BỆNH VIỆC BẮC THĂNG LONG
BẮC THĂNG LONG HOSPITAL

(84-24).0889.615.815

Email: bvbtl@hanoi.gov.vn

BỆNH VIỆC BẮC THĂNG LONG
BẮC THĂNG LONG HOSPITAL

Tin Tức

Tin Tức - Sự Kiện

27 ngày hồi sinh kỳ diệu: Cô gái 21 tuổi xuất viện sau ca ghép thận đầu tiên tại Bệnh viện E

Ca ghép thận đầu tiên tại Bệnh viện E đã thành công tốt đẹp. Sau 27 ngày hậu phẫu, cô gái 21 tuổi đã phục hồi ngoạn mục và chính thức xuất viện trong niềm vui của gia đình và ê-kíp y bác sĩ. Theo TS.BS Nguyễn Minh Tuấn – Trưởng khoa Thận Tiết niệu và Lọc máu, Bệnh viện E – bệnh nhân bị viêm cầu thận mạn tính nhưng không điều trị đều đặn, dẫn đến suy thận giai đoạn cuối. Đến tháng 1/2026, tình trạng nặng lên, bệnh nhân phải lọc màng bụng để duy trì sự sống. Chia sẻ về căn bệnh của mình, bệnh nhân cho biết: “Đầu tháng 2, em bị phù toàn thân, vào viện tỉnh thì được chuyển cấp cứu và lọc máu ngay. Sau đó em được chuyển về Bệnh viện E và đặt catheter lọc màng bụng ngày 27/2. Gần một tháng sau, khi đang chuẩn bị xuất viện, gia đình bất ngờ nhận được tin có người chết não hiến tạng”. Là ca ghép thận đầu tiên của bệnh viện, cô gái trẻ vừa mừng vừa lo lắng. “Em lo cơ thể không tương thích với quả thận mới, nhưng em hoàn toàn tin tưởng các bác sĩ. Sau ghép, sức khỏe em cải thiện rõ rệt từng ngày”, bệnh nhân chia sẻ. Ca ghép được thực hiện ngày 21/3/2026, kéo dài khoảng 2 giờ. TS.BS Nguyễn Minh Tuấn cho biết: “Ngay sau mổ, bệnh nhân đã có nước tiểu – dấu hiệu rất tốt. Chỉ sau một ngày, bệnh nhân tỉnh táo, ngồi dậy được và ăn uống trở lại. Các chỉ số xét nghiệm cải thiện nhanh chóng. Sau 27 ngày, bệnh nhân phục hồi xuất sắc”. Thành công của ca ghép nhờ sự phối hợp chặt chẽ giữa Bệnh viện E và ê-kíp hỗ trợ từ Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, đặc biệt trong chăm sóc hậu phẫu, dinh dưỡng, phục hồi chức năng và kiểm soát nhiễm khuẩn. Mẹ bệnh nhân không giấu được xúc động: “Gia đình tôi ở Sơn La, hoàn cảnh khó khăn. Con gái làm việc tại Hưng Yên thì mắc bệnh. Trước Tết, cháu phải lọc máu liên tục, sau chuyển sang lọc màng bụng. Khi nhận tin có người hiến tạng, cả nhà như vỡ òa. Trước ghép, sức khỏe cháu chỉ khoảng 60-70%. Sau ghép thận, cháu ăn ngủ tốt, sức khỏe cải thiện lên 80-90%. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn các y bác sĩ đã tận tình cứu chữa và biết ơn vô hạn gia đình người hiến tạng – người đã cho con tôi cơ hội sống lần thứ hai. Gia đình tôi sẽ vận động người thân tham gia hiến tạng để giúp đỡ những người khác”. Việt Nam làm chủ kỹ thuật ghép tạng, mở ra hy vọng sống Thành công này tiếp tục khẳng định bước tiến của ngành ghép tạng Việt Nam. Tại chương trình Sơ kết công tác Tư vấn, vận động hiến tặng mô, bộ phận cơ thể người ngày 17/4, TS.BS Vương Ánh Dương – Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế) – đã chúc mừng Bệnh viện E và bệnh nhân. “Hiến – ghép mô tạng là nghĩa cử cao đẹp và là phương pháp điều trị tối ưu cho bệnh nhân suy tạng giai đoạn cuối. Thành công của Bệnh viện E với sự hỗ trợ từ Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 cho thấy năng lực chuyên môn của các cơ sở y tế trong nước ngày càng được nâng cao”, TS.BS Vương Ánh Dương nhấn mạnh. Từ ca ghép tạng đầu tiên năm 1992 đến nay, Việt Nam đã làm chủ nhiều kỹ thuật ghép tạng phức tạp. Hiện cả nước có 33 cơ sở đủ điều kiện ghép tạng, thực hiện thường quy hơn 1.000 ca mỗi năm – mức cao trong khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên, nguồn tạng hiến từ người chết não vẫn còn hạn chế (chỉ chiếm khoảng 8,2% trong tổng số 10.878 ca ghép tạng đến tháng 12/2023). Thiếu tướng, PGS.TS Vũ Ngọc Lâm – Phó Giám đốc Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 – cho biết hai bệnh viện sẽ tiếp tục đồng hành, chuyển giao kỹ thuật để Bệnh viện E sớm làm chủ các kỹ thuật ghép tạng khác. TS.BS Nguyễn Công Hựu – Giám đốc Bệnh viện E – cho biết, số bệnh nhân suy thận mạn đang tăng nhanh, khiến các đơn vị lọc máu thường xuyên quá tải. Việc phát triển ghép thận sẽ giúp nhiều bệnh nhân thoát khỏi cảnh lọc máu suốt đời, giảm gánh nặng về thể chất, tài chính và tinh thần. Từ ca ghép thành công đầu tiên, Bệnh viện E không chỉ mang lại cuộc sống mới cho một bệnh nhân mà còn mở ra hy vọng cho hàng nghìn người đang chờ đợi được ghép tạng. https://suckhoedoisong.vn/27-ngay-hoi-sinh-ky-dieu-co-gai-21-tuoi-xuat-vien-sau-ca-ghep-than-dau-tien-tai-benh-vien-e-169260401071219117.htm

Danh sách các Phòng chuyên môn thuộc UBND cấp xã theo Nghị định 150/2025

1. Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân Khoản 1 Điều 12 Nghị định 150/2025/NĐ-CP quy định Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các lĩnh vực sau: – Lĩnh vực Văn phòng, gồm: Chương trình, kế hoạch công tác của Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân; Tham mưu hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân; Công tác chỉ đạo, điều hành của Chủ tịch Ủy ban nhân dân; Cung cấp thông tin, bảo đảm điều kiện vật chất, kỹ thuật phục vụ hoạt động của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã; thực hiện công tác quản trị nội bộ của Văn phòng. – Lĩnh vực Tư pháp, gồm: Công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, theo dõi việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật, kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật; Hòa giải ở cơ sở, trợ giúp pháp lý, nuôi con nuôi, hộ tịch, chứng thực, quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và các công tác tư pháp khác theo quy định của pháp luật. – Lĩnh vực đối ngoại, gồm: Công tác đối ngoại địa phương, bao gồm, công tác biên giới lãnh thổ quốc gia (đối với đơn vị hành chính cấp xã có đường biên giới lãnh thổ quốc gia trên đất liền, trên biển và hải đảo). 2. Phòng kinh tế Theo khoản 2 Điều 12 Nghị định 150, Phòng Kinh tế (đối với xã, đặc khu) hoặc Phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị (đối với phường và đặc khu Phú Quốc) tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các lĩnh vực: – Lĩnh vực Tài chính – Kế hoạch, gồm: Tài chính – ngân sách nhà nước; kế hoạch và đầu tư; Thống kê; Đăng ký hộ kinh doanh, tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; Hỗ trợ doanh nghiệp, tổ chức kinh tế tập thể. – Lĩnh vực Xây dựng và Công Thương, gồm: Quy hoạch xây dựng, kiến trúc; Hoạt động đầu tư xây dựng; phát triển đô thị; hạ tầng kỹ thuật đô thị (bao gồm: cấp nước, thoát nước đô thị; cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng; chiếu sáng đô thị, cây xanh đô thị; quản lý nghĩa trang, trừ nghĩa trang liệt sĩ; quản lý xây dựng ngầm đô thị; quản lý sử dụng chung cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị); Nhà ở; công sở; vật liệu xây dựng; giao thông; tiểu thủ công nghiệp; công nghiệp; thương mại. Đất đai; tài nguyên nước; tài nguyên khoáng sản; môi trường; biển và hải đảo (đối với đơn vị hành chính có biển, đảo); Nông nghiệp; lâm nghiệp; diêm nghiệp; thủy lợi; thủy sản; phát triển nông thôn; phòng, chống thiên tai; Giảm nghèo; chất lượng, an toàn thực phẩm đối với nông sản, lâm sản, thủy sản, muối; Phát triển kinh tế hộ, kinh tế trang trại nông thôn, kinh tế tập thể, nông, lâm, ngư, diêm nghiệp gắn với ngành nghề, làng nghề nông thôn. – Lĩnh vực Nông nghiệp và Môi trường, gồm: 3. Phòng Văn hóa – Xã hội Phòng Văn hóa – Xã hội tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các lĩnh vực theo quy định tại khoản 3 Điều 12 Nghị định 150 như sau: – Lĩnh vực Nội vụ, gồm: Tổ chức hành chính, sự nghiệp nhà nước; Chính quyền địa phương, địa giới đơn vị hành chính; Cán bộ, công chức, viên chức và công vụ; cải cách hành chính; Hội, tổ chức phi chính phủ; Thi đua, khen thưởng; văn thư, lưu trữ nhà nước; Thanh niên; lao động, tiền lương; việc làm; bảo hiểm xã hội; an toàn, vệ sinh lao động; Người có công; bình đẳng giới; công tác dân tộc và tín ngưỡng, tôn giáo. – Lĩnh vực Giáo dục và Đào tạo, gồm: Giáo dục mầm non; giáo dục phổ thông (giáo dục tiểu học và giáo dục trung học cơ sở); – Lĩnh vực Văn hóa, Khoa học và Thông tin, gồm: Văn hóa; gia đình; thể dục, thể thao; du lịch; Quảng cáo; phát thanh truyền hình; báo chí; thông tin cơ sở; thông tin đối ngoại; Hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo, phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ; Sở hữu trí tuệ; Tiêu chuẩn đo lường chất lượng; ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ; an toàn bức xạ và hạt nhân; Bưu chính; Ứng dụng công nghệ thông tin (không bao gồm an toàn thông tin, an ninh mạng); giao dịch điện tử; chính quyền số; kinh tế số, xã hội số và chuyển đổi số; hạ tầng thông tin. – Lĩnh vực Y tế, gồm: Y tế dự phòng; Khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng; Bà mẹ, trẻ em; dân số; Phòng, chống tệ nạn xã hội (không bao gồm cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy); bảo trợ xã hội; Y dược cổ truyền; dược; mỹ phẩm; An toàn thực phẩm; Thiết bị y tế; Bảo hiểm y tế. Trên đây là Danh sách các Phòng chuyên môn thuộc UBND cấp xã theo Nghị định 150/2025.

Cảnh báo chiêu trò giả mạo cán bộ BHXH chiếm đoạt tiền gửi trong tài khoản ngân hàng

BHXH khu vực I vừa phát đi thông báo về việc xuất hiện tình trạng kẻ xấu giả mạo cán bộ BHXH yêu cầu người dân cung cấp thông tin để cập nhật VssID hoặc tích hợp thẻ BHYT vào CCCD nhằm chiếm đoạt tiền gửi trong tài khoản ngân hàng. BHXH khu vực I cho biết, thời gian gần đây nhận được thông tin phản ánh từ một số đồng chí lãnh đạo BHXH quận, huyện, liên huyện, người dân, người lao động trên địa bàn thành phố về việc một số đối tượng mạo danh cán bộ cơ quan BHXH gọi điện thoại yêu cầu cung cấp Căn cước công dân (CCCD), thông tin cá nhân để cập nhật trên ứng dụng VssID-BHXH số hoặc tích hợp thẻ BHYT vào CCCD; qua đó nhằm chiếm đoạt tiền gửi trong tài khoản ngân hàng của người tham gia, thụ hưởng BHXH, BHYT. Nhằm đảm bảo thông tin cá nhân của người lao động, người dân được bảo mật, tránh bị kẻ xấu lợi dụng, lừa đảo, BHXH khu vực I đề nghị các đơn vị phối hợp thông tin đến người lao động, người dân trên địa bàn. BHXH khu vực I nêu rõ, BHXH khu vực I và BHXH các quận, huyện, liên huyện hiện không có chủ trương gọi điện thoại, nhắn tin kết bạn qua ứng dụng Zalo hay gửi đường link, mã QR để hỗ trợ, yêu cầu người tham gia, thụ hưởng chính sách BHXH, BHYT cung cấp CCCD, thông tin cá nhân để cập nhật trên ứng dụng VssID-BHXH số hoặc tích hợp thẻ BHYT vào CCCD. Khi có nhu cầu cập nhật, điều chỉnh thông tin cá nhân, đề nghị đơn vị, người tham gia, thụ hưởng chính sách BHXH, BHYT trực tiếp liên hệ BHXH khu vực I, BHXH các quận, huyện, thị xã trực thuộc để được hỗ trợ và có thể thực hiện trên Cổng dịch vụ công Quốc gia, Cổng dịch vụ công BHXH Việt Nam, trên ứng dụng VssID-BHXH số. Các giao dịch, tương tác của người tham gia, thụ hưởng chính sách BHXH, BHYT với cơ quan BHXH qua các kênh chính thức nêu trên đều không mất phí. Để tránh bị lợi dụng, lừa đảo, người lao động, người dân cần thường xuyên cập nhật thông tin về chính sách pháp luật BHXH, BHYT qua các kênh chính thống của ngành BHXH; theo dõi các thông báo của cơ quan chức năng về phương thức, thủ đoạn lừa đảo trên các phương tiện thông tin đại chúng; nghiên cứu, kiểm tra kỹ trước khi thực hiện các giao dịch trên môi trường mạng (không kết bạn Zalo, không bấm vào các đường link lạ hay cung cấp mã OTP, mật khẩu cá nhân…). Các kênh cung cấp thông tin chính thức về chính sách, pháp luật và tư vấn, hỗ trợ người tham gia, thụ hưởng chính sách BHXH, BHYT của BHXH khu vực I gồm: – Trang thông tin điện tử: https://hanoi.baohiemxahoi.gov.vn. – Fanpage Facebook: https://www.facebook.com/bhxhtphanoi (đã được cấp tick xanh). – Zalo Official Account: BHXH thành phố Hà Nội (đã được cấp tick vàng). – Số hotline của BHXH khu vực I: 024.37236555. – Tổng đài chăm sóc khách hàng của BHXH Việt Nam số 19009068. Thông tin về địa chỉ trụ sở, địa chỉ email và số điện thoại liên hệ của BHXH các quận, huyện, liên huyện theo danh sách dưới đây: https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/hoat-dong-he-thong-bao-hiem-xa-hoi.aspx?ItemID=24971&CateID=52

Từ 01/7/2025: Thêm 4 nhóm đối tượng được Nhà nước chi trả toàn bộ chi phí mua thẻ BHYT

Bắt đầu từ ngày 01/7/2025, sẽ có thêm 4 nhóm đối tượng được ngân sách nhà nước chi trả toàn bộ chi phí mua thẻ BHYT. Việc mở rộng đối tượng này cho thấy hệ thống an sinh xã hội ngày càng toàn diện, công bằng và hiệu quả, thực sự lấy người dân làm trung tâm. Cụ thể 4 nhóm đối tượng mới được nhà nước đóng BHYT gồm: Dân quân thường trực; Người từ đủ 75 tuổi trở lên đang hưởng trợ cấp tuất hằng tháng, người từ đủ 70 tuổi đến dưới 75 tuổi thuộc hộ cận nghèo đang hưởng trợ cấp tuất hằng tháng; Người đang hưởng trợ cấp hưu trí xã hội hằng tháng theo quy định của pháp luật về BHXH; Người lao động không đủ điều kiện hưởng lương hưu và chưa đủ tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội đang trong thời gian hưởng trợ cấp hằng tháng theo quy định của pháp luật về BHXH. Như vậy, số lượng nhóm đối tượng được ngân sách nhà nước hỗ trợ 100% mức BHYT theo luật BHYT mới là 20. Đây không chỉ là sự gia tăng về số lượng mà còn là một sự điều chỉnh chính sách hướng đến những “khoảng trống” an sinh còn tồn tại, đảm bảo mọi người dân, đặc biệt là các nhóm yếu thế, đều được tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe một cách trọn vẹn. Từ 01/7/2025 sẽ có thêm 4 nhóm được ngân sách nhà nước chi trả toàn bộ chi phí mua thẻ BHYT. Nhóm dân quân thường trực: Việc mở rộng này cho thấy sự quan tâm của Nhà nước đến những nhóm đối tượng có đóng góp thầm lặng cho xã hội hoặc đang ở trong giai đoạn chuyển đổi, dễ bị tổn thương nhất về mặt sức khỏe và tài chính. Đối với nhóm dân quân thường trực: Việc hỗ trợ 100% BHYT là sự ghi nhận chính thức và thiết thực của Nhà nước đối với những đóng góp và hy sinh của lực lượng này. Điều này không chỉ có giá trị vật chất mà còn mang ý nghĩa động viên tinh thần to lớn. Khi được đảm bảo về y tế, các chiến sĩ dân quân sẽ yên tâm hơn trong công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và tham gia các nhiệm vụ đột xuất như phòng chống thiên tai, dịch bệnh. Một lực lượng khỏe mạnh là nền tảng cho một thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc. Đối với nhóm đối tượng người cao tuổi đang hưởng trợ cấp tuất hằng tháng. Nhóm này bao gồm hai đối tượng cụ thể: người từ đủ 75 tuổi trở lên đang hưởng trợ cấp tuất hằng tháng và người từ đủ 70 đến dưới 75 tuổi thuộc hộ cận nghèo cũng đang hưởng trợ cấp tuất. Đây là những người cao tuổi đã mất đi người thân (vợ, chồng, con…) là trụ cột kinh tế, cuộc sống phụ thuộc vào khoản trợ cấp từ nhà nước. Ở độ tuổi này, nguy cơ bệnh tật rất cao, trong khi nguồn thu nhập lại vô cùng hạn hẹp. Họ phải đối mặt với gánh nặng kép: nỗi đau mất người thân và sự bấp bênh về tài chính. Trước đây, người từ đủ 80 tuổi mới được cấp thẻ BHYT miễn phí. Việc hạ độ tuổi xuống 75 (và 70 đối với hộ cận nghèo) là một bước đi cực kỳ nhân văn, hướng tới nhóm đối tượng cần được bảo vệ khẩn cấp nhất. Nhóm người đang hưởng trợ cấp hưu trí xã hội hằng tháng theo quy định của pháp luật về BHXH. Trợ cấp hưu trí xã hội là một tầng trong hệ thống BHXH đa tầng, dành cho những người cao tuổi không có lương hưu hoặc trợ cấp BHXH hằng tháng (nhóm này gồm: Đủ 75 tuổi trở lên; Không nhận lương hưu hoặc trợ cấp BHXH hằng tháng, trừ các trường hợp do Chính phủ quy định; Có đơn đề nghị hưởng trợ cấp hưu trí xã hội; Công dân Việt Nam từ 70 đến dưới 75 tuổi thuộc hộ nghèo hoặc cận nghèo và đáp ứng đủ các điều kiện (không nhận lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng và có đơn đề nghị trợ cấp) sẽ được hưởng trợ cấp hưu trí xã hội). Họ là những người lao động tự do, nông dân… đã cống hiến cả đời nhưng không tích lũy được quỹ hưu trí. Việc cung cấp trợ cấp hưu trí xã hội đã là một bước tiến lớn, nhưng việc cấp thêm thẻ BHYT miễn phí mới thực sự hoàn thiện gói an sinh cho nhóm này. Nó đảm bảo rằng khoản trợ cấp của họ được dùng để trang trải cuộc sống, thay vì phải chi trả cho các chi phí y tế ngày càng tăng khi về già. Nhóm người lao động không đủ điều kiện hưởng lương hưu và chưa đủ tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội đang trong thời gian hưởng trợ cấp hằng tháng theo quy định của pháp luật về BHXH. Đây là nhóm đối tượng phức tạp và việc hỗ trợ họ cho thấy sự nhân văn của chính sách BHXH, BHYT. Họ là những người lao động đã hết tuổi lao động, không đủ điều kiện hưởng lương hưu (đóng BHXH dưới 15 năm), nhưng lại chưa đến tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội (chưa đủ 75 tuổi). Trong “khoảng trống” này, họ không có lương hưu, không có thu nhập và đối mặt với rủi ro sức khỏe cao nhất. Việc Nhà nước đóng BHYT cho các nhóm đối tượng là một chính sách mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Bằng cách mở rộng thêm đối tượng hỗ trợ toàn bộ mức đóng BHYT, Nhà nước giúp người dân, nhất là người nghèo, người cận nghèo, người cao tuổi và các đối tượng

Đại hội Đảng bộ Bệnh viện Bắc Thăng Long lần thứ XXII nhiệm kỳ 2025 – 2030 thành công tốt đẹp

Trong không khí thi đua sôi nổi chào mừng các ngày lễ lớn của đất nước và hướng tới Đại hội Đảng các cấp. Sáng 14/06/2025 Đảng bộ Bệnh viện Bắc Thăng Long đã long trọng tổ chức Đại hội Đảng bộ lần thứ XXII nhiệm kỳ 2025 – 2030. Đại hội là sự kiện chính trị quan trọng, đánh dấu bước phát triển mới trong công tác xây dựng Đảng và định hướng chiến lược phát triển toàn diện của bệnh viện trong giai đoạn tới.. Tham dự và chỉ đạo Đại hội, về phía Huyện ủy huyện Đông Anh có đồng chí Nguyễn Thị Tám – Ủy viên BTV Huyện ủy, Phó chủ tịch UBND huyện. Về phía Bệnh viện Bắc Thăng Long có BSCKII Vũ Thành Chung – Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Bệnh viện; BSCKII Nguyễn Văn Thành – Phó bí thư Đảng ủy, Phó giám đốc Bệnh viện. Đại hội đã triệu tập 110/114 đảng viên (04 đảng viên vắng mặt có lý do) thuộc 08 chi bộ trong bệnh viện tham dự. Đồng chí Nguyễn Thị Tám – Ủy viên BTV Huyện ủy – Phó chủ tịch UBND huyện (ảnh Tuấn Anh – PCTXH) Phát biểu chỉ đạo tại Đại hội, Đồng chí Nguyễn Thị Tám – Ủy viên BTV Huyện ủy – Phó chủ tịch UBND huyện đã ghi nhận và biểu dương những kết quả toàn diện mà Đảng bộ Bệnh viện đã đạt được trong nhiệm kỳ vừa qua, đặc biệt là vai trò tiên phong trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân và xây dựng tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh. Đồng chí bày tỏ tin tưởng Ban Chấp hành khóa mới sẽ tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết, đổi mới, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng, thực hiện thắng lợi các mục tiêu mà Đại hội đề ra. BSCKII Vũ Thành Chung – Bí thư Đảng ủy – Giám đốc Bệnh viện phát biểu khai mạc (ảnh Tuấn Anh – PCTXH) Với tinh thần trách nhiệm cao, dân chủ và kỷ cương, Đại hội đã tập trung thảo luận, đánh giá khách quan, toàn diện những kết quả đạt được và chưa đạt được trong nhiệm kỳ vừa qua. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ Bệnh viện trình Đại hội đã khẳng định Bệnh viện đã thực hiện nghiêm túc, toàn diện Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Bệnh viện nhiệm kỳ trước. Những thành tựu này là minh chứng rõ nét cho sự nỗ lực, đoàn kết của toàn thể cán bộ, đảng viên, viên chức và người lao động Bệnh viện Bắc Thăng Long. Các Đại biểu tham dự Đại hội (ảnh Tuấn Anh – PCTXH) Đại hội đã tiến hành bầu Ban Chấp hành Đảng bộ Bệnh viện Bắc Thăng Long nhiệm kỳ 2025 – 2030 gồm 09 đồng chí, Bầu Ban Thường vụ 03 đồng chí; Đại hội bầu đồng chí Vũ Thành Chung giữ chức Bí thư Đảng ủy Bệnh viện; Đồng chí Nguyễn Văn Thành giữ chức Phó Bí thư Đảng ủy; Bầu Ủy ban Kiểm tra 03 đồng chí; Bầu đồng chí Nguyễn Văn Thành giữ chức Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy. Ban Chấp hành Đảng bộ Bệnh viện Bắc Thăng Long nhiệm kỳ 2025 – 2030 gồm 09 đồng chí (ảnh Tuấn Anh – PCTXH) Đại hội Đảng bộ Bệnh viện Bắc Thăng Long nhiệm kỳ 2025 – 2030 đã thành công tốt đẹp. Đây là dấu mốc quan trọng, tạo tiền đề để Bệnh viện tiếp tục phát triển toàn diện, trở thành địa chỉ y tế tin cậy của nhân dân trên địa bàn huyện Đông Anh và Thủ đô Hà Nội. Một số hình ảnh của Đại hội:    

Quốc hội chốt danh sách 34 tỉnh thành mới của Việt Nam

Sáng 12/6, với tuyệt đại đa số đại biểu Quốc hội bấm nút tán thành, Quốc hội chính thức thông qua Nghị quyết về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025. Với việc Quốc hội thông qua Nghị quyết về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025, từ hôm nay cả nước còn 34 tỉnh, thành phố thay vì 63 như trước đây. Cụ thể, có 461/465 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết bấm nút tán thành (tương đương 96,44% tổng số đại biểu). Nghị quyết được thông qua với tỷ lệ đồng thuận gần như tuyệt đối. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày được thông qua.  Kể từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành, cả nước có 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 28 tỉnh và 6 thành phố. Có 19 tỉnh, 4 thành phố mới hình thành sau sắp xếp và 11 tỉnh, thành phố giữ nguyên là: Cao Bằng, Điện Biên, Hà Tĩnh, Lai Châu, Lạng Sơn, Nghệ An, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Sơn La và thành phố Hà Nội, thành phố Huế. Theo đó, Quốc hội thống nhất sắp xếp lại 52 trên tổng số 63 tỉnh thành cả nước như sau: 1. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Hà Giang và tỉnh Tuyên Quang thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Tuyên Quang. Sau khi sắp xếp, tỉnh Tuyên Quang có diện tích tự nhiên là 13.795,50km2, quy mô dân số là 1.865.270 người. Tỉnh Tuyên Quang giáp các tỉnh Cao Bằng, Lào Cai, Phú Thọ, Thái Nguyên và nước Trung Quốc. 2. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Yên Bái và tỉnh Lào Cai thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Lào Cai. Sau khi sắp xếp, tỉnh Lào Cai có diện tích tự nhiên là 13.256,92km2, quy mô dân số là 1.778.785 người. Tỉnh Lào Cai giáp các tỉnh Lai Châu, Phú Thọ, Sơn La, Tuyên Quang và nước Trung Quốc. 3. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Bắc Kạn và tỉnh Thái Nguyên thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Thái Nguyên. Sau khi sắp xếp, tỉnh Thái Nguyên có diện tích tự nhiên là 8.375,21km2, quy mô dân số là 1.799.489 người. Tỉnh Thái Nguyên giáp các tỉnh Bắc Ninh, Cao Bằng, Lạng Sơn, Phú Thọ, Tuyên Quang và thành phố Hà Nội. 4. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Vĩnh Phúc, tỉnh Hòa Bình và tỉnh Phú Thọ thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Phú Thọ. Sau khi sắp xếp, tỉnh Phú Thọ có diện tích tự nhiên là 9.361,38km², quy mô dân số là 4.022.638 người. Tỉnh Phú Thọ giáp các tỉnh Lào Cai, Ninh Bình, Sơn La, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Tuyên Quang và thành phố Hà Nội. 5. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Bắc Giang và tỉnh Bắc Ninh thành tỉnh mới có tên gọi là Bắc Ninh. Sau khi sắp xếp, tỉnh Bắc Ninh có diện tích tự nhiên là 4.718,6km2, quy mô dân số là 3.619.433 người. Tỉnh Bắc Ninh giáp các tỉnh Hưng Yên, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Thái Nguyên, thành phố Hải Phòng và thành phố Hà Nội. 6. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Thái Bình và tỉnh Hưng Yên thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Hưng Yên. Sau khi sắp xếp, tỉnh Hưng Yên có diện tích tự nhiên là 2.514,81km2, quy mô dân số là 3.567.943 người. Tỉnh Hưng Yên giáp tỉnh Bắc Ninh, tỉnh Ninh Bình, thành phố Hà Nội, thành phố Hải Phòng và Biển Đông. 7. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của thành phố Hải Phòng và tỉnh Hải Dương thành thành phố mới có tên gọi là thành phố Hải Phòng. Sau khi sắp xếp, thành phố Hải Phòng có diện tích tự nhiên là 3.194,72km2, quy mô dân số là 4.664.124 người. Thành phố Hải Phòng giáp các tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên, Quảng Ninh và Biển Đông. 8. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Hà Nam, tỉnh Nam Định và tỉnh Ninh Bình thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Ninh Bình. Sau khi sắp xếp, tỉnh Ninh Bình có diện tích tự nhiên là 3.942,62km2, quy mô dân số là 4.412.264 người. Tỉnh Ninh Bình giáp các tỉnh Hưng Yên, Phú Thọ, Thanh Hóa, thành phố Hà Nội và Biển Đông. 9. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Quảng Bình và tỉnh Quảng Trị thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Quảng Trị. Sau khi sắp xếp, tỉnh Quảng Trị có diện tích tự nhiên là 12.700km2, quy mô dân số là 1.870.845 người. Tỉnh Quảng Trị giáp tỉnh Hà Tĩnh, thành phố Huế, nước Lào và Biển Đông. 10. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam thành thành phố mới có tên gọi là thành phố Đà Nẵng. Sau khi sắp xếp, thành phố Đà Nẵng có diện tích tự nhiên là 11.859,59km2, quy mô dân số là 3.065.628 người. Thành phố Đà Nẵng giáp tỉnh Quảng Ngãi, thành phố Huế, nước Lào và Biển Đông. 11. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Kon Tum và tỉnh Quảng Ngãi thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Quảng Ngãi. Sau khi sắp xếp, tỉnh Quảng Ngãi có diện tích tự nhiên là 14.832,55km2, quy mô dân số là 2.161.755 người. Tỉnh Quảng Ngãi giáp tỉnh Gia Lai, thành phố Đà Nẵng,

Những quy định mới của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 liên quan đến người sử dụng lao động

Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) năm 2024 đã được Quốc hội thông qua và sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 01/7/2025. So với Luật BHXH năm 2014, luật mới có nhiều điểm sửa đổi, bổ sung quan trọng, trong đó đáng chú ý là những quy định liên quan trực tiếp đến quyền và trách nhiệm của người sử dụng lao động. Bổ sung quyền của người sử dụng lao động Luật BHXH năm 2024 đã luật hóa một số quyền của người sử dụng lao động vốn đang được quy định tại các văn bản dưới luật. Cụ thể, theo Điều 12 người sử dụng lao động được: Tạm dừng đóng BHXH bắt buộc theo quy định của pháp luật trong những trường hợp nhất định; Được cơ quan BHXH hướng dẫn về trình tự, thủ tục thực hiện các chế độ BHXH; Được tiếp cận thông tin, tài liệu tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về BHXH để nâng cao nhận thức và thực hiện đúng quy định. Việc luật hóa những quyền này góp phần đảm bảo tính minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp trong quá trình thực hiện chính sách BHXH. Bổ sung trách nhiệm của người sử dụng lao động Bên cạnh những quyền lợi được mở rộng, Luật BHXH năm 2024 cũng quy định rõ hơn trách nhiệm của người sử dụng lao động, nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động. Theo Điều 13 người sử dụng lao động có trách nhiệm: Bồi thường cho người lao động theo quy định của pháp luật nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm đóng BHXH bắt buộc theo quy định của Luật này mà gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động; Phối hợp, tạo điều kiện để cơ quan BHXH thực hiện thu hồi số tiền BHXH hưởng không đúng quy định của người lao động khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Những quy định mới này thể hiện rõ tinh thần thượng tôn pháp luật, đồng thời tăng cường tính ràng buộc trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc bảo đảm quyền lợi BHXH cho người lao động./. https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/linh-vuc-bao-hiem-xa-hoi.aspx?ItemID=24940&CateID=168

Triển khai hồ sơ bệnh án điện tử tại các bệnh viện chậm nhất vào ngày 30/9/2025

Ngày 6/6/2025, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư 13/2025/TT-BYT hướng dẫn việc triển khai hồ sơ bệnh án điện tử trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Triển khai hồ sơ bệnh án điện tử tại các bệnh viện chậm nhất vào ngày 30/9/2025 (Ảnh minh họa – nguồn internet) Theo khoản 2 Điều 4 Thông tư 13/2025/TT-BYT, lộ trình triển khai hồ sơ bệnh án điện tử được quy định như sau: – Đối với các bệnh viện: Phải hoàn thành việc triển khai hồ sơ bệnh án điện tử chậm nhất vào ngày 30/9/2025. – Đối với các cơ sở khám chữa bệnh khác (có người bệnh điều trị nội trú, điều trị ban ngày, điều trị ngoại trú): Hoàn thành triển khai chậm nhất vào ngày 31/12/2026. Tại Điều 5 Thông tư 13, quy định cụ thể về việc chuyển tiếp như sau: – Trường hợp người bệnh đang điều trị trước ngày Thông tư có hiệu lực (21/7/2025) và ra viện hoặc kết thúc điều trị ngoại trú sau thời điểm đó thì vẫn tiếp tục sử dụng hồ sơ bệnh án giấy đã được lập trước đó, trừ khi cơ sở y tế có thể chuyển đổi sang hồ sơ bệnh án điện tử. – Đối với hồ sơ bệnh án giấy lập trước ngày Thông tư có hiệu lực: Việc chuyển đổi giữa văn bản giấy và thông điệp dữ liệu sẽ do Thủ trưởng cơ sở y tế quyết định căn cứ điều kiện thực tế, đảm bảo tuân thủ Nghị định 137/2024/NĐ-CP của Chính phủ về giao dịch điện tử trong cơ quan nhà nước./. Bệnh án điện tử EMR là như thế nào: xem link tại đây https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/linh-vuc-bao-hiem-y-te.aspx?ItemID=24947&CateID=169

Quy định về phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên

Mới đây, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Quy định số 285-QĐ/TW ngày 22/4/2025 về phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên.   Thay mặt Ban Bí thư Trung ương Đảng, đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư đã ký ban hành Quy định số 285-QĐ/TW về phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên. (Nguồn ảnh: TTXVN) Theo đó, Quy định số 285-QĐ/TW quy định về nguyên tắc, phương pháp, cách thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng và người có thẩm quyền trong phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên; áp dụng đối với cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, tổ chức, cán bộ, đảng viên và tổ chức, cá nhân có liên quan. Quy định này cũng nêu rõ 08 giải pháp phòng ngừa vi phạm; 07 giải pháp phát hiện vi phạm và 06 giải pháp ngăn chặn vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên. Cụ thể: 08 giải pháp phòng ngừa vi phạm Trước tiên, cần xây dựng, hoàn thiện hệ thống quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước bảo đảm thống nhất, đồng bộ, chặt chẽ, khả thi và cơ chế thi hành nghiêm minh; tổ chức, bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống; học tập, nghiên cứu, quán triệt, tuyên truyền, phổ biến kịp thời chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Công khai, minh bạch thông tin về tổ chức, hoạt động, quy chế làm việc, quy định, quy trình, quy tắc ứng xử, chuẩn mực đạo đức, công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan. Thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, chất vấn trong Đảng, quy định về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; kê khai, công khai tài sản, thu nhập của cán bộ, đảng viên. Hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản, thu nhập; quy định, quy trình, hướng dẫn về xác minh tài sản, thu nhập của cán bộ, đảng viên. Điều động, luân chuyển, chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, đảng viên theo quy định. Cung cấp thông tin định kỳ hoặc đột xuất cho báo chí, truyền thông về kết quả kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Phối hợp chặt chẽ giữa Ủy ban kiểm tra với các tổ chức đảng có liên quan trong xây dựng chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ trong công tác lãnh đạo, quản lý; xây dựng và hoàn thiện các nền tảng ứng dụng trực tuyến trong khai thác dữ liệu phục vụ nhiệm vụ, dịch vụ công. Công khai các kênh thông tin tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, tố giác, phản ánh, kiến nghị về hoạt động công vụ. Hoàn thiện phương pháp đánh giá, chấm điểm năng lực, tinh thần trách nhiệm, hiệu quả công việc của tổ chức đảng, đảng viên. Kịp thời bảo vệ, biểu dương, khen thưởng tổ chức đảng, đảng viên dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. 07 biện pháp phát hiện vi phạm Việc phát hiện vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên thông qua thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình trong tổ chức và hoạt động của tổ chức đảng, trong công tác quản lý đảng viên; kiểm điểm và đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên hằng năm; thông tin, dữ liệu và hoạt động kiểm soát, kê khai, công khai, xác minh tài sản, thu nhập; báo cáo, kiến nghị của tổ chức đảng, cơ quan, tổ chức, cá nhân. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao, phân công của tổ chức đảng, đảng viên; thực hiện trách nhiệm nêu gương, tự giác nhận khuyết điểm, vi phạm trong sinh hoạt cấp ủy, chi bộ. Công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án của các cơ quan chức năng; giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội. Nội dung chất vấn tại kỳ họp của cấp ủy, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân; ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân qua hoạt động tiếp xúc, đối thoại của cấp ủy, chính quyền. Giải quyết khiếu nại, tố cáo, tố giác, kiến nghị của tổ chức, cá nhân; thông tin phản ánh của báo chí, các phương tiện thông tin đại chúng. Công tác phối hợp, cung cấp, trao đổi thông tin, hồ sơ, tài liệu giữa các cơ quan chức năng. Các nguồn tài liệu, thông tin, hoạt động khác theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước. 06 biện pháp ngăn chặn vi phạm Quy định số 285-QĐ/TW của Ban Bí thư nêu rõ, cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra các cấp chủ động theo dõi, dự báo, nắm chắc tình hình; xác minh ngay dấu hiệu vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên để có biện pháp

Đặt Lịch Khám

    Đặt Lịch Khám