chế, chính sách mới, khác với luật, nghị quyết của Quốc hội hoặc đối với những vấn đề chưa được pháp luật quy định để áp dụng tại thành phố Hà Nội; không thực hiện thí điểm cơ chế, chính sách trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại quốc gia, tôn giáo và lĩnh vực khác liên quan trực tiếp đến chủ quyền quốc gia theo quy định của pháp luật. Về phạm vi thí điểm cơ chế, chính sách bao gồm: Mô hình mới về tổ chức bộ máy các cấp chính quyền của thành phố, mô hình quản trị, kiến tạo tiên tiến, hiện đại; chế độ công vụ, công chức; mô hình kinh tế mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, giáo dục, đào tạo, văn hóa, y tế và chăm sóc sức khỏe; mô hình nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp đô thị; mô hình quản lý đô thị, nông thôn, không gian và phát triển bền vững; phương thức khai thác, huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực để phát triển và quản trị Thủ đô; giải pháp xử lý các vấn đề ảnh hưởng nghiêm trọng, trực tiếp đến chất lượng sống của người dân hoặc sự phát triển kinh tế – xã hội của Thủ đô; cơ chế, chính sách khác theo chỉ đạo của cấp có thẩm quyền. Trên cơ sở chấp thuận của cấp có thẩm quyền, HĐND thành phố ban hành nghị quyết thí điểm cơ chế, chính sách; trong đó, xác định rõ mục tiêu, phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian, không gian, địa bàn thí điểm; dự kiến kết quả, tác động của thí điểm; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; biện pháp quản trị rủi ro; cơ chế kiểm soát, giám sát, đánh giá; điều kiện, trình tự điều chỉnh, gia hạn hoặc chấm dứt việc thí điểm. Thử nghiệm các mô hình quản trị và phát triển mới Về quy định này, luật sư Nguyễn Minh Long (Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội) nhấn mạnh, luật giao quyền cho Thủ đô được thí điểm cơ chế, chính sách khác luật, nghị quyết của Quốc hội hoặc chưa được pháp luật quy định để áp dụng trong phạm vi Thủ đô và Vùng Thủ đô nhằm tạo không gian thể chế linh hoạt, thử nghiệm các mô hình quản trị và phát triển mới, không chỉ phục vụ xây dựng và phát triển Thủ đô, mà qua đó góp phần bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia. Luật quy định chặt chẽ về thẩm quyền và trách nhiệm của HĐND, UBND thành phố trong việc ban hành, tổ chức thực hiện thí điểm văn bản quy phạm pháp luật bao gồm cả trách nhiệm kiểm soát và giảm thiểu rủi ro, xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình thí điểm; trách nhiệm đánh giá kết quả, mức độ đạt được mục tiêu thí điểm để báo cáo, đề xuất cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản thi hành chính thức hoặc bãi bỏ văn bản thí điểm. Quy định thành phố được thí điểm cơ chế, chính sách khác với luật, nghị quyết của Quốc hội hoặc chưa được pháp luật quy định, thể hiện mức độ trao quyền đặc thù cho Thủ đô nhằm tạo không gian thể chế linh hoạt, thử nghiệm các mô hình quản trị và phát triển mới. Đây là cơ sở để Hà Nội đi đầu trong đổi mới chính sách, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững. Tuy nhiên, việc loại trừ lĩnh vực quốc phòng, an ninh, tôn giáo… khỏi phạm vi thí điểm nhằm bảo đảm giữ vững chủ quyền, lợi ích quốc gia và tính thống nhất trong quản lý nhà nước ở các lĩnh vực trọng yếu. Đáng chú ý, luật có quy định “mô hình kinh tế mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, giáo dục, đào tạo, văn hóa, y tế và chăm sóc sức khỏe”. Quy định này xuất phát từ yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh của Thủ đô dựa trên tri thức, công nghệ và sáng tạo. Việc thí điểm cho phép thiết lập các cơ chế, chính sách mới đối với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, kinh tế số, kinh tế sáng tạo, công nghiệp văn hóa, giáo dục và đào tạo chất lượng cao; từ đó tạo dư địa pháp lý để thu hút nguồn lực xã hội, nhân tài, doanh nghiệp công nghệ cao, thúc đẩy phát triển bền vững và bao trùm. Hay quy định liên quan đến “mô hình nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp đô thị”. Nội dung này định hướng phát triển nông nghiệp và khu vực nông thôn theo hướng hiện đại, bền vững

Từ 15/5, phạt tới 20 triệu đồng nếu bán thuốc kê đơn không có đơn của bác sĩ

Nghị định 90/2026 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế, hiệu lực từ ngày 15/5, bổ sung nhiều quy định nhằm kiểm soát chặt hoạt động kinh doanh và lưu thông thuốc trên thị trường. Theo đó, các hành vi vi phạm trong mua bán, kinh doanh thuốc có thể bị phạt từ 10 đến 20 triệu đồng, áp dụng cho cả cơ sở bán lẻ và hệ thống phân phối. Một trong những vi phạm đáng chú ý là bán thuốc kê đơn khi không có đơn thuốc của bác sĩ. Đây là thực trạng phổ biến tại nhiều nhà thuốc, tiềm ẩn nguy cơ sử dụng thuốc sai cách, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân. Ngoài ra, việc mua bán thuốc phục vụ thử nghiệm lâm sàng hoặc thuốc được pha chế theo đơn nhưng đưa ra ngoài cơ sở khám chữa bệnh khi chưa được phép cũng thuộc nhóm bị xử phạt. Tương tự, hành vi mua bán thuốc hóa dược pha chế theo đơn của nhà thuốc khác hoặc kinh doanh thuốc nằm trong danh mục hạn chế bán lẻ khi chưa được cơ quan có thẩm quyền cho phép cũng không được chấp nhận. Nghị định cũng siết chặt quản lý chất lượng thuốc. Các cơ sở không thực hiện cách ly hoặc biệt trữ đối với thuốc kém chất lượng, thuốc đã hết hạn, thuốc bị thu hồi hoặc không rõ nguồn gốc sẽ bị xử phạt. Trường hợp vẫn tiếp tục mua bán thuốc vi phạm chất lượng sau khi đã có thông báo thu hồi cũng bị xử lý nghiêm. Đối với hệ thống chuỗi nhà thuốc, việc thay đổi người chịu trách nhiệm chuyên môn về dược nhưng không thông báo cho cơ quan quản lý, hoặc không cập nhật danh sách nhà thuốc trong chuỗi cũng bị coi là vi phạm. Hoạt động kinh doanh thuốc qua thương mại điện tử cũng được đưa vào diện kiểm soát. Cơ sở bán thuốc kê đơn, thuốc hạn chế bán lẻ hoặc các loại thuốc cần kiểm soát đặc biệt qua mạng, khi không thuộc trường hợp được phép, sẽ bị xử phạt. Đồng thời, việc kinh doanh thuốc trực tuyến nhưng không thông qua các nền tảng hợp lệ hoặc không thông báo với cơ quan chức năng trước khi triển khai cũng bị xử lý theo quy định. Các quy định mới được kỳ vọng sẽ hạn chế tình trạng mua bán thuốc tràn lan, đặc biệt là thuốc kê đơn, đồng thời nâng cao trách nhiệm của các cơ sở kinh doanh dược trong bối cảnh thương mại điện tử ngày càng phát triển. Trên môi trường trực tuyến, việc rao bán thuốc kê đơn, thuốc thuộc danh mục hạn chế bán lẻ hoặc các loại thuốc cần kiểm soát đặc biệt bị cấm hoàn toàn trên các sàn thương mại điện tử. Những cơ sở muốn triển khai hình thức kinh doanh thuốc qua mạng bắt buộc phải thông báo và được cơ quan chức năng chấp thuận trước khi hoạt động. Cơ quan quản lý đồng thời không cho phép giao dịch các loại thuốc phục vụ thử nghiệm lâm sàng, thuốc pha chế trong bệnh viện nhưng bị đưa ra ngoài lưu hành, cũng như các loại thuốc hạn chế khi chưa được cấp phép theo quy định. Với các chuỗi nhà thuốc quy mô lớn, doanh nghiệp phải công khai đầy đủ hệ thống cơ sở trực thuộc và kịp thời báo cáo khi có thay đổi về người phụ trách chuyên môn dược. Theo nhận định của nhiều chuyên gia, việc tăng mức xử phạt và siết quy định sẽ góp phần thay đổi thói quen tự ý dùng thuốc trong cộng đồng, hướng người dân đến việc thăm khám và điều trị đúng chỉ định. Đồng thời, các nhà thuốc và nhân viên y tế buộc phải thận trọng hơn trong kê đơn, đặc biệt với kháng sinh, chỉ sử dụng khi thực sự cần thiết, trong bối cảnh nguồn thuốc này cũng đang được kiểm soát chặt từ sản xuất đến sử dụng. Nguồn – Báo VTC News

Từ 1/7: tăng phân cấp, cắt giảm nhiều thủ tục hành chính lĩnh vực y tế

Chính phủ ban hành Nghị quyết số 21/2026/NQ-CP ngày 29/4/2026 về cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính và phân cấp thẩm quyền thực hiện thủ tục hành chính trong lĩnh vực y tế. Nghị quyết này quy định cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính và phân cấp thẩm quyền thực hiện thủ tục hành chính trong lĩnh vực y tế thuộc thẩm quyền của Chính phủ. Phân cấp thẩm quyền thực hiện thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực y tế (*) Nghị quyết phân cấp thẩm quyền thực hiện thủ tục hành chính về an toàn thực phẩm : Việc cấp giấy xác nhận nội dung quảng cáo đối với thực phẩm bảo vệ sức khỏe được quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị định số 15/2018/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Hồ sơ, thủ tục thực hiện theo quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị quyết này. Phân cấp thẩm quyền thực hiện thủ tục hành chính về phòng bệnh: Việc đề nghị nhập khẩu mẫu bệnh phẩm được quy định tại Điều 36 Nghị định số 89/2018/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm về kiểm dịch y tế biên giới được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 155/2018/NĐ-CP thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Hồ sơ, thủ tục thực hiện theo quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị quyết này. Phân cấp thẩm quyền thực hiện thủ tục hành chính về cấp giấy phép hành nghề khám bệnh, chữa bệnh: Việc cấp mới, cấp lại, gia hạn, điều chỉnh, đình chỉ, thu hồi giấy phép hành nghề khám bệnh, chữa bệnh (bao gồm cả chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh đã được cấp theo quy định tại Luật Khám bệnh, chữa bệnh số 40/2009/QH12 , sau đây gọi tắt là giấy phép hành nghề khám bệnh, chữa bệnh cho các đối tượng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 28 Luật Khám bệnh, chữa bệnh và khoản 8 Điều 143 Nghị định số 96/2023/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Khám bệnh, chữa bệnh) được quy định tại khoản 6 Điều 14, khoản 15 Điều 16, khoản 2 Điều 18, khoản 3 Điều 20, khoản 7 Điều 22, khoản 9 Điều 24, khoản 2 Điều 26, khoản 5 Điều 130, khoản 18 Điều 132, khoản 2 Điều 134, khoản 4 Điều 136 Nghị định số 96/2023/NĐ-CP thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Hồ sơ, thủ tục thực hiện theo quy định tại Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị quyết này. Phân cấp thẩm quyền thực hiện thủ tục hành chính về cấp giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh: Thẩm quyền cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh đối với trường hợp thay đổi thời gian làm việc hoặc thay đổi tên, địa chỉ của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nhưng không thay đổi địa điểm cho bệnh viện tư nhân được quy định tại Điều 63 và Điều 65 Nghị định số 96/2023/NĐ-CP thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Hồ sơ, thủ tục thực hiện theo quy định tại Phụ lục IV ban hành kèm theo Nghị quyết này. Các quy định về phân cấp thẩm quyền thực hiện thủ tục hành chính nêu trên có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026. Cắt giảm, đơn giản hóa các điều kiện kinh doanh thuộc lĩnh vực y tế (**) Nghị quyết nêu rõ, không quy định điều kiện kinh doanh liên quan đến an toàn sinh học tại phòng xét nghiệm quy định tại các điều 5, 6 và 7 Nghị định số 103/2016/NĐ-CP quy định về bảo đảm an toàn sinh học tại phòng xét nghiệm được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 155/2018/NĐ-CP. Không quy định điều kiện kinh doanh liên quan đến dịch vụ tiêm chủng quy định tại Điều 9 và Điều 10 Nghị định số 104/2016/NĐ-CP quy định về hoạt động tiêm chủng được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 155/2018/NĐ-CP. Không quy định điều kiện kinh doanh liên quan đến tổ chức đào tạo thực hành trong đào tạo khối ngành sức khỏe quy định tại Điều 8, Điều 9, khoản 2 Điều 10 và Điều 11 Nghị định số 111/2017/NĐ-CP quy định về tổ chức đào tạo thực hành trong đào tạo khối ngành sức khỏe và Điều 140 Nghị định số 96/2023/NĐ-CP. Không quy định điều kiện kinh doanh liên quan đến cung cấp dịch vụ điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế quy định tại Điều 16 và Điều 17 Nghị định số 141/2024/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS). Không quy định điều kiện kinh doanh liên quan đến cung cấp dịch vụ tư vấn, xét nghiệm HIV quy định tại khoản 2 Điều 38, Điều 39, Điều 40 và Điều 41 Nghị định số 141/2024/NĐ-CP và khoản 1, 2 Điều 5 Nghị định số 63/2021/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS). Không quy định điều kiện kinh doanh liên quan đến cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh quy định tại Điều 5; khoản 1 và khoản 2 Điều 6; khoản 4 Điều 7; Điều 8; khoản 1, điểm a, b khoản 2, điểm a, đ, e khoản 4, các khoản 5, 6, 7, 8, 9, 10 và 11 Điều 40; điểm a,

Tăng cường quản lý, xử lý vi phạm trong lĩnh vực y tế và bảo hiểm y tế

Từ ngày 15/5, Nghị định số 90/2026/NĐ-CP ngày 30/3/2026 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế chính thức có hiệu lực, với nhiều nội dung sửa đổi, bổ sung theo hướng tăng mức xử phạt, tăng cường kỷ cương, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước. Nghị định số 90/2026/NĐ-CP quy định cụ thể các hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả trong nhiều lĩnh vực y tế. Theo đó, vi phạm hành chính trong lĩnh vực này là những hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm các quy định pháp luật về quản lý nhà nước trong y tế nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, bao gồm các lĩnh vực: y tế dự phòng, phòng, chống HIV/AIDS; các quy định khám bệnh, chữa bệnh; dược, mỹ phẩm; thiết bị y tế; vi phạm quy định BHYT và dân số. Nghị định số 90/2026/NĐ-CP bổ sung, điều chỉnh nhiều quy định nhằm siết chặt quản lý, như quy định về kinh doanh và sử dụng sản phẩm dinh dưỡng cho trẻ nhỏ; quy tắc hành nghề khám, chữa bệnh; xuất khẩu, nhập khẩu thuốc, nguyên liệu làm thuốc; đồng thời tăng mức xử phạt đối với nhiều hành vi vi phạm. Trong lĩnh vực BHYT, Nghị định số 90/2026/NĐ-CP làm rõ các hành vi vi phạm phổ biến như chậm đóng, trốn đóng BHYT chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; lập danh sách tham gia không đúng quy định; đưa người không thuộc diện quản lý vào danh sách tham gia BHYT; sử dụng thẻ BHYT sai quy định trong khám, chữa bệnh. Nghị định số 90/2026/NĐ-CP bổ sung hành vi vi phạm liên quan đến việc lập danh sách tham gia BHYT, qua đó siết chặt trách nhiệm của người sử dụng lao động. Theo quy định, trường hợp không lập hoặc lập danh sách không đầy đủ số người tham gia BHYT trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết hạn phải thực hiện, nhưng chưa đến mức bị coi là trốn đóng, sẽ bị xử phạt từ 1 triệu đồng đến 35 triệu đồng, tùy theo số lượng lao động vi phạm. Đối với hành vi cho người khác mượn thẻ hoặc sử dụng thẻ BHYT của người khác khi khám, chữa bệnh, mức phạt được áp dụng từ 1 triệu đồng đến dưới 20 triệu đồng, căn cứ tính chất và mức độ vi phạm. Nghị định cũng quy định mức phạt từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với trường hợp thuộc diện bắt buộc nhưng không tham gia BHYT. Đồng thời, người sử dụng lao động không lập hoặc lập danh sách không đầy đủ số người phải tham gia BHYT sau 60 ngày kể từ ngày hết hạn quy định có thể bị xử phạt từ 2 triệu đồng đến 70 triệu đồng, tùy từng trường hợp cụ thể. Nghị định cũng quy định rõ các biện pháp khắc phục hậu quả tương ứng với từng hành vi vi phạm, nhằm nâng cao hiệu lực thực thi và bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật./.

Những quy định mới về công chứng vừa được Quốc hội thông qua

Luật Công chứng sửa đổi, bổ sung năm 2026 đưa ra nhiều quy định mới nhằm thu hẹp phạm vi giao dịch phải công chứng, ứng dụng công nghệ và đơn giản hóa quy trình. Bỏ 6 giao dịch phải công chứng Luật Công chứng 2024 quy định giao dịch phải công chứng là những giao dịch quan trọng, có yêu cầu cao về an toàn pháp lý và được luật quy định hoặc giao Chính phủ quy định phải thực hiện công chứng. Quy định này được sửa đổi, bổ sung năm 2026 theo hướng giao Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan rà soát, cập nhật và công bố danh mục các giao dịch phải công chứng, chứng thực trên Cổng thông tin điện tử của Bộ. Cách tiếp cận này vừa góp phần thu hẹp phạm vi các giao dịch phải công chứng, trong đó giảm 6 loại giao dịch cụ thể đang được quy định trong các nghị định. Như vậy, Luật năm 2026 vừa khắc phục nguy cơ chồng chéo, xung đột với các luật chuyên ngành. Chính sách này tạo thuận lợi, giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho tổ chức, cá nhân và nâng cao tính minh bạch, ổn định của hệ thống pháp luật. Việc xác định giao dịch thuộc diện bắt buộc công chứng được thực hiện thông qua danh mục công khai, thay vì quy định phân tán. Danh mục này có giá trị tham chiếu, hỗ trợ tra cứu, áp dụng thống nhất trong phạm vi toàn quốc. Quy định này đồng thời bảo đảm nguyên tắc các giao dịch cụ thể thuộc diện bắt buộc công chứng phải do luật chuyên ngành quy định. Đẩy mạnh khai thác dữ liệu thay thế giấy tờ Một nội dung mới được bổ sung là việc sử dụng dữ liệu từ các cơ sở dữ liệu để phục vụ hoạt động công chứng. Theo Luật sửa đổi, trong trường hợp thông tin về người yêu cầu công chứng hoặc tài sản đã có trong các cơ sở dữ liệu do cơ quan có thẩm quyền quản lý và đủ điều kiện khai thác, người yêu cầu công chứng không phải cung cấp giấy tờ có chứa thông tin đó. Tổ chức hành nghề công chứng có thể khai thác, sử dụng các thông tin này để giải quyết hồ sơ. Chỉ trong trường hợp không khai thác được hoặc thông tin chưa đầy đủ, không chính xác, công chứng viên mới yêu cầu người dân bổ sung giấy tờ. Quy định này áp dụng đối với các thành phần hồ sơ như giấy tờ tùy thân, giấy tờ về quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản và các giấy tờ liên quan khác. Chính sách này giúp giảm bớt gánh nặng chuẩn bị hồ sơ, không cần phải đi công chứng/chứng thực bản sao giấy tờ trước khi đi làm thủ tục công chứng giao dịch chính. Việc này cũng hạn chế tình trạng sử dụng giấy tờ giả mạo vì công chứng viên đối soát trực tiếp với dữ liệu gốc của cơ quan nhà nước thay vì nhìn trên bản giấy. Mở rộng thẩm quyền với một số loại giao dịch liên quan bất động sản Luật Công chứng sửa đổi năm 2026 đã điều chỉnh theo hướng mở rộng thẩm quyền công chứng không theo địa hạt đối với các giao dịch không có đối tượng trực tiếp là bất động sản. Trong đó có hợp đồng ủy quyền, hợp đồng đặt cọc, chuyển nhượng hợp đồng. Chính sách này dựa trên tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp. Đồng thời, Luật giao Chính phủ quy định lộ trình thực hiện việc công chứng giao dịch có đối tượng là bất động sản không phụ thuộc địa giới hành chính trên phạm vi toàn quốc. Việc này phải gắn với điều kiện vận hành đầy đủ, đồng bộ của cơ sở dữ liệu công chứng và các cơ sở dữ liệu liên quan, bảo đảm tính khả thi, chặt chẽ và an toàn pháp lý. Luật tiếp tục quy định thẩm quyền công chứng giao dịch có đối tượng là bất động sản theo phạm vi tỉnh, thành phố nơi tổ chức hành nghề công chứng đặt trụ sở. Quy định này phù hợp với đặc thù mô hình công chứng hiện hành. Công chứng viên chịu trách nhiệm về tính xác thực, hợp pháp của giao dịch, bao gồm cả việc kiểm tra, xác minh tình trạng pháp lý và thực tế của bất động sản khi cần thiết. Chính phủ nhìn nhận việc duy trì thẩm quyền công chứng giao dịch bất động sản theo địa giới hành chính giúp hạn chế rủi ro phát sinh từ việc công chứng trùng lặp đối với cùng một tài sản, bảo đảm an toàn pháp lý cho giao dịch. Xây dựng cơ sở dữ liệu công chứng Luật sửa đổi cũng bổ sung một điều mới về Cơ sở dữ liệu công chứng. Đây là hệ thống thông tin về công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng, giao dịch đã được công chứng; thông tin về tình trạng giao dịch của tài sản; biện pháp ngăn chặn và cảnh báo rủi ro trong hoạt động công chứng; văn bản công chứng và các tài liệu khác trong hồ sơ công chứng. Luật quy định cơ sở dữ liệu công chứng phải được cập nhật đầy đủ, chính xác, kịp thời và bảo đảm an ninh, an toàn theo quy định của pháp luật. Việc thu thập, cung cấp thông tin để đưa vào cơ sở dữ liệu công chứng và khai thác, sử dụng, phải bảo mật thông tin về nội dung công chứng, bảo vệ đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình. Bộ Tư

Đặt Lịch Khám

    Đặt Lịch Khám