BỆNH VIỆN BẮC THĂNG LONG
BAC THANG LONG HOSPITAL

(84) 889 615 815

Email: thugopy.bvbtl@gmail.com

Previous slide
Next slide
0 + NĂM
Hình Thành và Phát Triển
0 +
Giáo sư, Bác sĩ
0 +
Bệnh Nhân
0 %
Khách hàng hài lòng

BỆNH VIỆN BẮC THĂNG LONG

Ngày 03/7/2000 Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội đã ban hành quyết định số 67/QĐ-UB về việc đổi tên “Trung tâm y tế dự phòng than Khu vực Nội Địa” thành “Bệnh viện Bắc Thăng Long” Từ đây Bệnh viện đã trực thuộc Sở Y tế Hà Nội và hoạt động theo đúng ngành dọc của mình. Trụ sở đóng tại: Tổ 18, thị trấn Đông Anh, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.

Bệnh viện Bắc Thăng Long ngày nay với quy mô 420 giường bệnh, 28 khoa, phòng chức năng và 2 bộ phận…

CHUYÊN KHOA NỔI BẬT

ĐỘI NGŨ CHUYÊN GIA

BSCKII. Nguyễn Văn Thành

Phó giám đốc Bệnh viện

ThS. Phùng Văn Dũng

Phó giám đốc Bệnh viện

BSCKII. Trần Xuân Thăng

Phó giám đốc Bệnh viện

TIN TỨC - SỰ KIỆN

Chụp X-quang chỉ vài giây, vì sao phải ‘đủ 6 phút’ mới được thanh toán?

Dù máy móc hiện đại chỉ mất vài giây để chụp X-quang, cơ quan Bảo hiểm xã hội vẫn yêu cầu quy trình phải kéo dài đủ 6 phút mới thanh toán, khiến nhiều bệnh viện bị xuất toán chi phí. Tại hội nghị triển khai công tác khám chữa bệnh năm 2026 ngày 2/2, nhiều bệnh viện phản ánh tình trạng bị cơ quan Bảo hiểm xã hội (BHXH) từ chối thanh toán (xuất toán) chi phí chẩn đoán hình ảnh vì “thời gian thực hiện nhanh hơn định mức”. Cục trưởng Quản lý khám chữa bệnh Hà Anh Đức cho biết quy trình này do Cục xây dựng trước đây nhưng khi áp dụng thực tế lại nảy sinh vấn đề. “Một ca chụp X-quang phải đủ 6 phút, siêu âm phải đủ 30 phút, nhanh hơn thời gian này bảo hiểm y tế không thanh toán. Cục ‘đẻ’ ra quy trình thế đấy, giờ phải làm thế nào cho tốt”, ông Đức đặt vấn đề. Làm rõ nguyên nhân tranh cãi, ông Nguyễn Trọng Khoa, Phó cục trưởng Cục Quản lý Khám chữa bệnh, cho biết mốc thời gian 6 phút hay 30 phút thực chất là định mức kinh tế – kỹ thuật để xây dựng giá dịch vụ y tế, dựa trên nền tảng công nghệ cũ trước đây. Tuy nhiên, vướng mắc nảy sinh khi cơ quan bảo hiểm sử dụng định mức trung bình này làm “thước đo cứng” để giám định. Cụ thể, nếu bệnh viện thực hiện ca chụp nhanh hơn 6 phút – điều rất bình thường với các dòng máy kỹ thuật số hiện đại – hệ thống sẽ cảnh báo sai quy trình và từ chối thanh toán. “Không có lý gì chụp X-quang 6 phút lại chỉ tính thời gian trên máy”, ông Khoa phản biện. Thực tế, quy trình một ca chụp không chỉ là vài giây máy phát tia, mà bao gồm toàn bộ chuỗi thao tác, từ lúc tiếp nhận bệnh nhân, chuẩn bị tư thế, thực hiện kỹ thuật, cho đến khi xử lý hình ảnh, đọc và trả kết quả. Lãnh đạo Cục Quản lý Khám chữa bệnh nhấn mạnh việc áp dụng quy tắc giám định này là không đúng bản chất chuyên môn. Thời gian thực hiện phụ thuộc vào tay nghề bác sĩ và độ khó của từng ca bệnh. Ca dễ chỉ một phút là xác định được, nhưng ca khó thì 15-20 phút mới xong một ca siêu âm, vì vậy “không thể cứng nhắc bắt buộc tất cả phải giống nhau”. Để tháo gỡ tình trạng “bác sĩ ngồi chờ đủ giờ”, Bộ Y tế đã họp với Hội Điện quang và Y học hạt nhân, đồng thời khảo sát thực tế toàn quốc. Cục Quản lý Khám chữa bệnh đang dự thảo văn bản gửi Bộ Tài chính và BHXH Việt Nam đề nghị xem xét lại quy tắc giám định này. Quan điểm của cơ quan chuyên môn là thời gian định mức chỉ nên dùng làm căn cứ tính giá (định mức kinh tế), không phải điều kiện thanh toán. Bộ Y tế đề xuất điều chỉnh theo hướng đưa ra khoảng thời gian trung bình với biên độ dao động nới rộng để phù hợp thực tiễn. Việc giám định cần tập trung vào tính hợp lý của chỉ định và hiệu quả điều trị thay vì bắt bẻ thời gian kỹ thuật. “Việc giám định cần tập trung vào chỉ định có đúng yêu cầu không, có lãng phí không, thay vì bắt bẻ về thời gian kỹ thuật”, ông Khoa nêu quan điểm. Cũng tại hội nghị, vấn đề nợ đọng thanh toán bảo hiểm y tế được nhiều đơn vị quan tâm. Ông Hoàng Trung Tuấn, Phó vụ trưởng Vụ Bảo hiểm Y tế, cho biết tổng số tiền vướng mắc chưa được thanh toán giữa cơ sở khám chữa bệnh và cơ quan bảo hiểm hiện lên tới gần 23.000 tỷ đồng. Trong đó, hơn 10.000 tỷ đồng là các khoản tồn đọng từ năm 2023 trở về trước đang được Bộ Y tế trình Chính phủ xử lý. Riêng năm 2024, số tiền vượt dự kiến chi vào khoảng hơn 8.000 tỷ đồng. Bộ Y tế đề nghị các địa phương gấp rút rà soát để giải quyết dứt điểm trong đợt này. https://vnexpress.net/chup-x-quang-chi-vai-giay-vi-sao-phai-du-6-phut-moi-duoc-thanh-toan-5013281.html

Bộ Y tế hoả tốc nhắc các cơ sở khám chữa bệnh chủ động phòng chống bệnh do virus Nipah

Cục Quản lý Khám chữa bệnh – Bộ Y tế hoả tốc đề nghị các cơ sở khám, chữa bệnh tăng cường thực hiện, kiểm tra, giám sát thực hiện kiểm soát nhiễm khuẩn tại các cơ sở khám, chữa bệnh, thực hiện cách ly nghiêm ngặt tất cả các trường hợp nghi ngờ hoặc xác định mắc virus Nipah tại cơ sở điều trị. Bệnh do virus Nipah là bệnh truyền nhiễm nhóm A, có tỉ lệ tử vong được ghi nhận dao động từ 40-75%, hiện chưa có vắc xin và thuốc điều trị đặc hiệu. Cục quản lý Khám chữa bệnh – Bộ Y tế tối 27/1 đã có văn bản hoả tốc gửi các Bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế; Y tế các Bộ, ngành; Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc chủ động phòng chống bệnh do virus Nipah. Bệnh do virus Nipah là bệnh truyền nhiễm nhóm A, có tỉ lệ tử vong được ghi nhận dao động từ 40-75%, hiện chưa có vắc xin và thuốc điều trị đặc hiệu. Theo Cục Quản lý Khám chữa bệnh, virus lây truyền chủ yếu từ động vật sang người, hoặc tiếp xúc với vật phẩm, thực phẩm bị nhiễm virus và cũng có thể lây truyền từ người sang người (qua tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết, dịch bài tiết của bệnh nhân); thời gian ủ bệnh trong khoảng 4-14 ngày, người nhiễm virus có thể có các triệu chứng: đau đầu, đau cơ, nôn mửa và đau họng, sau đó có thể xuất hiện chóng mặt, buồn ngủ, rối loạn ý thức và các dấu hiệu thần kinh cho thấy viêm não cấp tính. Theo hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm, từ ngày 27/12/2025 – 26/1/2026, Ấn Độ ghi nhận 5 trường hợp nghi ngờ mắc bệnh do virus Nipah, trong đó có 2 trường hợp được xét nghiệm khẳng định, tại một bệnh viện thuộc bang Tây Bengal. Trước nguy cơ bệnh do virus Nipah xâm nhập vào Việt Nam, thực hiện chỉ đạo của lãnh đạo Bộ Y tế, để chủ động phòng chống bệnh do virus Nipah, Cục Quản lý Khám, chữa bệnh đề nghị các cơ sở khám bệnh chữa bệnh trực thuộc Bộ Y tế, Y tế các Bộ, ngành và Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trực thuộc thực hiện các nội dung, cụ thể: Tăng cường công tác phòng, chống dịch bệnh, thực hiện các biện pháp phòng hộ cá nhân đối với nhân viên y tế và người tiếp xúc gần với các trường hợp nghi ngờ hoặc xác định mắc bệnh trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, đặc biệt lưu ý các trường hợp mới đến nước đã hoặc đang có dịch trong vòng 14 ngày. TIN LIÊN QUAN Tăng cường thực hiện, kiểm tra, giám sát thực hiện kiểm soát nhiễm khuẩn tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, thực hiện cách ly nghiêm ngặt tất cả các trường hợp nghi ngờ hoặc xác định mắc virus Nipah tại cơ sở điều trị. Thường xuyên theo dõi, cập nhật thông tin về tình hình dịch bệnh trên thế giới, truyền thông về tình hình dịch bệnh để người dân không hoang mang lo lắng và thực hiện tốt các biện pháp phòng bệnh. Phát hiện sớm các trường hợp nghi ngờ mắc bệnh để cách ly, chẩn đoán, điều trị và kiểm soát. Để chủ động, phòng chống dịch bệnh do virus Nipah, Bộ Y tế đã khuyến cáo người dân thực hiện tốt các biện pháp sau: 1. Hạn chế đến khu vực có dịch bệnh do virus Nipah nếu không thực sự cần thiết. 2. Tự theo dõi sức khỏe, trong vòng 14 ngày kể từ khi về từ vùng dịch, nếu có các triệu chứng như: đau đầu, đau cơ, nôn mửa và đau họng, chóng mặt, buồn ngủ, lú lẫn, co giật cần liên hệ ngay với cơ sở y tế gần nhất, hạn chế tiếp xúc với người khác, thông báo rõ tiền sử dịch tễ cho nhân viên y tế. 3. Đảm bảo vệ sinh thực phẩm: thực hiện “Ăn chín, uống sôi”, rửa sạch và gọt vỏ trái cây trước khi ăn, không ăn, uống các loại trái cây có dấu hiệu bị động vật (dơi, chim) cắn hoặc gặm nhấm; tránh uống nước nhựa cây (như nhựa cây thốt nốt, nhựa dừa sống hoặc chưa qua chế biến). 4. Không tiếp xúc gần với động vật có khả năng lây truyền cao như là dơi ăn quả; thường xuyên rửa tay bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn sau khi giết mổ, tiếp xúc với động vật. 5. Hạn chế tiếp xúc trực tiếp với người bệnh, vật phẩm ô nhiễm từ người bệnh; cần sử dụng khẩu trang, găng tay và đồ bảo hộ cá nhân khi chăm sóc, điều trị người nghi ngờ, mắc bệnh, sau đó rửa tay bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn. https://moh.gov.vn/thong-tin-chi-dao-dieu-hanh/-/asset_publisher/DOHhlnDN87WZ/content/bo-y-te-hoa-toc-nhac-cac-co-so-kham-chua-benh-chu-ong-phong-chong-benh-do-virus-nipah?inheritRedirect=false&redirect=https%3A%2F%2Fmoh.gov.vn%3A443%2Fthong-tin-chi-dao-dieu-hanh%3Fp_p_id%3D101_INSTANCE_DOHhlnDN87WZ%26p_p_lifecycle%3D0%26p_p_state%3Dnormal%26p_p_mode%3Dview%26p_p_col_id%3Drow-3-column-3%26p_p_col_count%3D2 Đọc thêm: [Infographic] – 5 điều cần lưu ý để phòng bệnh do virus Nipah Bộ Y tế: Việt Nam chưa ghi nhận trường hợp mắc bệnh do virus Nipah Chuyên gia khuyến cáo chủ động phòng tránh dịch bệnh do virus Nipah

Đại hội XIV của Đảng thành công – Khởi đầu một kỷ nguyên phát triển mới của đất nước

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã thành công tốt đẹp và bế mạc trong không khí trang trọng, trách nhiệm và tràn đầy niềm tin và hy vọng. Đại hội không chỉ khép lại một nhiệm kỳ với nhiều dấu ấn quan trọng, mà quan trọng hơn, đã mở ra một kỷ nguyên phát triển mới của đất nước – thời kỳ được dẫn dắt bởi tầm nhìn chiến lược dài hạn, khát vọng vươn lên mạnh mẽ và quyết tâm nâng cao năng lực quản trị quốc gia, nâng cao hình ảnh, vị thế Việt Nam trong thời đại mới. Theo định hướng lớn mà Đại hội XIV đề ra, phát triển đất nước trong giai đoạn tới phải dựa trên tự chủ chiến lược, đổi mới mô hình tăng trưởng, phát huy mạnh mẽ khoa học- công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đồng thời hoàn thiện thể chế phát triển, nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thực thi. Đây không chỉ là những mục tiêu phát triển, mà là những lựa chọn chiến lược có tính nền tảng, định hình tương lai đất nước trong trung và dài hạn. Đại hội của tầm nhìn chiến lược và lựa chọn phát triển đúng Một điểm nổi bật của Đại hội XIV là việc xác lập tầm nhìn phát triển dài hạn, gắn kết chặt chẽ các mục tiêu của giai đoạn 2026- 2030 với tầm nhìn đến năm 2045. Đại hội nhấn mạnh yêu cầu xây dựng mô hình tăng trưởng mới, chuyển mạnh từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu, từ dựa nhiều vào khai thác tài nguyên và lao động giản đơn sang dựa vào tri thức, công nghệ, năng suất, chất lượng và hiệu quả. Đại hội xác định rõ khoa học- công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực chủ yếu của tăng trưởng, đồng thời khẳng định vai trò quan trọng của kinh tế tư nhân trong việc huy động và phát huy các nguồn lực xã hội cho phát triển. Cùng với đó là yêu cầu thực hiện đồng bộ các chuyển đổi lớn: chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong bối cảnh thế giới tiếp tục biến động nhanh, cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt và tái cấu trúc chuỗi giá trị toàn cầu diễn ra sâu rộng, Đại hội XIV đã chủ động đặt Việt Nam vào quỹ đạo phát triển tự chủ, bền vững và có khả năng thích ứng cao. Có thể khẳng định, Đại hội XIV đã lựa chọn con đường phát triển đúng đắn cho tương lai đất nước, hướng đến 2 mục tiêu quan trọng: 100 năm thành lập Đảng và 100 thành lập nước. Đại hội mở ra một giai đoạn cải cách mạnh mẽ về thể chế và tổ chức thực thi Không né tránh những vấn đề đặt ra từ thực tiễn, Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện thể chế, đổi mới tổ chức bộ máy và nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi. Theo tinh thần Đại hội, thể chế không chỉ là khuôn khổ pháp luật, mà là yếu tố quyết định chất lượng vận hành của nền kinh tế và của toàn bộ hệ thống quản trị quốc gia. Đại hội yêu cầu xác định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ, phân cấp, phân quyền, phân công và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức từ Trung ương đến địa phương; bảo đảm bộ máy vận hành thông suốt, đồng bộ, nhịp nhàng; đồng thời nâng cao chất lượng giám sát, phản biện và trách nhiệm giải trình. Tinh thần cải cách được thể hiện rõ ở yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy kiến tạo phát triển và phục vụ, lấy hiệu quả thực tế, sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo. Điều đó cho thấy, trong giai đoạn phát triển mới, cải cách thể chế không còn là yêu cầu mang tính dài hạn, mà đã trở thành nhiệm vụ hành động cấp bách. Đại hội củng cố niềm tin xã hội – nguồn lực phát triển quan trọng nhất Thành công của Đại hội XIV còn được thể hiện ở sự đồng thuận cao trong Đảng, sự quan tâm rộng rãi và kỳ vọng lớn của nhân dân. Đại hội tiếp tục khẳng định tư tưởng “Dân là gốc”, coi người dân vừa là trung tâm, vừa là chủ thể của sự phát triển. Niềm tin xã hội được củng cố trên ba nền tảng quan trọng: đường lối phát triển rõ ràng, nhất quán và có tầm nhìn dài hạn; quyết tâm chính trị mạnh mẽ trong đổi mới và cải cách; và trách nhiệm tổ chức thực hiện được đặt lên vị trí trung tâm. Đại hội nhấn mạnh, phát triển không chỉ nhằm đạt các mục tiêu tăng trưởng, mà quan trọng hơn là nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội và củng cố sự gắn kết xã hội. Khi niềm tin được củng cố, xã hội sẽ hình thành sức mạnh cộng hưởng, khơi dậy khát vọng cống hiến và tinh thần sáng tạo trong toàn dân. Đây chính là nguồn lực nội sinh bền vững và lâu dài nhất cho sự phát triển của đất nước. Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu tại phiên bế mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Từ tinh thần Đại hội đến hành động quốc gia Đại hội XIV là điểm khởi đầu cho một giai đoạn hành động mới. Đại hội nhấn mạnh yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực tổ

Đại hội lần thứ XIV của Đảng: Hướng tới nền y tế hiện đại, lấy người bệnh làm trung tâm

Ngành Y tế quyết tâm xây dựng hệ thống y tế hiện đại, công bằng, hiệu quả, hướng tới bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân, để mọi người dân được sống lâu, sống khỏe, sống lành mạnh. Nhiều mục tiêu vượt bậc Trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân hướng về Đại hội lần thứ XIV của Đảng, ngành Y tế cũng đang nỗ lực với nhiều mục tiêu vượt bậc, hướng tới nền y tế hiện đại, lấy người bệnh làm trung tâm. Về định hướng của ngành Y tế trong giai đoạn mới, Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan cho biết: Năm 2026 là năm đầu của nhiệm kỳ mới, có ý nghĩa quan trọng tạo nền tảng thực hiện các mục tiêu đến năm 2030. Nhiệm kỳ 2026-2030 cũng mở ra một tầm nhìn mới, một kỳ vọng lớn lao đối với sự phát triển của đất nước nói chung và ngành y tế nói riêng. Cả hệ thống chính trị đang bước vào kỳ nguyên phát triển, đòi hỏi ngành y tế phải bứt phá, chủ động và phải quyết tâm thay đổi, ngành Y tế phải khẳng định vai trò trung tâm trong bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, đưa y tế Việt Nam phát triển theo hướng hiện đại, công bằng. Để thực hiện các mục tiêu trong thời gian tới, ngành Y tế tập trung triển khai đồng bộ các nhiệm vụ về xây dựng và hoàn thiện thể chế, kiện toàn tổ chức bộ máy, cải cách hành chính, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, tăng cường y tế dự phòng, bảo đảm cung ứng thuốc, vaccine, đổi mới cơ chế tài chính y tế và mở rộng hợp tác quốc tế… Theo Bộ trưởng Đào Hồng Lan, bước sang giai đoạn 2026-2030, ngành Y tế tiếp tục đổi mới toàn diện theo các định hướng lớn của Đảng và Nhà nước, trọng tâm là Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị và Chỉ thị số 52-CT/TW của Ban Bí thư. Mục tiêu tổng quát là xây dựng hệ thống y tế hiện đại, công bằng, hiệu quả, hướng tới bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân, để mọi người dân được sống lâu, sống khỏe, sống lành mạnh. Ngành Y tế phấn đấu đến năm 2030, tuổi thọ trung bình của người dân tăng lên khoảng 75,5 tuổi; kiểm soát tốt các bệnh không lây nhiễm; duy trì tỷ lệ tiêm chủng cao; cơ bản chấm dứt AIDS, lao và loại trừ sốt rét; bảo đảm an ninh y tế trong mọi tình huống. Bên cạnh đó, các định hướng lớn của ngành như: Hoàn thiện thể chế pháp luật y tế; sắp xếp hệ thống y tế tinh gọn, hiệu quả; nâng cao năng lực y tế cơ sở và y tế dự phòng; phát triển nguồn nhân lực y tế chất lượng cao; bảo đảm tự chủ thuốc, vắc xin và trang thiết bị y tế; đẩy mạnh chuyển đổi số và đổi mới tài chính y tế hướng tới bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân… tạo bước chuyển mạnh mẽ trong nâng cao sức khỏe nhân dân, góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước trong giai đoạn mới. Thực hiện hiệu quả Nghị quyết 72 Chia sẻ bên lề Đại hội lần thứ XIV của Đảng, Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan cho rằng: Thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, cơ chế, chính sách quan trọng nhằm thúc đẩy phát triển ngành y tế. Trong đó, Nghị quyết số 72-NQ/TW do Bộ Chính trị ban hành vừa qua là văn bản định hướng mang tính đột phá, tạo cơ sở cho sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe Nhân dân; trên cơ sở lấy sức khỏe người dân là vốn quý nhất và là trọng tâm cho sự phục vụ. Nghị quyết 72 đã tháo gỡ nhiều “điểm nghẽn” trong lĩnh vực y tế mà thời gian dài vừa qua chưa được giải quyết một cách căn cơ. Trong đó, Nghị quyết đã định hướng thay vì tập trung chủ yếu vào khám bệnh, chữa bệnh; chuyển sang chăm sóc sức khỏe toàn diện; nâng cao vai trò, tầm quan trọng của công tác phòng bệnh; chăm sóc sức khỏe của người dân từ sớm, từ xa… Công tác chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe của nhân dân sẽ gắn chặt với quản lý, chăm sóc sức khỏe toàn diện theo vòng đời. Đến nay, sau ba tháng triển khai Nghị quyết số 72-NQ/TW, dưới sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt của Chính phủ và sự phối hợp chặt chẽ của các Bộ, ngành, việc giải quyết các “điểm nghẽn” trong lĩnh vực y tế đã có những chuyển biến bước đầu. Đối với Bộ Y tế, theo Bộ trưởng Đào Hồng Lan, thời gian tới, Bộ sẽ tiếp tục rà soát, hoàn thiện các quy định, cơ chế nhằm tháo gỡ các “điểm nghẽn”, bảo đảm triển khai đồng bộ các giải pháp đã nêu trong Nghị quyết 72. Bộ Y tế đã đăng ký chương trình xây dựng luật giai đoạn 5 năm tới và các năm tiếp theo; trong đó, nâng cao chất lượng xây dựng thể chế được xác định là một nhiệm vụ trọng tâm, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn và khắc phục những khoảng trống trong quá trình tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân. Theo đó, tại kỳ họp thứ XV của Quốc hội vừa qua, Bộ Y tế đã tham mưu nhiều nhiều nội dung như: Xây dựng Nghị quyết của Quốc hội về các giải pháp đặc thù, đột phá trong lĩnh vực chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân; trình Quốc hội thông qua Luật Phòng

Bệnh viện Bắc Thăng Long: tổ chức khám sức khỏe định kì cho cán bộ xã Thư Lâm

Ngày 24/01, Bệnh viện Bắc Thăng Long đã tổ chức chương trình khám sức khoẻ định kỳ cho cán bộ xã Thư Lâm, mục đích nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe ban đầu, phát hiện sớm và phòng ngừa các bệnh lý thường gặp. Việc khám sức khoẻ định kỳ cho cán bộ còn là cơ sở để đánh giá, phân loại sức khỏe cán bộ theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế. Nội dung khám bao gồm: khám lâm sàng tổng quát (Nội, Ngoại, Sản, Mắt, Tai mũi họng, Răng hàm mặt…); cận lâm sàng: xét nghiệm, siêu âm…; tư vấn sức khỏe, tư vấn dinh dưỡng, vận động. Hoạt động không chỉ góp phần chăm sóc sức khỏe thể chất mà còn nâng cao nhận thức về phòng bệnh, tự theo dõi và bảo vệ sức khỏe cho đội ngũ cán bộ xã. Dưới đây là một số hình ảnh hoạt động: Phòng CTXH

Bệnh viện Bắc Thăng Long thông báo: Kết quả kỳ thi tuyển dụng viên chức năm 2025

Ngày 19/01/2026, Giám đốc bệnh viện Bắc Thăng Long đã ký Quyết định số 18/QĐ-BVBTL về việc công nhận kết quả tuyển dụng viên chức năm 2025 Kỳ thi tuyển dụng viên chức năm 2025 là một phần trong kế hoạch phát triển nhân lực giai đoạn mới của Bệnh viện Bắc Thăng Long, hướng tới mục tiêu xây dựng đội ngũ y tế chuyên nghiệp, tận tâm, vững chuyên môn, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của người dân. Công tác tổ chức thi tuyển được chuẩn bị chu đáo từ cơ sở vật chất, trang thiết bị đến quy trình coi thi và chấm thi. Hội đồng tuyển dụng đã huy động đội ngũ cán bộ có kinh nghiệm, phối hợp cùng các khoa/phòng chức năng để đảm bảo kỳ thi diễn ra nghiêm túc, đúng quy định, không để xảy ra sai sót. Sau 1 tuần làm việc khẩn trương, nghiêm túc, công tâm và trách nhiệm. Hội đồng tuyển dụng đã lựa chọn được những người có năng lực, chuyên môn, phẩm chất tốt và tinh thần trách nhiệm cao, sẵn sàng cống hiến lâu dài cho bệnh viện và sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân. Xem chi tiết Quyết định 18 tại đây

Chính thức giảm tới 70% tiền sử dụng đất khi chuyển đổi đất vườn, ao sang đất ở

Chính phủ vừa chính thức ban hành Nghị định số 50/2026/NĐ-CP, mở ra cơ chế ưu đãi chưa từng có: Giảm sâu tiền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân khi chuyển mục đích từ đất vườn, ao, đất nông nghiệp sang đất ở. Đây được xem là “chìa khóa” tháo gỡ điểm nghẽn tài chính, giúp người dân dễ dàng hợp thức hóa quyền sử dụng đất. Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 50/2026 quy định chi tiết Nghị quyết số 254/2025 của Quốc hội. Điểm nhấn quan trọng nhất của Nghị định này là các quy định “cởi trói” về tài chính đất đai, đặc biệt là cách tính tiền sử dụng đất đối với đất vườn, ao gắn liền với nhà ở. Chính phủ chính thức ban hành Nghị định hướng dẫn giảm tiền sử dụng đất cho người dân khi chuyển mục đích sử dụng đất. Theo quy định mới tại Nghị định 50/2026, các hộ gia đình, cá nhân khi thực hiện chuyển mục đích sử dụng đất từ đất vườn, ao, đất nông nghiệp (có nguồn gốc gắn liền với đất ở) sang đất ở sẽ được hưởng mức ưu đãi đặc biệt. Cụ thể, công thức tính tiền sử dụng đất mới được áp dụng như sau: Giảm 70% tiền sử dụng đất đối với diện tích nằm trong hạn mức giao đất ở. Giảm 50% tiền sử dụng đất đối với diện tích vượt hạn mức (nhưng không quá 1 lần hạn mức giao đất ở tại địa phương). Đối với phần diện tích vượt quá mức trên (vượt quá 1 lần hạn mức), người dân sẽ phải đóng 100% chênh lệch giữa giá đất ở và giá đất nông nghiệp, không được hưởng chính sách giảm. Giá đất để tính tiền sử dụng đất là giá tại Bảng giá đất do UBND cấp tỉnh ban hành, áp dụng tại thời điểm người dân nộp đủ hồ sơ hợp lệ. Để đảm bảo công bằng và tránh trục lợi chính sách, Nghị định 50/2026 quy định rõ nguyên tắc “một lần cho một hộ gia đình/cá nhân”. Người dân được quyền tự lựa chọn một thửa đất (trong trường hợp sở hữu nhiều thửa đất, kể cả ở các tỉnh/thành phố khác nhau) để áp dụng mức giảm sâu này. Tại đơn đề nghị chuyển mục đích sử dụng đất, chủ sở hữu phải cam kết về việc chưa từng hưởng ưu đãi và chịu hoàn toàn trách nhiệm về cam kết đó. Từ lần chuyển mục đích thứ hai trở đi (trên cùng thửa đất hoặc thửa khác), tiền sử dụng đất sẽ được tính bằng 100% chênh lệch giữa tiền sử dụng đất theo giá đất ở và giá đất nông nghiệp tại thời điểm có quyết định cho phép chuyển mục đích. Cảnh báo: Nếu cơ quan chức năng phát hiện người dân đã hưởng ưu đãi nhưng vẫn gian dối để xin áp dụng lần nữa, hồ sơ sẽ được chuyển sang cơ quan thuế. Khi đó, người dân không chỉ bị truy thu đủ 100% tiền chênh lệch mà còn phải nộp thêm khoản tiền chậm nộp tính từ thời điểm có quyết định chuyển mục đích sử dụng đất. Nghị định cũng hướng dẫn chi tiết các tình huống pháp lý phức tạp thường gặp trong thực tế. Đối với trường hợp tách hộ: Hộ gia đình mới hình thành do tách hộ theo quy định pháp luật vẫn được tính là một đối tượng độc lập để hưởng chính sách ưu đãi này. Trường hợp đất đồng sở hữu (nhiều hộ/cá nhân chung quyền): Nếu đã tách thửa riêng, mỗi hộ/cá nhân được tính diện tích trong hạn mức theo từng thửa đất đã có sổ hồng riêng. Nếu không tách thửa, hạn mức giao đất ở chỉ được tính cho một người đại diện của nhóm đồng sở hữu, không được cộng dồn hạn mức của tất cả các thành viên. Đáng chú ý, việc xác định số lần chuyển mục đích, hạn mức giao đất và lựa chọn thửa đất để áp dụng ưu đãi này được tính mốc thời gian từ ngày 01/8/2024. Bên cạnh tin vui cho người dân, Nghị định 50/2026 cũng quy định rõ cơ chế tài chính cho các nhà đầu tư dự án. Theo đó, nếu nhà đầu tư tự nguyện ứng trước kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư (theo phương án đã duyệt), số tiền này sẽ được khấu trừ vào tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp. Việc khấu trừ áp dụng cho toàn bộ dự án hoặc theo từng quyết định giao đất (đối với dự án giao đất nhiều lần theo tiến độ). Tuy nhiên, Nghị định lưu ý khoản tiền ứng trước này sẽ không được khấu trừ cho khoảng thời gian sử dụng đất tăng thêm do được gia hạn hoặc điều chỉnh thời gian sử dụng đất. Nghị định số 50/2026 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 31/01/2026. https://vnbusiness.vn/chinh-thuc-giam-toi-70-tien-su-dung-dat-khi-chuyen-doi-dat-vuon-ao-sang-dat-o.html

Quy định bảo đảm an toàn bức xạ trong y tế

Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Thông tư 59/2025/TT-BKHCN quy định về bảo đảm an toàn bức xạ và ứng phó sự cố bức xạ và hạt nhân, trong đó quy định về bảo đảm an toàn bức xạ trong y tế. Yêu cầu chung về bảo đảm an toàn đối với thiết bị bức xạ, thiết bị sử dụng trong y học hạt nhân Thông tư nêu rõ các yêu cầu chung về bảo đảm an toàn đối với thiết bị bức xạ, thiết bị sử dụng trong y học hạt nhân: Thiết bị bức xạ sử dụng cho chẩn đoán, điều trị bệnh và thiết bị được sử dụng trong y học hạt nhân phải có chứng chỉ chất lượng thể hiện việc đáp ứng các yêu cầu về bảo đảm an toàn theo tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. Trường hợp không có tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia thì áp dụng tiêu chuẩn quốc tế tương đương của Ủy ban Kỹ thuật điện quốc tế (IEC), Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO). Có tài liệu kèm theo thiết bị, bao gồm tài liệu về thông số kỹ thuật của thiết bị, hướng dẫn vận hành và bảo trì, hướng dẫn an toàn. Tài liệu hướng dẫn vận hành, hướng dẫn an toàn phải được dịch ra tiếng Việt. Chỉ dẫn vận hành, ký hiệu viết tắt và giá trị vận hành trên bảng điều khiển của thiết bị bức xạ phải bằng tiếng Việt hoặc bằng ngôn ngữ phù hợp với ngôn ngữ mà người vận hành máy sử dụng. Thiết bị bức xạ phải có cơ cấu kiểm soát chùm tia bức xạ, bảo đảm chỉ thị rõ ràng và tin cậy trạng thái chùm tia đang “ngắt” hay “mở”. Thiết bị bức xạ phải có cơ cấu để khu trú chùm tia cho mục đích kiểm soát chùm tia chỉ vào vùng cơ thể người bệnh cần chẩn đoán hoặc điều trị. Trường bức xạ phát ra trong vùng để chẩn đoán hay điều trị trên người bệnh phải đồng đều; mức độ không đồng đều của trường bức xạ phải được nhà cung cấp chỉ rõ trong tài liệu kỹ thuật của thiết bị. Yêu cầu an toàn đối với thiết bị X-quang chẩn đoán dùng trong y tế Theo Thông tư, thiết bị X-quang chẩn đoán dùng trong y tế ngoài việc thực hiện các yêu cầu chung về bảo đảm an toàn đối với thiết bị bức xạ, thiết bị sử dụng trong y học hạt nhân còn phải bảo đảm các yêu cầu sau: Mức bức xạ rò của đầu bóng phát tia X không vượt quá 1 mGy/giờ tại khoảng cách 1m từ vỏ đầu bóng phát tia X lấy trung bình trên diện tích không vượt quá 100 cm2 cho mọi chế độ làm việc của thiết bị được nhà sản xuất khuyến cáo; giá trị lọc cố định của hệ đầu bóng phát X-quang trong đơn vị milimét nhôm tương đương (mm Al) phải ghi rõ trên vỏ hộp chứa bóng. Có hệ kiểm tra kích thước chùm tia bằng nguồn sáng, trừ thiết bị X- quang chụp răng sử dụng phim đặt sau huyệt ổ răng và thiết bị X-quang chụp vú; các thông số điện áp phát (kV), dòng bóng phát (mA), thời gian phát tia (s) hoặc hàng số phát tia (mAs) phải được hiển thị trên tủ điều khiển khi đặt chế độ làm việc và khi chụp. Đối với thiết bị X-quang có chế độ chụp, việc phát tia phải được chấm dứt sau khi đạt được giá trị đặt trước như: thời gian hoặc giá trị mAs hoặc giá trị liều chiếu xạ. Đối với thiết bị X-quang có chế độ chiếu, chụp phải có bộ kiểm soát chế độ phát tia tự động (AEC) hoặc công tắc điều khiển phát tia dạng bấm và giữ, bảo đảm thiết bị chỉ phát tia nếu công tắc được bấm, giữ chặt và ngừng phát tia khi thả công tắc. Thiết bị X-quang di động phải có cáp nối đủ dài để bảo đảm khoảng cách giữa người vận hành thiết bị và bóng phát tối thiểu 2 mét. Đối với thiết bị bức xạ khác, khoảng cách này tối thiểu là 3m. Thiết bị X-quang tăng sáng truyền hình dùng trong can thiệp phải có các tấm che chắn cao su chì lắp tại bàn người bệnh để che chắn các tia bức xạ ảnh hưởng đến nhân viên và hệ che chắn treo trên trần để sử dụng cho mục đích bảo vệ mắt và tuyến giáp của nhân viên khi theo dõi người bệnh. Các tấm che chắn cao su chì phải bảo đảm có chiều dày che chắn không nhỏ hơn 0,5 milimét chì tương đương. Ngoài ra, Thông tư còn quy định các yêu cầu an toàn đối với thiết bị xạ trị; yêu cầu an toàn đối với nguồn phóng xạ kín và thuốc phóng xạ; yêu cầu an toàn đối với thiết bị đo bức xạ, thiết bị và dụng cụ bảo vệ an toàn bức xạ… Xem chi tiết Thông tư tại đây https://baochinhphu.vn/quy-dinh-bao-dam-an-toan-buc-xa-trong-y-te-102260122105314144.htm

Truyền thông chính sách: Chìa khóa để pháp luật đi vào cuộc sống

Theo Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng, truyền thông chính sách cần được coi là quy trình bắt buộc trong xây dựng và thi hành pháp luật, thực hiện sớm, bài bản và đồng bộ, nhằm nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận xã hội và bảo đảm hiệu lực thực thi pháp luật.   Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng chủ trì Phiên họp của Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật Trung ương – Ảnh: Báo Chính phủ Sáng 15.1, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng, Ủy viên Trung ương Đảng, chủ trì Phiên họp của Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật Trung ương đánh giá kết quả triển khai nhiệm vụ năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026. Phiên họp có sự tham dự của đại diện các bộ, cơ quan ngang bộ cùng các cơ quan báo chí chủ lực như Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam. Đổi mới mạnh mẽ phổ biến, giáo dục pháp luật trong giai đoạn mới Theo Bộ Tư pháp, năm 2025, Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật Trung ương và Bộ Tư pháp – Cơ quan thường trực của Hội đồng – đã chủ động ban hành theo thẩm quyền hoặc tham mưu trình Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Hội đồng ban hành 48 văn bản để triển khai các nhiệm vụ. Đồng thời, đôn đốc, chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương kịp thời tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) đối với các luật, nghị quyết được Quốc hội thông qua tại các kỳ họp thứ 8, 9, 10 và kỳ họp bất thường thứ 9. Trong năm 2025, cả nước đã tổ chức hơn 216.000 hoạt động PBGDPL trực tiếp, thu hút trên 23 triệu lượt người tham dự; tổ chức gần 5.000 cuộc thi tìm hiểu pháp luật với hơn 2 triệu lượt người tham gia. Nhiều bộ, ngành, địa phương triển khai tích cực như Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Tài chính và các tỉnh: Tuyên Quang, Đồng Nai, Tây Ninh, Vĩnh Long, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Thanh Hóa… Cơ quan Thường trực Hội đồng đã tổng hợp, phân loại hàng trăm mô hình PBGDPL hiệu quả, đồng thời chỉ đạo nhân rộng, đặc biệt là các mô hình ứng dụng công nghệ số. Trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, Bộ Tư pháp đã phối hợp các bộ, ngành nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung Nghị định số 55/2019/NĐ-CP; phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức hội thảo nhận diện các điểm nghẽn trong lĩnh vực đất đai; tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Đồng thời, Bộ Tư pháp đã trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình “Hỗ trợ pháp lý liên ngành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh giai đoạn 2026–2030”. Cơ quan Thường trực Hội đồng cũng đã tổ chức các đoàn công tác làm việc với các cơ quan báo chí, truyền thông chủ lực để nắm bắt tình hình triển khai công tác truyền thông chính sách, PBGDPL. Nhân rộng mô hình hiệu quả, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số Các cơ quan báo chí trung ương đã chủ động tham gia sâu vào truyền thông chính sách. Đài Truyền hình Việt Nam xây dựng chuyên mục “Tiêu điểm chính sách” về các chính sách có tác động lớn đến xã hội, được người dân và doanh nghiệp ghi nhận, đánh giá cao. Nhiều bộ, ngành, cơ quan trung ương như Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Y tế, Bộ Tư pháp cùng các cơ quan báo chí chủ lực đã lồng ghép các chuyên mục, chuyên trang, dòng sự kiện về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả truyền thông chính sách. Thứ trưởng Bộ Tư pháp khẳng định, năm 2025, Hội đồng các cấp đã triển khai nhiệm vụ kịp thời, đa dạng về hình thức, chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số. Kết quả hoạt động của Hội đồng góp phần nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành về vai trò của công tác PBGDPL, trợ giúp pháp lý; bảo đảm quyền được thông tin pháp luật của người dân và doanh nghiệp. Đại diện Bộ Công an cho biết, Bộ đã triển khai nhiều mô hình PBGDPL thiết thực như phối hợp tuyên truyền pháp luật cho phạm nhân tại các trại giam; tổ chức các cuộc thi viết, cấp phát hàng nghìn đầu sách pháp luật, tủ sách pháp luật. Đồng thời, đổi mới hình thức tuyên truyền pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa, gắn nội dung pháp luật với đời sống thực tiễn. Truyền thông chính sách phải đồng bộ, bài bản Phát biểu kết luận phiên họp, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ghi nhận và đánh giá cao những nỗ lực, kết quả đạt được của Hội đồng trong năm 2025, góp phần nâng cao hiệu quả công tác PBGDPL, trợ giúp pháp lý và hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Tuy nhiên, Phó Thủ tướng cũng chỉ rõ một số tồn tại, hạn chế như tiến độ thực hiện một số nhiệm vụ còn chậm, phối hợp liên ngành chưa chặt chẽ; truyền thông chính sách chưa thực sự hiệu quả, việc bố trí và sử dụng kinh phí còn vướng mắc. Nhấn mạnh nhiệm vụ năm 2026, Phó Thủ tướng

Thanh niên “3 không” – khoảng trống kép về tâm lý và an sinh xã hội

Trong bức tranh phát triển kinh tế – xã hội hiện nay, thanh niên luôn được xác định là lực lượng lao động nòng cốt, giữ vai trò quan trọng trong tăng trưởng và phát triển dài hạn của đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh bộ phận thanh niên có việc làm ổn định, được đào tạo bài bản và tham gia đầy đủ các chính sách an sinh xã hội, vẫn tồn tại một nhóm không nhỏ rơi vào tình trạng “3 không”: không có việc làm, không tham gia học tập và đào tạo. Đây là nhóm đối tượng đang đứng trước nhiều rủi ro và trở thành khoảng trống đáng lo ngại trong hệ thống an sinh xã hội. Theo số liệu thống kê được tổng hợp từ báo cáo của Cục Thống kê (Tổng cục Thống kê – Bộ Tài chính) về tình hình lao động, việc làm quý IV và cả năm 2025, chỉ tính riêng trong quý IV/2025, cả nước có khoảng 1,4 triệu thanh niên không có việc làm, không tham gia học tập và đào tạo, chiếm 10,2% tổng số thanh niên cả nước. Những con số này phản ánh rõ thực trạng một bộ phận người trẻ đang gặp khó khăn trong tiếp cận việc làm bền vững, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với công tác định hướng nghề nghiệp, đào tạo kỹ năng và tạo việc làm cho lao động trẻ trong bối cảnh thị trường lao động đang chịu tác động mạnh mẽ của chuyển đổi số và phát triển khoa học – công nghệ. Thực tế cho thấy, thanh niên “3 không” chủ yếu làm việc trong khu vực phi chính thức, lao động tự do, việc làm thời vụ hoặc ngắn hạn. Thu nhập của nhóm này thường thấp, thiếu ổn định và dễ bị tổn thương trước các cú sốc kinh tế – xã hội. Việc không có hợp đồng lao động đồng nghĩa với việc không được bảo vệ bởi pháp luật lao động, không được tham gia BHXH bắt buộc, không có bảo hiểm thất nghiệp và không có lương hưu khi hết tuổi lao động. Những rủi ro này khiến cuộc sống của người trẻ luôn tiềm ẩn bất ổn, nhất là khi gặp phải các biến cố về sức khỏe hoặc mất nguồn thu nhập. Chia sẻ về thực trạng này, anh Lê Tuấn Hùng, đại diện Công ty Phát triển nhân sự Hoàng Hà (Hà Nội), cho rằng nhiều bạn trẻ cần nhìn nhận lại kỳ vọng nghề nghiệp của bản thân, có cái nhìn thực tế hơn về thị trường lao động và sẵn sàng bắt đầu từ những công việc phù hợp với năng lực hiện có. Theo anh Hùng, việc chấp nhận làm việc, rèn luyện kỷ luật và thái độ nghề nghiệp từ những vị trí ban đầu sẽ tạo nền tảng quan trọng để người trẻ từng bước nâng cao tay nghề, gia tăng giá trị bản thân và mở rộng cơ hội việc làm trong tương lai. Cùng với đó, người trẻ cần chủ động học tập, trang bị thêm kỹ năng mới, mạnh dạn bước ra khỏi vùng an toàn và thích nghi với yêu cầu của thị trường lao động hiện đại. Trong bối cảnh nhiều ngành nghề truyền thống bị thu hẹp, việc tiếp cận kỹ năng số, ngoại ngữ và các kỹ năng mềm trở thành yếu tố then chốt giúp thanh niên nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng tham gia vào khu vực việc làm chính thức. Không chỉ đối mặt với rủi ro về kinh tế, nhóm thanh niên “3 không” còn chịu áp lực lớn về tâm lý. Việc thiếu một “tấm lưới” an sinh khiến nhiều người trẻ sống trong trạng thái lo lắng, bất an, e ngại rủi ro, thậm chí trì hoãn những quyết định quan trọng của cuộc đời như lập gia đình, sinh con hay đầu tư học tập nâng cao kỹ năng. Khoảng trống an sinh vì thế không chỉ là câu chuyện của chính sách, mà còn tác động trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực và sự phát triển bền vững của xã hội trong dài hạn. Thực tế cũng cho thấy, một bộ phận thanh niên hiện nay vẫn còn tâm lý coi trọng thu nhập trước mắt, xem việc tham gia BHXH, BHYT là một khoản chi phí thay vì là sự đầu tư cho tương lai. Khi còn trẻ, khỏe mạnh, nhiều người ít quan tâm đến rủi ro ốm đau, tai nạn hay tuổi già không có nguồn thu nhập ổn định. Chính tâm lý chủ quan này khiến tỷ lệ tham gia BHXH tự nguyện và BHYT hộ gia đình trong nhóm thanh niên “3 không” còn ở mức thấp, làm gia tăng nguy cơ mất an sinh khi gặp biến cố. Trong bối cảnh đó, BHXH và BHYT được xác định là hai trụ cột quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội, góp phần bảo vệ người lao động nói chung và thanh niên nói riêng trước những rủi ro của cuộc sống và thị trường lao động. BHYT giúp người trẻ tiếp cận dịch vụ y tế kịp thời, giảm gánh nặng chi phí khám chữa bệnh, đặc biệt trong những tình huống phát sinh đột ngột. BHXH tự nguyện tạo nền tảng an sinh lâu dài, giúp người lao động có nguồn thu nhập ổn định khi hết tuổi lao động, giảm nguy cơ rơi vào nghèo đói khi về già. Những năm qua, việc tuân thủ Luật BHXH, Luật BHYT trong các cơ quan, doanh nghiệp ngày càng được nâng cao, tạo điều kiện để lao động trẻ tham gia BHXH, BHYT từ sớm và đúng quy định. Tuy nhiên, để thu hẹp khoảng trống an sinh đối với nhóm thanh niên “3 không”, cần có sự vào cuộc đồng bộ của cả

HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU

Ca thông tim xuyên qua bào thai nhanh nhất Việt Nam

Chỉ trong chưa đầy 30 phút, ê-kíp Bệnh viện Từ Dũ và Nhi Đồng 1 (TP.HCM) đã can thiệp thông tim bào thai thành công, lập dấu mốc ca thực hiện nhanh nhất Việt Nam. Lúc 10h ngày 30/12, ê-kíp bác sĩ chuyên khoa Sản – Can thiệp bào thai – Tim mạch can thiệp của Bệnh viện Từ Dũ phối hợp cùng Bệnh viện Nhi đồng 1 đã thực hiện thành công ca can thiệp thông tim bào thai cho một thai nhi mắc tim bẩm sinh phức tạp. Với thời gian thực hiện dưới 30 phút, đây được xem là ca thông tim bào thai nhanh nhất từ trước đến nay tại Việt Nam, đánh dấu bước tiến nổi bật của y học bào thai trong nước. Thai nhi được chẩn đoán hẹp van động mạch phổi nặng kèm thiểu sản thất phải tiến triển, một dạng tim bẩm sinh phức tạp, có nguy cơ cao diễn tiến thành tim một thất sau sinh nếu không được can thiệp kịp thời. Thai phụ là chị N.T.T.T. (26 tuổi, ngụ TP.HCM), mang thai lần hai, thai kỳ tự nhiên. Chồng của thai phụ là người Malaysia, luôn đồng hành và phối hợp chặt chẽ cùng gia đình và đội ngũ y tế trong suốt quá trình theo dõi, hội chẩn và quyết định can thiệp. Theo hồ sơ theo dõi, ở tam cá nguyệt thứ nhất, các lần khám thai chưa ghi nhận bất thường. Xét nghiệm sàng lọc trước sinh NIPT cho kết quả nguy cơ thấp. Tuy nhiên, đến khoảng tuần thai 22-24, qua siêu âm tim thai chuyên sâu, các bác sĩ phát hiện bất thường tim bẩm sinh gồm hẹp van động mạch phổi nặng kèm hở van ba lá. Thai phụ sau đó được chuyển đến theo dõi và hội chẩn tại Bệnh viện Từ Dũ và Bệnh viện Nhi đồng 1. Kết quả chọc ối phân tích nhiễm sắc thể cho thấy thai nhi có bộ nhiễm sắc thể bình thường, tạo cơ sở quan trọng để các bác sĩ cân nhắc chỉ định can thiệp. Trong quá trình theo dõi tiếp theo, bệnh lý tim thai tiến triển nhanh, thất phải ngày càng thiểu sản cả về hình thái lẫn chức năng, làm gia tăng nguy cơ phải điều trị theo lộ trình tim một thất sau sinh. Sau nhiều buổi hội chẩn liên viện, các bác sĩ thống nhất chỉ định can thiệp thông tim bào thai, nhằm cải thiện dòng máu qua van động mạch phổi, tạo điều kiện cho thất phải tiếp tục phát triển trong tử cung. Mục tiêu là mở rộng cơ hội bảo tồn chiến lược tim hai thất hoặc 1,5 thất sau sinh, tránh cho trẻ phải đi theo lộ trình điều trị tim một thất phức tạp và kéo dài. Thực tế can thiệp gặp không ít thách thức. Tại thời điểm làm thủ thuật, thai nhi ở tư thế ngôi đầu, nghiêng trái, bánh nhau mặt trước, làm gia tăng mức độ khó. Đặc biệt, cánh tay thai nhi vắt ngang trước ngực, che khuất hoàn toàn đường vào buồng tim. Trước tình huống này, ê-kíp đã linh hoạt thực hiện một thủ thuật hỗ trợ nhỏ để di chuyển chi thai, nhanh chóng tạo điều kiện tiếp cận tim thai an toàn. Sau khi tối ưu tư thế, quá trình xuyên kim qua thành bụng mẹ – tử cung – lồng ngực thai nhi và bơm bóng nong van động mạch phổi được thực hiện thuận lợi. Ca can thiệp thành công ngay lần xuyên kim đầu tiên, giúp rút ngắn tối đa thời gian thủ thuật, hạn chế nguy cơ cho cả mẹ và thai nhi. Vợ chồng sản phụ hạnh phúc vì con ổn định sau phẫu thuật. Ảnh: Nguyễn Thuận. Trao đổi với báo chí sáng 31/12, bác sĩ chuyên khoa II Trần Ngọc Hải, Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ, cho biết ca can thiệp đã được chuẩn bị rất kỹ lưỡng với tổng cộng 5 ê-kíp, mỗi ê-kíp từ 3 đến 5 người, nâng tổng số nhân lực tham gia lên khoảng 20-25 người. “Trước đây, có những ca rất nặng phải làm kéo dài nhiều giờ, thậm chí phải can thiệp hai lần. Có trường hợp lần đầu mất 4 tiếng, lần thứ hai mất thêm 2 tiếng. Còn với ca này, chúng tôi thực hiện trong dưới 30 phút”, bác sĩ Hải chia sẻ. Theo lãnh đạo Bệnh viện Từ Dũ, Bộ Y tế xếp kỹ thuật thông tim bào thai vào danh mục phẫu thuật đặc biệt, đồng thời đánh giá đây là dấu mốc của một bước tiến rất lớn của y học Việt Nam. Bởi đây là kỹ thuật rất mới, rất hiếm và chỉ có rất ít trung tâm trên thế giới thực hiện được. Bác sĩ Hải thông tin mỗi ca can thiệp cần khoảng 50 thiết bị y tế, gần 25 nhân viên y tế, đồng thời phải chuẩn bị song song hai phòng can thiệp với đầy đủ hệ thống. Chi phí vì vậy cao hơn gần gấp đôi so với can thiệp tim mạch thông thường ở người lớn, nhưng vẫn nằm trong khung giá nhà nước quy định và được bảo hiểm y tế chi trả phần lớn. https://znews.vn/ca-thong-tim-xuyen-qua-bao-thai-nhanh-nhat-viet-nam-post1615623.html

Kỳ tích y khoa: Ca vỡ phế quản gốc hai bên đầu tiên được cứu sống tại Việt Nam

Vỡ phế quản gốc hai bên – tổn thương cực hiếm với nguy cơ tử vong cao, đã được các bác sĩ Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức xử lý thành công trong một ca cấp cứu khẩn cấp, cứu sống cô gái 18 tuổi sau tai nạn giao thông nghiêm trọng. Ngày 08/4, em P.T.T.N (18 tuổi, trú tại Hưng Yên) được chuyển đến Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức trong tình trạng nguy kịch sau vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng giữa xe máy và ô tô. Nạn nhân bị bánh ô tô cán trực tiếp qua vùng ngực, gây chấn thương nặng. Trước đó, em đã được sơ cứu tại Bệnh viện Đa khoa Hưng Hà, được đặt ống nội khí quản, dẫn lưu màng phổi hai bên trước khi chuyển khẩn cấp lên tuyến trên. Tại thời điểm tiếp nhận, em N. đang được an thần và thở máy, mạch nhanh, toàn bộ vùng ngực xây xát nặng, tràn khí dưới da lan rộng vùng đầu, mặt, cổ và ngực. Dẫn lưu màng phổi hai bên liên tục có khí thoát ra cho thấy nghi ngờ có tổn thương nghiêm trọng đường thở trên bệnh nhân bị các chấn thương khác phối hợp. Đồng thời, bệnh nhân còn bị nghi ngờ chấn thương sọ não, hàm mặt biến dạng, gãy xương hàm dưới, chấn thương tạng trong ổ bụng. Ngay lập tức, các bác sĩ đã tiến hành cấp cứu thăm khám lâm sàng, cận lâm sàng và đặc biệt là nội soi khí phế quản cấp cứu. Kết quả cuối cùng về chấn thương ngực cho thấy người bệnh bị vỡ phế quản gốc hai bên. Đây là một tổn thương rất nghiêm trọng và hiếm gặp với tỷ lệ tử vong cực cao, đe dọa trực tiếp đến tính mạng do rối loạn hô hấp và huyết động nặng nề. Bệnh nhân còn bị kèm theo chấn thương sọ não, hàm mặt biến dạng, gãy xương hàm dưới, chấn thương gan và lách độ 2. PGS.TS Phạm Hữu Lư, Phó Trưởng khoa Ngoại Tim mạch – Lồng ngực, Trung tâm Tim mạch và Lồng ngực, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức cho biết, trước diễn biến nguy kịch, bệnh viện đã nhanh chóng hội chẩn và quyết định xử trí khẩn cấp. Người bệnh được chuyển sang phòng mổ chuyên khoa tim mạch – lồng ngực với đầy đủ thiết bị chuyên sâu. Ê-kíp phẫu thuật lồng ngực đã mở xương ức để bộc lộ phế quản gốc hai bên, đồng thời sử dụng kỹ thuật ECMO (tim phổi nhân tạo) để đảm bảo duy trì bão hoà oxy máu và huyết động trong suốt quá trình mổ và hỗ trợ phổi sau mổ. Nữ bệnh nhân hiện đã ổn định được PGS.TS Phạm Hoa Lư khám lại. Ảnh: Bệnh viện cung cấp Kỳ tích của y khoa Việt Nam Theo các chuyên gia, đây là ca vỡ phế quản gốc hai bên đầu tiên được ghi nhận tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức và Việt Nam đồng thời là một trong những trường hợp cực hiếm trong y văn, với tỷ lệ gặp chưa đến 1% trong các ca đa chấn thương nặng. Sau khi xử trí lập lại lưu thông đường thở hai bên, tình trạng bệnh nhân ổn định lại (bão hoà oxy máu động mạch 98 – 99%, huyết động ổn định) được chuyển về phòng hồi sức tích cực điều trị tiếp. Qua hai tuần điều trị tích cực, tình trạng bệnh nhân dần hồi phục trở lại, bệnh nhân tỉnh táo, được rút ống nội khí quản và chuyển về khoa Ngoại Tim mạch – Lồng ngực, Trung tâm Tim mạch và Lồng ngực, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức để tiếp tục theo dõi. Sau đó, người bệnh được điều trị phục hồi vùng hàm mặt (kết hợp xương hàm dưới bằng nẹp vít). Hiện tại, bệnh nhân đã được xuất viện với thể trạng ổn định. Khám lại sau 1 tháng xuất viện, người bệnh phục hồi gần như hoàn toàn với thể trạng vui tươi, tinh thần lạc quan, kết quả soi khí – phế quản sau sửa chữa thông tốt, không hẹp. Các cơ quan bộ phận khác phục hồi tốt trong niềm vui phấn khởi của gia đình và nhân viên y tế tham gia cấp cứu và điều trị cho cháu. https://daibieunhandan.vn/ky-tich-y-khoa-ca-vo-phe-quan-goc-hai-ben-dau-tien-duoc-cuu-song-tai-viet-nam-10375820.html

Đặt điện cực định vị vùng chức năng trong phẫu thuật u thần kinh đệm lan tỏa

Lần đầu tiên tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, ê-kíp áp dụng kỹ thuật đặt điện cực theo dõi chức năng liên tục trong lúc bệnh nhân mắc u thần kinh đệm nhu mô não kích thước lớn được gây mê toàn thân, thay thế cho phương pháp mổ thức tỉnh vốn khó áp dụng với khối u quá lớn và thời gian mổ kéo dài. Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức tiếp nhận B.V.L (43 tuổi, Phú Thọ) nhập viện trong tình trạng đau đầu dữ dội, được chẩn đoán mắc u thần kinh đệm nhu mô não kích thước lớn (khoảng 8cm), khối u lan tỏa sâu vào nhiều vùng chức năng quan trọng của bán cầu phải, bao gồm vùng vận động, vùng ngôn ngữ và vùng bao trong – nơi chỉ huy vận động nửa người. Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Duy Tuyển, Trưởng khoa Phẫu thuật Thần kinh 2, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức cho biết: Thách thức đặt ra cho ê-kíp phẫu thuật là làm sao lấy tối đa khối u nhưng vẫn bảo tồn chức năng thần kinh. Đặc biệt, với u thần kinh đệm độ ác tính cao, tiêu chuẩn phẫu thuật khuyến cáo cần lấy thêm 4–5 mm mô xâm lấn quanh u để hạn chế tái phát, nhưng càng tiến gần vùng chức năng, nguy cơ di chứng càng lớn. Hệ thống điện cực được gắn vào các nhóm cơ tương ứng. Quy trình phẫu thuật được triển khai theo các bước chặt chẽ, bắt đầu bằng việc dựng sơ đồ vỏ não để định hướng tiếp cận qua vùng “không chức năng”, sau đó khi vào tới nhân xám trung ương – nơi chứa các đường dẫn truyền vận động, phẫu thuật viên sử dụng các điện cực thăm dò vừa hút khối u vừa phát hiện tín hiệu chức năng. Hệ thống điện cực được gắn vào các nhóm cơ tương ứng (mổ bán cầu phải gắn vào tay-chân trái và ngược lại) để theo dõi đáp ứng vận động theo thời gian thực. Khi tiến đến gần vùng chức năng khoảng 3-4 mm, thiết bị phát cảnh báo và khi chỉ còn cách 1mm, tín hiệu được truyền trực tiếp giúp phẫu thuật viên dừng đúng thời điểm, bảo tồn tối đa chức năng thần kinh đồng thời loại bỏ tối đa tổ chức u. Nhờ kỹ thuật này, ê-kíp có thể kiểm soát an toàn ngay cả khi u xâm lấn gần toàn bộ bán cầu, đồng thời đánh giá vận động ngay trong mổ. Trước khi đóng vết mổ, kiểm tra kích thích điện cho thấy tay chân bệnh nhân vẫn hoạt động tốt; sau phẫu thuật, bệnh nhân được đánh giá lại và ghi nhận chức năng vận động hoàn toàn bảo tồn dù khối u lan tỏa rất rộng. https://moh.gov.vn/tin-tong-hop/-/asset_publisher/k206Q9qkZOqn/content/-at-ien-cuc-inh-vi-vung-chuc-nang-trong-phau-thuat-u-than-kinh-em-lan-toa?inheritRedirect=false&redirect=https%3A%2F%2Fmoh.gov.vn%3A443%2Ftin-tong-hop%3Fp_p_id%3D101_INSTANCE_k206Q9qkZOqn%26p_p_lifecycle%3D0%26p_p_state%3Dnormal%26p_p_mode%3Dview%26p_p_col_id%3Drow-3-column-2%26p_p_col_pos%3D1%26p_p_col_count%3D2

Phương pháp điều trị mới cho bệnh nhân đột quỵ

Theo các nhà nghiên cứu, phần lớn bằng chứng ủng hộ sự thống trị của não trái hoặc não phải xuất phát từ việc nghiên cứu đột quỵ. Nếu ai đó bị đột quỵ lớn ở trung tâm vận động ở một bên não, thì bên kia cơ thể thường biểu hiện các vấn đề kiểm soát đáng kể và có thể bị suy yếu hoặc tê liệt. Liệu trình phục hồi chức năng vật lý tiêu chuẩn cho bệnh nhân đột quỵ là cải thiện chức năng ở bên cơ thể bị ảnh hưởng nhiều nhất do đột quỵ. (Ảnh: Dennis Maney / Penn State. Creative Commons) Đột quỵ xảy ra khi lưu lượng máu đến não bị gián đoạn, do tắc nghẽn hoặc vỡ mạch máu. Đột quỵ có thể làm hỏng các phần não kiểm soát chuyển động và làm gián đoạn giao tiếp giữa não và cơ. Theo Sainburg, giả định này có nghĩa là liệu trình phục hồi chức năng vật lý tiêu chuẩn cho bệnh nhân đột quỵ là cải thiện chức năng ở bên cơ thể bị ảnh hưởng nhiều nhất do đột quỵ. Khi bên đó trở nên có khả năng nhất có thể, mọi người được dạy cách bù đắp chức năng bị mất bằng bên cơ thể ít bị ảnh hưởng hơn. Tuy nhiên, nghiên cứu của Sainburg và những người khác đã chứng minh rằng cả hai bên cơ thể đều có thể bị ảnh hưởng bởi một cơn đột quỵ đáng kể. Khoa học đã xác định rằng, mỗi bên cơ thể được điều khiển bởi bán cầu não đối diện. Ngày nay, sự chấp nhận đang nhanh chóng xuất hiện giữa các nhà khoa học thần kinh và bác sĩ lâm sàng làm việc với bệnh nhân đột quỵ rằng cả hai bên não đều ảnh hưởng đến chuyển động ở cả hai bên cơ thể. Hiện tại, các nhà nghiên cứu đang khám phá đầy đủ các hàm ý lâm sàng của kiến thức này. Hiểu được tầm quan trọng của từng bán cầu Sainburg và các đồng nghiệp đã kiểm tra xem liệu cánh tay và bàn tay không thuận của một người có thực hiện một số nhiệm vụ hoặc yếu tố của nhiệm vụ tốt hơn cánh tay thuận hay không. Nghiên cứu của họ chứng minh rằng bán cầu não trái ở những người thuận tay phải – có khả năng thực hiện các chuyển động chân tay mượt mà, chính xác và hiệu quả hơn. Nghiên cứu của họ cũng chứng minh rằng bán cầu não phải có khả năng ổn định cánh tay trái tốt hơn trong những tình huống không thể đoán trước, chẳng hạn như khi một người bị đẩy mà không báo trước. Cả hai bên đều sử dụng cùng một hệ thống điều khiển, nhưng mỗi bên phụ thuộc nhiều hơn vào sự chuyên môn hóa của bán cầu não đối diện—bán cầu não có kết nối chặt chẽ hơn với việc điều khiển chi đó. Khi những người bị đột quỵ ở bán cầu não trái cố gắng với lấy đồ vật bằng cánh tay trái, hướng chuyển động ban đầu của họ kém chính xác hơn so với người chưa bị đột quỵ. Khi những người bị đột quỵ ở bán cầu não phải cố gắng với lấy một vật bằng cánh tay phải, khả năng dừng tay ở đúng vị trí của họ kém chính xác hơn. Hỗ trợ những người sống sót sau đột quỵ Sau khi các nhà nghiên cứu xác nhận rằng đột quỵ ở bất kỳ bán cầu não nào cũng có thể ảnh hưởng đến cả hai bên cơ thể, họ bắt đầu xây dựng các biện pháp phục hồi chức năng tiềm năng cho cánh tay ít bị ảnh hưởng của nạn nhân đột quỵ. Sainburg và nhóm của ông đã yêu cầu những người bị đột quỵ ở bán cầu não trái chơi một trò khúc côn cầu trên không ảo bằng tay trái để phục hồi độ chính xác của chuyển động định hướng. Những người bị đột quỵ ở bán cầu não phải đã chơi trò chơi dò đường bằng tay phải để phục hồi độ chính xác của đích đến mà tay họ hướng đến. Sau ba tuần đào tạo, mọi người nhanh hơn 19% trong việc hoàn thành Bài kiểm tra chức năng bàn tay Jebsen–Taylor, một bài kiểm tra phổ biến để đo độ khéo léo của bàn tay những người sống sót sau đột quỵ. Brooke Dexheimer, người đã có bằng tiến sĩ năm 2022 tại Penn State và là đồng tác giả chính của bài báo đánh giá, cho biết: “ Đột quỵ là gánh nặng lớn đối với sức khỏe cộng đồng. Đây là một trong những nguyên nhân chính gây ra tình trạng khuyết tật lâu dài và nhiều người không bao giờ hồi phục hoàn toàn. Các nghiên cứu như thế này là bước tiếp theo trong việc cải thiện cách chúng ta điều chỉnh quá trình phục hồi chức năng sau đột quỵ. Mục tiêu cuối cùng là giúp cải thiện cách chúng ta điều trị chấn thương thần kinh”. https://www.24h.com.vn/suc-khoe-doi-song/phuong-phap-dieu-tri-moi-cho-benh-nhan-dot-quy-c62a1586962.html

Tư vấn sức khoẻ

Thuốc điều trị đích giúp bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn muộn ổn định bệnh suốt 6 năm

Các bác sĩ Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu (Bệnh viện Bạch Mai) vừa ghi nhận một trường hợp bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn muộn được điều trị bằng thuốc TKIs thế hệ I từ năm 2017 đến nay với thời gian ổn định bệnh kéo dài tới 6 năm. Hình ảnh cắt lớp vi tính theo dõi trong quá trình điều trị, tổn thương xơ hóa tại vị trí u cũ (mũi tên xanh) và giãn khu trú các nhánh phế quản liền kề (mũi tên vàng). Hiệu quả của thuốc điều trị đích với ung thư phổi Bệnh nhân nữ, 72 tuổi, nhập viện tháng 6/2017 do đau ngực trái âm ỉ kéo dài, sụt cân khoảng 8kg trong vòng 6 tháng. Đáng chú ý, bệnh nhân không ho, không khó thở trong suốt thời gian này. Thời điểm nhập viện, bệnh nhân tỉnh táo, không sốt, huyết động ổn định. Thăm khám tim phổi chưa ghi nhận dấu hiệu bất thường rõ ràng. Các xét nghiệm công thức máu, sinh hóa máu trong giới hạn bình thường, chỉ điểm khối u CEA và Cyfra 21-1 không tăng. Điện tâm đồ và siêu âm tim không phát hiện dấu hiệu thiếu máu cơ tim. Kết quả chụp cắt lớp vi tính (CT) lồng ngực cho thấy khối u thùy trên phổi trái kích thước 20x15mm, bờ tua gai, xâm lấn rãnh liên thùy, kèm theo nhiều nốt mờ rải rác hai phổi, kích thước 5-10mm, phù hợp với tổn thương thứ phát, cùng hạch rốn phổi trái kích thước 10mm. Sinh thiết xuyên thành ngực tổn thương phổi trái cho kết quả mô bệnh học là ung thư biểu mô tuyến. Xét nghiệm đột biến gene phát hiện đột biến EGFR dạng xóa đoạn exon 19. Các thăm dò bổ sung bằng PET/CT và cộng hưởng từ não không phát hiện thêm tổn thương di căn ngoài phổi. Bệnh nhân được chẩn đoán ung thư phổi trái không tế bào nhỏ dạng biểu mô tuyến, giai đoạn T4N1M1 (di căn phổi), có đột biến EGFR. Sau hội chẩn chuyên môn, bệnh nhân được chỉ định điều trị bằng thuốc erlotinib liều 150mg/ngày đường uống. Sau 6 tháng điều trị, triệu chứng đau ngực giảm rõ rệt, bệnh nhân dung nạp thuốc tốt. Tác dụng phụ chủ yếu là ban da dạng chấm và mụn ở vùng đầu, vùng sinh dục – những biểu hiện thường gặp của thuốc và được đánh giá là dấu hiệu dự báo đáp ứng điều trị tốt. Kết quả chụp CT kiểm tra cho thấy khối u đáp ứng điều trị, chuyển thành tổn thương xơ hóa, giảm ngấm thuốc sau tiêm. Bệnh nhân tiếp tục được theo dõi và điều trị duy trì bằng erlotinib. Đến thời điểm đánh giá lại vào tháng 5/2023, sau 6 năm điều trị liên tục, bệnh nhân vẫn trong tình trạng ổn định: Không đau ngực, không khó thở, các chỉ điểm khối u CEA và Cyfra 21-1 duy trì trong giới hạn bình thường. Kết quả chụp CT ngực-bụng và cộng hưởng từ sọ não không ghi nhận thêm tổn thương mới. Tại vị trí u cũ, tổn thương xơ hóa gây co kéo rãnh liên thùy và giãn khu trú các nhánh phế quản lân cận, song không ảnh hưởng đến chức năng hô hấp và không gây triệu chứng lâm sàng. Theo các bác sĩ, đây là trường hợp đáp ứng kéo dài hiếm gặp với thuốc điều trị đích thế hệ I, cho thấy vai trò bền vững của nhóm thuốc này trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ có đột biến EGFR, ngay cả ở giai đoạn muộn. Các liệu pháp miễn dịch đang phát huy tác dụng trong điều trị các bệnh ung thư Tại Việt Nam, ung thư phổi phổ biến sau ung thư vú và ung thư gan, hàng năm phát hiện khoảng gần 25 nghìn ca mắc mới ung thư phổi, trong đó có khoảng hơn 22 ngàn ca tử vong mỗi năm. Ung thư phổi thường gặp ở người lớn tuổi từ 55 tuổi trở lên, độ tuổi trung bình mắc bệnh là 70 tuổi, tỷ lệ mắc bệnh và tử vong ở nam giới nhiều hơn nữ giới. Ung thư phổi đang để lại gánh nặng bệnh tật cho người bệnh và ngành y vì đại đa số các trường hợp ung thư phổi được phát hiện đã ở giai đoạn muộn. Nếu bệnh nhân được phát hiện sớm thì tỷ lệ sống thêm từ 5 năm trở lên lên tới hơn 90%. Tuy nhiên việc sàng lọc, phát hiện, chẩn đoán và điều trị còn không ít thách thức. Những năm gần đây, điều trị ung thư phổi giai đoạn muộn đã có nhiều bước tiến quan trọng với sự ra đời của các liệu pháp miễn dịch và điều trị đích nhắm vào các đột biến gene như EGFR, ALK, ROS1… Liệu pháp miễn dịch là phương pháp mới, ít tác dụng phụ, hiệu quả cao, kéo dài thời gian sống và nâng cao chất lượng sống cho người bệnh ung thư phổi không tế bào nhỏ, ung thư dạ dày…Liệu pháp miễn dịch giúp tăng cường hệ thống miễn dịch, giúp hệ thống miễn dịch truy vết, tiêu diệt các tế bào ung thư. Các thuốc điều trị đích ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong ung thư phổi ở cả giai đoạn sớm và giai đoạn muộn, góp phần kéo dài thời gian sống cũng như cải thiện đáng kể chất lượng cuộc sống cho người bệnh. Các thuốc ức chế tyrosine kinase (TKIs) thế hệ I, dù đã được đưa vào sử dụng từ năm 2005, đến nay vẫn giữ vai trò nhất định trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ. https://moh.gov.vn/hoat-dong-cua-dia-phuong/-/asset_publisher/gHbla8vOQDuS/content/thuoc-ieu-tri-ich-giup-benh-nhan-ung-thu-phoi-giai-oan-muon-on-inh-benh-suot-6-nam?inheritRedirect=false&redirect=https%3A%2F%2Fmoh.gov.vn%3A443%2Fhoat-dong-cua-dia-phuong%3Fp_p_id%3D101_INSTANCE_gHbla8vOQDuS%26p_p_lifecycle%3D0%26p_p_state%3Dnormal%26p_p_mode%3Dview%26p_p_col_id%3Drow-3-column-3%26p_p_col_pos%3D1%26p_p_col_count%3D2

Bác sĩ Trương Hữu Khanh: ‘Virus Nipah khó gây đại dịch như Covid-19’

Bác sĩ Trương Hữu Khanh, chuyên gia về bệnh truyền nhiễm, đánh giá virus Nipah lây qua tiếp xúc dịch tiết động vật hoặc người bệnh, không lây lan mạnh qua đường hô hấp nên khó bùng phát diện rộng. Bác sĩ Khanh, Phó Chủ tịch Hội Truyền nhiễm TP HCM, nguyên trưởng khoa Nhiễm – Thần kinh Bệnh viện Nhi đồng 1, đưa ra nhận định trên ngày 27/1, trước bối cảnh dư luận hoang mang về ổ dịch Nipah mới tại bang Tây Bengal (Ấn Độ). Tính từ cuối năm 2025 đến ngày 26/1, khu vực này phát hiện 5 trường hợp nghi ngờ, trong đó hai nhân viên y tế có kết quả dương tính. Dù giới chức y tế sở tại xác định đây là ổ dịch nhỏ, chưa lây lan rộng, thông tin vẫn gây xao động tâm lý người dân nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Trước lo ngại này, bác sĩ Khanh cho rằng việc đánh đồng mức độ nguy hiểm giữa Nipah và Covid-19 là khập khiễng. SARS-CoV-2 gây Covid-19 là chủng virus mới, lây lan cực nhanh qua giọt bắn hô hấp và liên tục đột biến. Trong khi đó, Nipah là dòng virus “cổ điển”, cơ chế xâm nhập hoàn toàn khác biệt. “Khả năng mầm bệnh Nipah lây trực tiếp từ người sang người qua không khí để tạo thành đại dịch gần như bằng không”, bác sĩ Khanh nói. Lý giải về chùm ca bệnh tại Ấn Độ, chuyên gia cho rằng nguồn lây xuất phát từ hoàn cảnh tiếp xúc đặc biệt. Kết quả điều tra dịch tễ sơ bộ trùng khớp với nhận định này khi nữ điều dưỡng nhiễm bệnh đầu tiên tại Bệnh viện Narayana Multispeciality từng uống mật chà là tươi nghi nhiễm dịch tiết của dơi. Người này sau đó lây cho đồng nghiệp qua tiếp xúc gần trong quá trình chăm sóc mà thiếu biện pháp bảo hộ chuẩn. Theo bác sĩ Khanh, vật chủ chính của virus là loài dơi ăn quả. Mầm bệnh tồn tại trong nước bọt, nước tiểu của loài này. Con người nhiễm bệnh chủ yếu do chạm trực tiếp vào dịch tiết hoặc ăn trái cây dơi cắn dở. Nếu không có tiếp xúc rất gần hoặc tiêu thụ thực phẩm nhiễm khuẩn, nguy cơ virus vượt biên giới bùng phát tại Việt Nam rất thấp. Các đợt dịch Nipah trong lịch sử đều khu trú ở phạm vi hẹp và tự chấm dứt khi cơ quan chức năng kiểm soát tốt nguồn lây động vật. Đồng quan điểm, PGS.TS Lê Quốc Hùng, Trưởng Khoa Bệnh Nhiệt đới, Bệnh viện Chợ Rẫy, đánh giá tính chất lây nhiễm của Nipah rất hạn chế, khác hoàn toàn các bệnh lý đường hô hấp cấp tính. Tuy nhiên, ông lưu ý Nipah vẫn là bệnh nguy hiểm đối với cá nhân mắc phải do tấn công trực tiếp vào não. Bệnh cảnh chính là viêm não với các triệu chứng sốt cao, đau đầu, co giật, diễn tiến nhanh tới hôn mê. Tỷ lệ tử vong của bệnh rất cao, có thể trên 50% do thế giới chưa tìm ra thuốc đặc trị hay vaccine phòng ngừa. Các biện pháp y tế hiện tại chỉ dừng lại ở điều trị triệu chứng và hồi sức tích cực. Sáng 27/1, trước diễn biến dịch tại nước bạn, Bộ Y tế yêu cầu các đơn vị kiểm dịch biên giới và y tế dự phòng tăng cường giám sát tại cửa khẩu và cộng đồng. Đến nay, Việt Nam chưa ghi nhận ca mắc Nipah nào. Thế giới phát hiện virus này lần đầu năm 1999 tại Malaysia và Singapore, khiến hơn 100 người tử vong, buộc tiêu hủy hàng triệu con lợn. Kể từ đó, dịch xuất hiện định kỳ tại Nam Á, chủ yếu ở Bangladesh và Ấn Độ. Để phòng bệnh, các chuyên gia khuyến cáo người dân thực hiện “ăn chín, uống sôi”. Đặc biệt, tuyệt đối không ăn các loại trái cây có dấu hiệu bị cắn dở, vết răng động vật hoặc trái cây rụng không rõ nguyên nhân. Khi du lịch đến các vùng có dịch, cần hạn chế tiếp xúc với động vật hoang dã, đặc biệt là dơi. https://vnexpress.net/bac-si-truong-huu-khanh-virus-nipah-kho-gay-dai-dich-nhu-covid-19-5010670.html

Cách phòng viêm phổi cho trẻ khi trời lạnh

Viêm phổi là bệnh thường gặp và là một trong những nguyên nhân chính gây tử vong ở trẻ em. Trẻ càng nhỏ tỷ lệ tử vong do viêm phổi càng cao. Mùa đông, các bệnh cảm lạnh cũng gia tăng làm cho virus, vi khuẩn nhân cơ hội xâm nhập mũi họng và xuống phổi gây viêm phổi. Trẻ mắc viêm phổi có biểu hiện gì? Khi mắc viêm phổi, trẻ sẽ có các biểu hiện: Giai đoạn sớm: có thể chỉ có sốt nhẹ, ho húng hắng, chảy nước mắt và nước mũi, khò khè, ăn kém, bỏ bú, quấy khóc… Giai đoạn sau: trẻ không được điều trị đúng và theo dõi sát có thể diễn biến nặng hơn với biểu hiện sốt cao, ho tăng lên, có đờm, khó thở, thở nhanh, rút lõm lồng ngực, bỏ bú hoặc bú kém, tím môi, tím đầu chi … Trẻ mắc viêm phổi nặng có triệu chứng: trẻ ho hoặc khó thở và có ít nhất một trong các triệu chứng chính là: co rút lồng ngực, phập phồng cánh mũi; thở rên (ở trẻ dưới 2 tháng)… Trẻ mắc viêm phổi rất nặng sẽ có các biểu hiện: trẻ có ho hoặc khó thở cộng với ít nhất một trong các triệu chứng chính là: tím tái, co giật, lơ mơ hoặc hôn mê; không uống được hoặc bỏ bú hoặc nôn ra tất cả mọi thứ; suy hô hấp nặng với biểu hiện đầu gật gù theo nhịp thở và co kéo cơ hô hấp phụ. Ngoài ra, có thể có thêm một số triệu chứng khác gồm: thở nhanh, phập phồng cánh mũi, thở rên, co rút lồng ngực. Lưu ý: Để xác định trẻ có thở nhanh hay không bằng cách đếm nhịp thở của trẻ trong đủ 1 phút. Trẻ được coi là thở nhanh nếu: Trẻ < 2 tháng tuổi, nhịp thở > 60 lần/phút. Trẻ 2 – 11 tháng tuổi, nhịp thở > 50 lần/phút. Trẻ 12 – 60 tháng tuổi, nhịp thở > 40 lần/phút. Cha mẹ không tự ý cho con uống kháng sinh Khi trẻ mắc viêm phổi, cha mẹ cần cho trẻ đi khám và điều trị theo chỉ dẫn của bác sĩ. Cha mẹ tuyệt đối không tự ý mua thuốc kháng sinh, thuốc giảm ho điều trị cho con tại nhà. Thuốc kháng sinh sẽ không có tác dụng trong trường hợp trẻ bị viêm phổi do virus. Ho là phản xạ tốt để tống xuất chất đờm ra khỏi đường thở, làm thông thoáng đường thở nên không cho trẻ uống thuốc giảm ho khi chưa có chỉ định của bác sĩ. Cách phòng bệnh viêm phổi cho trẻ trong mùa lạnh Mùa đông các bệnh cảm lạnh cũng gia tăng làm cho virus, vi khuẩn nhân cơ hội xâm nhập mũi họng và xuống phổi gây viêm phổi. Muốn phòng bệnh viêm phổi cho trẻ em cần thực hiện các biện pháp như sau: Giữ ấm đường thở: Khi thời tiết trở lạnh, cha mẹ cần lưu ý giữ ấm cho trẻ bằng cách cho trẻ ăn mặc đủ ấm phù hợp với mức độ lạnh bên ngoài: mặc thêm áo ấm, nón len, mang thêm bao tay, tất, khăn, đeo khẩu trang khi ra đường, đội mũi kín tai, sử dụng nước ấm,… Bổ sung đủ dinh dưỡng cho trẻ: Trẻ em cần được ăn uống đầy đủ các chất dinh dưỡng để tăng cường miễn dịch, nhất là những trẻ còn trong độ tuổi bú mẹ. Với các trẻ biếng ăn, cha mẹ nhất thiết nên bổ sung từ các nguồn thực phẩm bổ sung, các công thức thuốc bổ tổng hợp và các chế phẩm thảo dược chuẩn hóa có tác dụng chống biếng ăn cho trẻ. Cho trẻ uống đủ nước, trẻ nhỏ cho bú nhiều lần trong ngày. Không hút thuốc, đun nấu trong phòng có trẻ nhỏ. Cách ly trẻ với người bị bệnh để tránh lây lan thành dịch. Nơi ở đủ ánh sáng, lưu thông không khí tốt. Thường xuyên lau nền nhà, tay nắm cửa và bề mặt các đồ vật trong nhà bằng các chất tẩy rửa thông thường, như xà phòng và các dung dịch khử khuẩn. Đưa trẻ đi tiêm phòng đầy đủ, đúng lịch các vắc-xin như bạch hầu – ho gà – uốn ván, Hemophilus influenzae typ B (Hib), phế cầu, cúm… Phát hiện sớm các biểu hiện sớm của bệnh viêm đường hô hấp nói chung như: ho, sốt, chảy nước mũi, khó thở… và các rối loạn khác như tiêu chảy, ăn kém, chậm tăng cân… để chăm sóc và điều trị kịp thời. Hàng ngày vệ sinh răng miệng cho trẻ sạch sẽ ngày 2 lần sáng khi ngủ dậy và buổi tối trước khi đi ngủ, sau mỗi bữa ăn cho uống nước súc miệng, tránh để khuẩn đọng lại bằng cách chải răng, lau răng miệng cho trẻ nhỏ.

Cô gái xách theo bình “khí cười” đi… cai nghiện

Khi đến Viện Sức khỏe tâm thần khám, cô gái trẻ khiến bác sĩ ngỡ ngàng khi cô đem theo một túi xách lớn, nặng trĩu chứa bình khí N₂O (khí cười), vì sợ xuất hiện cơn thèm bất chợt không thể kiểm soát. Chia sẻ tại buổi tọa đàm “Bóng cười – nước mắt sau những cuộc vui”, diễn ra chiều 12/1 tại Viện Sức khỏe tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai, bác sĩ Lê Thị Phương Thảo, Đơn nguyên Sử dụng chất và Y học Hành vi, cho biết mới đây, bác sĩ đã khám cho một bệnh nhân nữ bị nghiện “khí cười” N₂O. Bác sĩ Thảo cho biết, cô gái trẻ bước vào phòng khám, với một chiếc túi xách lớn, và lấy ra một bình khí N₂O trong sự ngỡ ngàng của bác sĩ. “Cô gái giải thích, cô bị nghiện khí N₂O, bị bố mẹ phát hiện bắt đi khám và cai nghiện, nhưng khi đi khám, sợ lên cơn thèm bất chợt không thể kiểm soát nên cô phải lén vác bình khí đi theo”, bác sĩ Thảo thông tin. Nữ bệnh nhân cho biết, lần đầu tiên cô hít bóng cười (bóng bơm khí N₂O) là khi học cấp 2, do bạn bè rủ hít. Lúc ấy, cô nghĩ chỉ thử cho biết và không hít thường xuyên. Tuy nhiên, lên cấp 3, khi đi chơi với bạn bè nhiều hơn, cô tiếp xúc, hút bóng cười thường xuyên hơn. Dần dần, cô có cảm giác bị lệ thuộc, thèm hút bóng cười nên không cần bạn bè rủ, cô cũng tự mua bóng về hít tại nhà. Bác sĩ Thảo cho biết, nữ bệnh nhân mỗi ngày hít 20-30 quả bóng cười. Khi tình trạng nghiện nặng hơn, cô không dùng bóng cười nữa mà trực tiếp mua khí N₂O về hít. Cô gái thường xuyên mang bình khí N₂O nhỏ bên người, kể cả khi đi làm để lên cơn thèm là hít. Thời điểm bố mẹ phát hiện và bắt đi khám, cô gái đã sử dụng bóng cười đến 6-7 năm, đồng thời có các biểu hiện tê bì chân tay, trầm cảm, lo âu. Bác sĩ Thảo cho biết, bóng cười (còn gọi là funky ball) là một quả bóng được bơm đầy khí N₂O (khí cười). N₂O (Dinitơ oxit hay nitrous oxide) hay còn gọi là khí cười là một trong những hợp chất vô cơ không màu, vị ngọt nhẹ. Chất này vào cơ thể, dạng khí, sẽ chiếm chỗ oxy làm thiếu oxy, ức chế thần kinh trung ương gây ra nhiều cảm giác phê, hoang tưởng. N₂O là nhóm chất gây nghiện, thuộc nhóm gây ảo giác có xu hướng tăng liều, người dùng có thể bị phụ thuộc, nghiện, ảo giác tương tự heroin. “Dùng bóng cười lâu ngày với số lượng lớn có thể làm tổn thương não bộ; tê bì tay chân; yếu liệt, đi không vững; tổn thương tủy sống không hồi phục; giảm trí nhớ, chậm chạp, kém tập trung… Thậm chí, việc lạm dụng bóng cười có thể gây ngừng tim đột ngột hoặc ngạt thở cấp tính do thiếu oxy dẫn đến tử vong”, bác sĩ Thảo cảnh báo. Bác sĩ Thảo cũng cho biết, độc tính của khí cười tăng theo liều lượng và thời gian sử dụng, liều cao thường gây nguy hiểm tức thì nhưng liều thấp dùng kéo dài vẫn có thể gây tổn thương nặng. Việc hít bóng cười lâu ngày sẽ dẫn đến số lượng ngày càng tăng, có những người dùng tới 30-40 quả mỗi lần. “Việc dùng trên 10 quả bóng cười mỗi lần và dùng nhiều lần có thể gây độc tính mạnh đối với bộ não, có khả năng gây tổn thương cấp tính và mạn tính đến cơ thể”, bác sĩ Thảo cho biết. Trước đó, Bệnh viện Bãi Cháy đã tiếp nhận điều trị cho một bệnh nhân 15 tuổi bị tổn thương tủy cổ, tê yếu tay chân do ngộ độc khí N₂O sau thời gian sử dụng bóng cười dài ngày. Bệnh nhi đến viện trong tình trạng tê bì hai tay, hai chân yếu dần, đi lại khó khăn kèm theo sụt cân nhiều. Trước đó, người bệnh đã sử dụng bóng cười liên tục trong vòng 10 ngày, mỗi ngày khoảng 10 quả. Kết quả chụp cộng hưởng từ cột sống cổ có hình ảnh tổn thương sừng sau tủy cổ. Bệnh nhân được chẩn đoán bệnh rễ thần kinh tủy sống cổ, theo dõi do ngộ độc khí cười N₂O. Bác sĩ Thảo khuyến cáo người trẻ cần cảnh giác với bóng cười, tuyệt đối không “thử cho biết” bởi thực tế nhiều người đã bị nghiện sau khi thử, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe. https://dantri.com.vn/suc-khoe/co-gai-xach-theo-binh-khi-cuoi-di-cai-nghien-20260112213551189.htm

Đấu thầu

Đặt Lịch Khám

    Đặt Lịch Khám