BỆNH VIỆN BẮC THĂNG LONG
BAC THANG LONG HOSPITAL

(84) 889 615 815

Email: thugopy.bvbtl@gmail.com

Previous slide
Next slide
0 + NĂM
Hình Thành và Phát Triển
0 +
Giáo sư, Bác sĩ
0 +
Bệnh Nhân
0 %
Khách hàng hài lòng

BỆNH VIỆN BẮC THĂNG LONG

Ngày 03/7/2000 Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội đã ban hành quyết định số 67/QĐ-UB về việc đổi tên “Trung tâm y tế dự phòng than Khu vực Nội Địa” thành “Bệnh viện Bắc Thăng Long” Từ đây Bệnh viện đã trực thuộc Sở Y tế Hà Nội và hoạt động theo đúng ngành dọc của mình. Trụ sở đóng tại: Tổ 18, thị trấn Đông Anh, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.

Bệnh viện Bắc Thăng Long ngày nay với quy mô 420 giường bệnh, 28 khoa, phòng chức năng và 2 bộ phận…

CHUYÊN KHOA NỔI BẬT

ĐỘI NGŨ CHUYÊN GIA

BSCKII. Nguyễn Văn Thành

Phó giám đốc Bệnh viện

ThS. Phùng Văn Dũng

Phó giám đốc Bệnh viện

BSCKII. Trần Xuân Thăng

Phó giám đốc Bệnh viện

TIN TỨC - SỰ KIỆN

Ngày Thế giới Phòng chống Ung thư 4/2: Các biện pháp phòng tránh và giảm nguy cơ mắc ung thư

Ngày Thế giới Phòng, Chống bệnh Ung thư được tổ chức vào ngày 4 tháng 2 hằng năm do Liên Minh Kiểm soát Ung thư Quốc tế (UICC) dẫn đầu nhằm cách nâng cao nhận thức, dự phòng, phát hiện sớm, điều trị tốt hơn bệnh ung thư. Đồng thời, hướng tới mục tiêu cung cấp dịch vụ chăm sóc, điều trị bệnh ung thư công bằng cho tất cả mọi người và hợp tác với các chính phủ để hành động. Ung thư là vấn đề sức khỏe quan trọng nhất, không chỉ Việt Nam mà hầu hết các quốc gia trên thế giới đang phải đối mặt. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ung thư là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ hai trên toàn thế giới với khoảng 20 triệu ca mới mắc và gần 10 triệu người tử vong hằng năm. Xu hướng này sẽ ngày càng tăng lên trong nhiều năm tiếp theo. Tuy nhiên, hơn 40% số ca tử vong liên quan đến ung thư có thể phòng ngừa bằng cách giảm với các yếu tố nguy cơ như thuốc lá, béo phì, lười vận động, rượu bia, nhiễm trùng, ô nhiễm môi trường, ánh nắng mặt trời, chất gây ung thư nghề nghiệp và bức xạ. https://moh.gov.vn/tin-tong-hop/-/asset_publisher/k206Q9qkZOqn/content/ngay-the-gioi-phong-chong-ung-thu-4-2-cac-bien-phap-phong-tranh-va-giam-nguy-co-mac-ung-thu?inheritRedirect=false&redirect=https%3A%2F%2Fmoh.gov.vn%3A443%2Ftin-tong-hop%3Fp_p_id%3D101_INSTANCE_k206Q9qkZOqn%26p_p_lifecycle%3D0%26p_p_state%3Dnormal%26p_p_mode%3Dview%26p_p_col_id%3Drow-3-column-2%26p_p_col_pos%3D1%26p_p_col_count%3D2

Hà Nội công khai số điện thoại lãnh đạo tất cả các bệnh viện

Sở Y tế Hà Nội vừa công bố danh sách số điện thoại đường dây nóng của thủ trưởng các đơn vị trực thuộc nhằm tiếp nhận phản hồi, kịp thời chấn chỉnh thái độ phục vụ và nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân. Đây là động thái quyết liệt nhằm tăng cường tính minh bạch, sự giám sát của cộng đồng đối với hoạt động của các bệnh viện, trung tâm y tế trên địa bàn Thủ đô. Danh sách số điện thoại đường dây nóng của thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Sở Y tế Hà Nội. Nguồn: SYT Hà Nội Thông qua việc công khai này, người dân khi gặp các vấn đề về quy trình thủ tục, tinh thần thái độ phục vụ của nhân viên y tế hoặc các sự cố liên quan đến chuyên môn có thể gọi điện trực tiếp đến người đứng đầu đơn vị để được giải đáp và xử lý kịp thời. Sở Y tế Hà Nội yêu cầu các lãnh đạo đơn vị phải đảm bảo việc tiếp nhận thông tin từ người dân một cách thông suốt, không được né tránh hoặc phản hồi chậm trễ đối với các kiến nghị chính đáng. https://plo.vn/ha-noi-cong-khai-so-dien-thoai-lanh-dao-tat-ca-cac-benh-vien-post894638.html

Chụp X-quang chỉ vài giây, vì sao phải ‘đủ 6 phút’ mới được thanh toán?

Dù máy móc hiện đại chỉ mất vài giây để chụp X-quang, cơ quan Bảo hiểm xã hội vẫn yêu cầu quy trình phải kéo dài đủ 6 phút mới thanh toán, khiến nhiều bệnh viện bị xuất toán chi phí. Tại hội nghị triển khai công tác khám chữa bệnh năm 2026 ngày 2/2, nhiều bệnh viện phản ánh tình trạng bị cơ quan Bảo hiểm xã hội (BHXH) từ chối thanh toán (xuất toán) chi phí chẩn đoán hình ảnh vì “thời gian thực hiện nhanh hơn định mức”. Cục trưởng Quản lý khám chữa bệnh Hà Anh Đức cho biết quy trình này do Cục xây dựng trước đây nhưng khi áp dụng thực tế lại nảy sinh vấn đề. “Một ca chụp X-quang phải đủ 6 phút, siêu âm phải đủ 30 phút, nhanh hơn thời gian này bảo hiểm y tế không thanh toán. Cục ‘đẻ’ ra quy trình thế đấy, giờ phải làm thế nào cho tốt”, ông Đức đặt vấn đề. Làm rõ nguyên nhân tranh cãi, ông Nguyễn Trọng Khoa, Phó cục trưởng Cục Quản lý Khám chữa bệnh, cho biết mốc thời gian 6 phút hay 30 phút thực chất là định mức kinh tế – kỹ thuật để xây dựng giá dịch vụ y tế, dựa trên nền tảng công nghệ cũ trước đây. Tuy nhiên, vướng mắc nảy sinh khi cơ quan bảo hiểm sử dụng định mức trung bình này làm “thước đo cứng” để giám định. Cụ thể, nếu bệnh viện thực hiện ca chụp nhanh hơn 6 phút – điều rất bình thường với các dòng máy kỹ thuật số hiện đại – hệ thống sẽ cảnh báo sai quy trình và từ chối thanh toán. “Không có lý gì chụp X-quang 6 phút lại chỉ tính thời gian trên máy”, ông Khoa phản biện. Thực tế, quy trình một ca chụp không chỉ là vài giây máy phát tia, mà bao gồm toàn bộ chuỗi thao tác, từ lúc tiếp nhận bệnh nhân, chuẩn bị tư thế, thực hiện kỹ thuật, cho đến khi xử lý hình ảnh, đọc và trả kết quả. Lãnh đạo Cục Quản lý Khám chữa bệnh nhấn mạnh việc áp dụng quy tắc giám định này là không đúng bản chất chuyên môn. Thời gian thực hiện phụ thuộc vào tay nghề bác sĩ và độ khó của từng ca bệnh. Ca dễ chỉ một phút là xác định được, nhưng ca khó thì 15-20 phút mới xong một ca siêu âm, vì vậy “không thể cứng nhắc bắt buộc tất cả phải giống nhau”. Để tháo gỡ tình trạng “bác sĩ ngồi chờ đủ giờ”, Bộ Y tế đã họp với Hội Điện quang và Y học hạt nhân, đồng thời khảo sát thực tế toàn quốc. Cục Quản lý Khám chữa bệnh đang dự thảo văn bản gửi Bộ Tài chính và BHXH Việt Nam đề nghị xem xét lại quy tắc giám định này. Quan điểm của cơ quan chuyên môn là thời gian định mức chỉ nên dùng làm căn cứ tính giá (định mức kinh tế), không phải điều kiện thanh toán. Bộ Y tế đề xuất điều chỉnh theo hướng đưa ra khoảng thời gian trung bình với biên độ dao động nới rộng để phù hợp thực tiễn. Việc giám định cần tập trung vào tính hợp lý của chỉ định và hiệu quả điều trị thay vì bắt bẻ thời gian kỹ thuật. “Việc giám định cần tập trung vào chỉ định có đúng yêu cầu không, có lãng phí không, thay vì bắt bẻ về thời gian kỹ thuật”, ông Khoa nêu quan điểm. Cũng tại hội nghị, vấn đề nợ đọng thanh toán bảo hiểm y tế được nhiều đơn vị quan tâm. Ông Hoàng Trung Tuấn, Phó vụ trưởng Vụ Bảo hiểm Y tế, cho biết tổng số tiền vướng mắc chưa được thanh toán giữa cơ sở khám chữa bệnh và cơ quan bảo hiểm hiện lên tới gần 23.000 tỷ đồng. Trong đó, hơn 10.000 tỷ đồng là các khoản tồn đọng từ năm 2023 trở về trước đang được Bộ Y tế trình Chính phủ xử lý. Riêng năm 2024, số tiền vượt dự kiến chi vào khoảng hơn 8.000 tỷ đồng. Bộ Y tế đề nghị các địa phương gấp rút rà soát để giải quyết dứt điểm trong đợt này. https://vnexpress.net/chup-x-quang-chi-vai-giay-vi-sao-phai-du-6-phut-moi-duoc-thanh-toan-5013281.html

Bộ Y tế hoả tốc nhắc các cơ sở khám chữa bệnh chủ động phòng chống bệnh do virus Nipah

Cục Quản lý Khám chữa bệnh – Bộ Y tế hoả tốc đề nghị các cơ sở khám, chữa bệnh tăng cường thực hiện, kiểm tra, giám sát thực hiện kiểm soát nhiễm khuẩn tại các cơ sở khám, chữa bệnh, thực hiện cách ly nghiêm ngặt tất cả các trường hợp nghi ngờ hoặc xác định mắc virus Nipah tại cơ sở điều trị. Bệnh do virus Nipah là bệnh truyền nhiễm nhóm A, có tỉ lệ tử vong được ghi nhận dao động từ 40-75%, hiện chưa có vắc xin và thuốc điều trị đặc hiệu. Cục quản lý Khám chữa bệnh – Bộ Y tế tối 27/1 đã có văn bản hoả tốc gửi các Bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế; Y tế các Bộ, ngành; Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc chủ động phòng chống bệnh do virus Nipah. Bệnh do virus Nipah là bệnh truyền nhiễm nhóm A, có tỉ lệ tử vong được ghi nhận dao động từ 40-75%, hiện chưa có vắc xin và thuốc điều trị đặc hiệu. Theo Cục Quản lý Khám chữa bệnh, virus lây truyền chủ yếu từ động vật sang người, hoặc tiếp xúc với vật phẩm, thực phẩm bị nhiễm virus và cũng có thể lây truyền từ người sang người (qua tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết, dịch bài tiết của bệnh nhân); thời gian ủ bệnh trong khoảng 4-14 ngày, người nhiễm virus có thể có các triệu chứng: đau đầu, đau cơ, nôn mửa và đau họng, sau đó có thể xuất hiện chóng mặt, buồn ngủ, rối loạn ý thức và các dấu hiệu thần kinh cho thấy viêm não cấp tính. Theo hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm, từ ngày 27/12/2025 – 26/1/2026, Ấn Độ ghi nhận 5 trường hợp nghi ngờ mắc bệnh do virus Nipah, trong đó có 2 trường hợp được xét nghiệm khẳng định, tại một bệnh viện thuộc bang Tây Bengal. Trước nguy cơ bệnh do virus Nipah xâm nhập vào Việt Nam, thực hiện chỉ đạo của lãnh đạo Bộ Y tế, để chủ động phòng chống bệnh do virus Nipah, Cục Quản lý Khám, chữa bệnh đề nghị các cơ sở khám bệnh chữa bệnh trực thuộc Bộ Y tế, Y tế các Bộ, ngành và Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trực thuộc thực hiện các nội dung, cụ thể: Tăng cường công tác phòng, chống dịch bệnh, thực hiện các biện pháp phòng hộ cá nhân đối với nhân viên y tế và người tiếp xúc gần với các trường hợp nghi ngờ hoặc xác định mắc bệnh trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, đặc biệt lưu ý các trường hợp mới đến nước đã hoặc đang có dịch trong vòng 14 ngày. TIN LIÊN QUAN Tăng cường thực hiện, kiểm tra, giám sát thực hiện kiểm soát nhiễm khuẩn tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, thực hiện cách ly nghiêm ngặt tất cả các trường hợp nghi ngờ hoặc xác định mắc virus Nipah tại cơ sở điều trị. Thường xuyên theo dõi, cập nhật thông tin về tình hình dịch bệnh trên thế giới, truyền thông về tình hình dịch bệnh để người dân không hoang mang lo lắng và thực hiện tốt các biện pháp phòng bệnh. Phát hiện sớm các trường hợp nghi ngờ mắc bệnh để cách ly, chẩn đoán, điều trị và kiểm soát. Để chủ động, phòng chống dịch bệnh do virus Nipah, Bộ Y tế đã khuyến cáo người dân thực hiện tốt các biện pháp sau: 1. Hạn chế đến khu vực có dịch bệnh do virus Nipah nếu không thực sự cần thiết. 2. Tự theo dõi sức khỏe, trong vòng 14 ngày kể từ khi về từ vùng dịch, nếu có các triệu chứng như: đau đầu, đau cơ, nôn mửa và đau họng, chóng mặt, buồn ngủ, lú lẫn, co giật cần liên hệ ngay với cơ sở y tế gần nhất, hạn chế tiếp xúc với người khác, thông báo rõ tiền sử dịch tễ cho nhân viên y tế. 3. Đảm bảo vệ sinh thực phẩm: thực hiện “Ăn chín, uống sôi”, rửa sạch và gọt vỏ trái cây trước khi ăn, không ăn, uống các loại trái cây có dấu hiệu bị động vật (dơi, chim) cắn hoặc gặm nhấm; tránh uống nước nhựa cây (như nhựa cây thốt nốt, nhựa dừa sống hoặc chưa qua chế biến). 4. Không tiếp xúc gần với động vật có khả năng lây truyền cao như là dơi ăn quả; thường xuyên rửa tay bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn sau khi giết mổ, tiếp xúc với động vật. 5. Hạn chế tiếp xúc trực tiếp với người bệnh, vật phẩm ô nhiễm từ người bệnh; cần sử dụng khẩu trang, găng tay và đồ bảo hộ cá nhân khi chăm sóc, điều trị người nghi ngờ, mắc bệnh, sau đó rửa tay bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn. https://moh.gov.vn/thong-tin-chi-dao-dieu-hanh/-/asset_publisher/DOHhlnDN87WZ/content/bo-y-te-hoa-toc-nhac-cac-co-so-kham-chua-benh-chu-ong-phong-chong-benh-do-virus-nipah?inheritRedirect=false&redirect=https%3A%2F%2Fmoh.gov.vn%3A443%2Fthong-tin-chi-dao-dieu-hanh%3Fp_p_id%3D101_INSTANCE_DOHhlnDN87WZ%26p_p_lifecycle%3D0%26p_p_state%3Dnormal%26p_p_mode%3Dview%26p_p_col_id%3Drow-3-column-3%26p_p_col_count%3D2 Đọc thêm: [Infographic] – 5 điều cần lưu ý để phòng bệnh do virus Nipah Bộ Y tế: Việt Nam chưa ghi nhận trường hợp mắc bệnh do virus Nipah Chuyên gia khuyến cáo chủ động phòng tránh dịch bệnh do virus Nipah

Bệnh viện Bắc Thăng Long: tổ chức khám sức khỏe định kì cho cán bộ xã Thư Lâm

Ngày 24/01, Bệnh viện Bắc Thăng Long đã tổ chức chương trình khám sức khoẻ định kỳ cho cán bộ xã Thư Lâm, mục đích nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe ban đầu, phát hiện sớm và phòng ngừa các bệnh lý thường gặp. Việc khám sức khoẻ định kỳ cho cán bộ còn là cơ sở để đánh giá, phân loại sức khỏe cán bộ theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế. Nội dung khám bao gồm: khám lâm sàng tổng quát (Nội, Ngoại, Sản, Mắt, Tai mũi họng, Răng hàm mặt…); cận lâm sàng: xét nghiệm, siêu âm…; tư vấn sức khỏe, tư vấn dinh dưỡng, vận động. Hoạt động không chỉ góp phần chăm sóc sức khỏe thể chất mà còn nâng cao nhận thức về phòng bệnh, tự theo dõi và bảo vệ sức khỏe cho đội ngũ cán bộ xã. Dưới đây là một số hình ảnh hoạt động: Phòng CTXH

Bệnh viện Bắc Thăng Long thông báo: Kết quả kỳ thi tuyển dụng viên chức năm 2025

Ngày 19/01/2026, Giám đốc bệnh viện Bắc Thăng Long đã ký Quyết định số 18/QĐ-BVBTL về việc công nhận kết quả tuyển dụng viên chức năm 2025 Kỳ thi tuyển dụng viên chức năm 2025 là một phần trong kế hoạch phát triển nhân lực giai đoạn mới của Bệnh viện Bắc Thăng Long, hướng tới mục tiêu xây dựng đội ngũ y tế chuyên nghiệp, tận tâm, vững chuyên môn, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của người dân. Công tác tổ chức thi tuyển được chuẩn bị chu đáo từ cơ sở vật chất, trang thiết bị đến quy trình coi thi và chấm thi. Hội đồng tuyển dụng đã huy động đội ngũ cán bộ có kinh nghiệm, phối hợp cùng các khoa/phòng chức năng để đảm bảo kỳ thi diễn ra nghiêm túc, đúng quy định, không để xảy ra sai sót. Sau 1 tuần làm việc khẩn trương, nghiêm túc, công tâm và trách nhiệm. Hội đồng tuyển dụng đã lựa chọn được những người có năng lực, chuyên môn, phẩm chất tốt và tinh thần trách nhiệm cao, sẵn sàng cống hiến lâu dài cho bệnh viện và sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân. Xem chi tiết Quyết định 18 tại đây

BHXH Việt Nam thực hiện giám định và thanh toán BHYT theo đúng quy định của pháp luật

Thời gian qua, liên quan đến việc tổ chức, thực hiện và thanh toán các dịch vụ kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh trong khám bệnh, chữa bệnh BHYT, BHXH Việt Nam cung cấp một số thông tin nhằm làm rõ căn cứ pháp lý và nguyên tắc thực hiện công tác giám định, thanh toán trong khám chữa bệnh BHYT theo quy định hiện hành. Căn cứ pháp lý trong giám định, thanh toán dịch vụ kỹ thuật y tế Việc giám định và thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT được cơ quan BHXH thực hiện trên cơ sở tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh và pháp luật về BHYT. Luật Khám bệnh, chữa bệnh quy định nguyên tắc trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh là thực hiện kịp thời và tuân thủ quy định về chuyên môn kỹ thuật, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong việc thực hiện đúng các quy định chuyên môn kỹ thuật và các quy định pháp luật có liên quan. Ảnh minh họa.  Khoản 2 Điều 35 Nghị định số 188/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm tuân thủ các hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế và các quy định pháp luật liên quan về mua sắm, đấu thầu, nhằm bảo đảm cung ứng thuốc, dịch vụ kỹ thuật y tế có chất lượng, hiệu quả và sử dụng quỹ BHYT tiết kiệm, đúng quy định. Thông tư số 35/2016/TT-BYT của Bộ Y tế quy định rõ, dịch vụ kỹ thuật y tế được quỹ BHYT thanh toán khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện, cụ thể như sau: – Được cấp có thẩm quyền phê duyệt thực hiện tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; – Được thực hiện theo quy trình chuyên môn kỹ thuật do cấp có thẩm quyền ban hành; – Được cấp có thẩm quyền phê duyệt giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh BHYT. Quy định về thời gian thực hiện quy trình kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh Quyết định số 2775/QĐ-BYT và Quyết định số 2776/QĐ-BYT ngày 29/8/2025 của Bộ Y tế ban hành hướng dẫn quy trình kỹ thuật trong lĩnh vực chẩn đoán hình ảnh và điện quang can thiệp, trong đó quy định thời gian thực hiện kỹ thuật được xây dựng trên cơ sở tính phổ biến, thường quy tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Theo các hướng dẫn này, thời gian thực hiện một quy trình kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh được tính từ khi người bệnh bắt đầu được thực hiện kỹ thuật đến khi có kết quả chẩn đoán, bao gồm các bước: thời gian chuẩn bị người bệnh, thời gian chụp, đọc phim, kết luận chẩn đoán. Ví dụ, thời gian tham chiếu đối với: – Chụp X-quang xương khớp hoặc chụp phổi, bụng thường quy: khoảng 6 – 12 phút; – Chụp X-quang dạ dày, đại tràng:khoảng 20 – 30 phút; – Siêu âm ổ bụng, tuyến giáp: khoảng 6 – 15 phút. Các mốc thời gian nêu trong hướng dẫn có ý nghĩa tham chiếu chuyên môn, phục vụ tổ chức thực hiện và xây dựng định mức kinh tế – kỹ thuật; trong thực tế triển khai, căn cứ diễn biến lâm sàng, tình trạng người bệnh và điều kiện thực tế của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, thời gian thực hiện kỹ thuật có thể được điều chỉnh tăng hoặc giảm theo hướng dẫn của Bộ Y tế. Giám định, thanh toán BHYT đảm bảo đúng quy định của pháp luật Cơ quan BHXH thực hiện giám định và thanh toán chi phí các dịch vụ kỹ thuật y tế trên cơ sở hồ sơ, quy trình chuyên môn và thực tế triển khai tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, bảo đảm đúng quy định của pháp luật. BHXH Việt Nam không ban hành thêm quy định ngoài các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, đồng thời không yêu cầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh kéo dài thời gian thực hiện kỹ thuật một cách hình thức. Việc hiểu hoặc áp dụng quy định theo hướng yêu cầu bác sĩ, kỹ thuật viên “chờ đủ thời gian” mới tiếp tục thực hiện ca kỹ thuật tiếp theo là chưa phù hợp với bản chất của hướng dẫn chuyên môn, có thể ảnh hưởng đến thời gian chờ đợi và quyền lợi của người bệnh BHYT. Để bảo đảm thống nhất trong nhận thức và tổ chức thực hiện, BHXH Việt Nam kiến nghị Bộ Y tế tiếp tục rà soát, hoàn thiện các hướng dẫn chuyên môn kỹ thuật, bảo đảm phù hợp với thực tiễn triển khai và sự phát triển của khoa học công nghệ y tế, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong quá trình thực hiện, qua đó bảo đảm đầy đủ quyền lợi của người tham gia BHYT./. https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/linh-vuc-bao-hiem-y-te.aspx?ItemID=26151&CateID=169

Bộ Y tế thí điểm bảo lãnh tạm ứng viện phí khi nhập viện

Bộ Y tế cho biết đang thí điểm mô hình mới theo hướng cho phép một người đăng ký bảo lãnh viện phí với ngân hàng cho cả gia đình, tạo điều kiện để cơ sở y tế thực hiện “chữa bệnh trước, thanh toán sau”. Thông tin được Bộ Y tế công bố tại Hội nghị triển khai công tác khám, chữa bệnh năm 2026, tổ chức ngày 02/02. Tại Hội nghị, Bộ Y tế chính thức vận hành Cổng bảo lãnh thanh toán viện phí. Bệnh viện Đa khoa Hà Đông (Hà Nội) là đơn vị đầu tiên trong 15 cơ sở y tế thí điểm hoàn tất kết nối và đưa vào sử dụng. Ngành y tế sẽ sớm triển khai tại Bệnh viện Đa khoa Nông nghiệp và mở rộng 13 bệnh viện còn lại trong thời gian tới. Các đại biểu bấm nút khai trương Cổng bảo lãnh thanh toán viện phí ngày 2/2. Phát biểu tại Hội nghị, Tiến sĩ Nguyễn Huy Lương, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh cho biết, những năm qua, ngành Y tế đã phát triển mạnh mẽ, đặc biệt trong ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số. Nhiều kỹ thuật y học hiện đại như mổ robot, xạ trị proton, can thiệp tim mạch… đang được triển khai tại Việt Nam. Tuy nhiên, một nghịch lý tồn tại, trong khi chuyên môn y tế không ngừng được nâng cao thì quy trình thu viện phí tại nhiều cơ sở khám chữa bệnh vẫn còn lạc hậu. Hiện nay, hầu hết các bệnh viện, từ công lập đến tư nhân, từ tuyến tỉnh đến tuyến trung ương, người bệnh vẫn phải tạm ứng viện phí trước khi điều trị. Điều này xảy ra ngay cả với người có thẻ BHYT, dù đã có nhiều chỉ đạo yêu cầu không thu tạm ứng và cắt giảm thủ tục hành chính trong khám chữa bệnh. Đối với bệnh nhân nội trú, một đợt điều trị thường kéo dài và phát sinh nhiều khoản chi phí. Người bệnh phải liên tục chờ đợi làm xét nghiệm, thực hiện kỹ thuật rồi tiếp tục chờ nộp thêm viện phí. Với những ca điều trị chi phí lớn như phẫu thuật, can thiệp tim mạch, đặt stent, số tiền có thể lên tới hàng trăm triệu đồng. “Không ít trường hợp dù có tiền trong tài khoản ngân hàng nhưng khi đang nằm viện, người bệnh không đủ điều kiện về sức khỏe hoặc thủ tục để tự thực hiện giao dịch thanh toán”, ông Nguyễn Huy Lương chia sẻ. Trước đó, Bộ Y tế đã ban hành Bộ tiêu chí chất lượng bệnh viện, trong đó quy định việc thu viện phí phải thuận tiện, công khai, minh bạch; người bệnh có thể được cấp tài khoản thanh toán ảo, nộp viện phí một lần khi ra viện, thậm chí được tín chấp bằng thẻ tín dụng. Tuy nhiên, trên thực tế, các quy định này vẫn chưa được triển khai rộng rãi. Từ thực tiễn trên, ông Nguyễn Huy Lương cho rằng, cổng bảo lãnh viện phí là giải pháp nhân văn và phù hợp. Mô hình này giúp người bệnh yên tâm nhập viện, không lo thiếu tiền điều trị, không phải tạm ứng hay hoàn ứng nhiều lần, đồng thời chủ động hơn về tài chính, kể cả với những ca bệnh có chi phí lớn. Một điểm đáng chú ý của mô hình bảo lãnh viện phí là tính linh hoạt và cộng đồng. Một người có thể bảo lãnh cho nhiều người khác; ngược lại, một bệnh nhân cũng có thể được nhiều người cùng bảo lãnh. Chỉ cần mỗi người bảo lãnh một khoản nhỏ, khi cộng lại có thể đủ để chi trả cho những ca điều trị tốn kém, qua đó chia sẻ rủi ro và hỗ trợ lẫn nhau trong cộng đồng. Tại Hà Nội, Bệnh viện Đa khoa Hà Đông đã thử nghiệm mô hình này. Ông Nguyễn Thành Vinh, Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Hà Đông cho biết, kết quả triển khai ban đầu có khoảng 70% bệnh nhân khám dịch vụ sử dụng bảo lãnh viện phí. Thời gian xử lý tại bộ phận tiếp đón và thu ngân giảm khoảng 30%, đặc biệt rút ngắn đáng kể thời gian tạm ứng và hoàn ứng. Việc áp dụng mô hình không ảnh hưởng đến quy trình hoạt động chung của bệnh viện. Tỷ lệ hài lòng của người bệnh và người nhà đạt 100% theo khảo sát thực tế. Đa số người bệnh đánh giá cao sự tiện lợi khi không phải xếp hàng chờ tạm ứng, nộp tiền nhiều lần. Người nhà bệnh nhân cảm thấy yên tâm hơn khi đã chủ động đăng ký bảo lãnh; người bệnh khi đi khám chỉ cần sử dụng bảo lãnh để làm thủ tục./. https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/linh-vuc-bao-hiem-y-te.aspx?ItemID=26154&CateID=169

Quy định bảo đảm an toàn bức xạ trong y tế

Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Thông tư 59/2025/TT-BKHCN quy định về bảo đảm an toàn bức xạ và ứng phó sự cố bức xạ và hạt nhân, trong đó quy định về bảo đảm an toàn bức xạ trong y tế. Yêu cầu chung về bảo đảm an toàn đối với thiết bị bức xạ, thiết bị sử dụng trong y học hạt nhân Thông tư nêu rõ các yêu cầu chung về bảo đảm an toàn đối với thiết bị bức xạ, thiết bị sử dụng trong y học hạt nhân: Thiết bị bức xạ sử dụng cho chẩn đoán, điều trị bệnh và thiết bị được sử dụng trong y học hạt nhân phải có chứng chỉ chất lượng thể hiện việc đáp ứng các yêu cầu về bảo đảm an toàn theo tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. Trường hợp không có tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia thì áp dụng tiêu chuẩn quốc tế tương đương của Ủy ban Kỹ thuật điện quốc tế (IEC), Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO). Có tài liệu kèm theo thiết bị, bao gồm tài liệu về thông số kỹ thuật của thiết bị, hướng dẫn vận hành và bảo trì, hướng dẫn an toàn. Tài liệu hướng dẫn vận hành, hướng dẫn an toàn phải được dịch ra tiếng Việt. Chỉ dẫn vận hành, ký hiệu viết tắt và giá trị vận hành trên bảng điều khiển của thiết bị bức xạ phải bằng tiếng Việt hoặc bằng ngôn ngữ phù hợp với ngôn ngữ mà người vận hành máy sử dụng. Thiết bị bức xạ phải có cơ cấu kiểm soát chùm tia bức xạ, bảo đảm chỉ thị rõ ràng và tin cậy trạng thái chùm tia đang “ngắt” hay “mở”. Thiết bị bức xạ phải có cơ cấu để khu trú chùm tia cho mục đích kiểm soát chùm tia chỉ vào vùng cơ thể người bệnh cần chẩn đoán hoặc điều trị. Trường bức xạ phát ra trong vùng để chẩn đoán hay điều trị trên người bệnh phải đồng đều; mức độ không đồng đều của trường bức xạ phải được nhà cung cấp chỉ rõ trong tài liệu kỹ thuật của thiết bị. Yêu cầu an toàn đối với thiết bị X-quang chẩn đoán dùng trong y tế Theo Thông tư, thiết bị X-quang chẩn đoán dùng trong y tế ngoài việc thực hiện các yêu cầu chung về bảo đảm an toàn đối với thiết bị bức xạ, thiết bị sử dụng trong y học hạt nhân còn phải bảo đảm các yêu cầu sau: Mức bức xạ rò của đầu bóng phát tia X không vượt quá 1 mGy/giờ tại khoảng cách 1m từ vỏ đầu bóng phát tia X lấy trung bình trên diện tích không vượt quá 100 cm2 cho mọi chế độ làm việc của thiết bị được nhà sản xuất khuyến cáo; giá trị lọc cố định của hệ đầu bóng phát X-quang trong đơn vị milimét nhôm tương đương (mm Al) phải ghi rõ trên vỏ hộp chứa bóng. Có hệ kiểm tra kích thước chùm tia bằng nguồn sáng, trừ thiết bị X- quang chụp răng sử dụng phim đặt sau huyệt ổ răng và thiết bị X-quang chụp vú; các thông số điện áp phát (kV), dòng bóng phát (mA), thời gian phát tia (s) hoặc hàng số phát tia (mAs) phải được hiển thị trên tủ điều khiển khi đặt chế độ làm việc và khi chụp. Đối với thiết bị X-quang có chế độ chụp, việc phát tia phải được chấm dứt sau khi đạt được giá trị đặt trước như: thời gian hoặc giá trị mAs hoặc giá trị liều chiếu xạ. Đối với thiết bị X-quang có chế độ chiếu, chụp phải có bộ kiểm soát chế độ phát tia tự động (AEC) hoặc công tắc điều khiển phát tia dạng bấm và giữ, bảo đảm thiết bị chỉ phát tia nếu công tắc được bấm, giữ chặt và ngừng phát tia khi thả công tắc. Thiết bị X-quang di động phải có cáp nối đủ dài để bảo đảm khoảng cách giữa người vận hành thiết bị và bóng phát tối thiểu 2 mét. Đối với thiết bị bức xạ khác, khoảng cách này tối thiểu là 3m. Thiết bị X-quang tăng sáng truyền hình dùng trong can thiệp phải có các tấm che chắn cao su chì lắp tại bàn người bệnh để che chắn các tia bức xạ ảnh hưởng đến nhân viên và hệ che chắn treo trên trần để sử dụng cho mục đích bảo vệ mắt và tuyến giáp của nhân viên khi theo dõi người bệnh. Các tấm che chắn cao su chì phải bảo đảm có chiều dày che chắn không nhỏ hơn 0,5 milimét chì tương đương. Ngoài ra, Thông tư còn quy định các yêu cầu an toàn đối với thiết bị xạ trị; yêu cầu an toàn đối với nguồn phóng xạ kín và thuốc phóng xạ; yêu cầu an toàn đối với thiết bị đo bức xạ, thiết bị và dụng cụ bảo vệ an toàn bức xạ… Xem chi tiết Thông tư tại đây https://baochinhphu.vn/quy-dinh-bao-dam-an-toan-buc-xa-trong-y-te-102260122105314144.htm

Truyền thông chính sách: Chìa khóa để pháp luật đi vào cuộc sống

Theo Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng, truyền thông chính sách cần được coi là quy trình bắt buộc trong xây dựng và thi hành pháp luật, thực hiện sớm, bài bản và đồng bộ, nhằm nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận xã hội và bảo đảm hiệu lực thực thi pháp luật.   Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng chủ trì Phiên họp của Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật Trung ương – Ảnh: Báo Chính phủ Sáng 15.1, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng, Ủy viên Trung ương Đảng, chủ trì Phiên họp của Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật Trung ương đánh giá kết quả triển khai nhiệm vụ năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026. Phiên họp có sự tham dự của đại diện các bộ, cơ quan ngang bộ cùng các cơ quan báo chí chủ lực như Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam. Đổi mới mạnh mẽ phổ biến, giáo dục pháp luật trong giai đoạn mới Theo Bộ Tư pháp, năm 2025, Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật Trung ương và Bộ Tư pháp – Cơ quan thường trực của Hội đồng – đã chủ động ban hành theo thẩm quyền hoặc tham mưu trình Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Hội đồng ban hành 48 văn bản để triển khai các nhiệm vụ. Đồng thời, đôn đốc, chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương kịp thời tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) đối với các luật, nghị quyết được Quốc hội thông qua tại các kỳ họp thứ 8, 9, 10 và kỳ họp bất thường thứ 9. Trong năm 2025, cả nước đã tổ chức hơn 216.000 hoạt động PBGDPL trực tiếp, thu hút trên 23 triệu lượt người tham dự; tổ chức gần 5.000 cuộc thi tìm hiểu pháp luật với hơn 2 triệu lượt người tham gia. Nhiều bộ, ngành, địa phương triển khai tích cực như Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Tài chính và các tỉnh: Tuyên Quang, Đồng Nai, Tây Ninh, Vĩnh Long, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Thanh Hóa… Cơ quan Thường trực Hội đồng đã tổng hợp, phân loại hàng trăm mô hình PBGDPL hiệu quả, đồng thời chỉ đạo nhân rộng, đặc biệt là các mô hình ứng dụng công nghệ số. Trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, Bộ Tư pháp đã phối hợp các bộ, ngành nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung Nghị định số 55/2019/NĐ-CP; phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức hội thảo nhận diện các điểm nghẽn trong lĩnh vực đất đai; tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Đồng thời, Bộ Tư pháp đã trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình “Hỗ trợ pháp lý liên ngành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh giai đoạn 2026–2030”. Cơ quan Thường trực Hội đồng cũng đã tổ chức các đoàn công tác làm việc với các cơ quan báo chí, truyền thông chủ lực để nắm bắt tình hình triển khai công tác truyền thông chính sách, PBGDPL. Nhân rộng mô hình hiệu quả, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số Các cơ quan báo chí trung ương đã chủ động tham gia sâu vào truyền thông chính sách. Đài Truyền hình Việt Nam xây dựng chuyên mục “Tiêu điểm chính sách” về các chính sách có tác động lớn đến xã hội, được người dân và doanh nghiệp ghi nhận, đánh giá cao. Nhiều bộ, ngành, cơ quan trung ương như Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Y tế, Bộ Tư pháp cùng các cơ quan báo chí chủ lực đã lồng ghép các chuyên mục, chuyên trang, dòng sự kiện về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả truyền thông chính sách. Thứ trưởng Bộ Tư pháp khẳng định, năm 2025, Hội đồng các cấp đã triển khai nhiệm vụ kịp thời, đa dạng về hình thức, chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số. Kết quả hoạt động của Hội đồng góp phần nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành về vai trò của công tác PBGDPL, trợ giúp pháp lý; bảo đảm quyền được thông tin pháp luật của người dân và doanh nghiệp. Đại diện Bộ Công an cho biết, Bộ đã triển khai nhiều mô hình PBGDPL thiết thực như phối hợp tuyên truyền pháp luật cho phạm nhân tại các trại giam; tổ chức các cuộc thi viết, cấp phát hàng nghìn đầu sách pháp luật, tủ sách pháp luật. Đồng thời, đổi mới hình thức tuyên truyền pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa, gắn nội dung pháp luật với đời sống thực tiễn. Truyền thông chính sách phải đồng bộ, bài bản Phát biểu kết luận phiên họp, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ghi nhận và đánh giá cao những nỗ lực, kết quả đạt được của Hội đồng trong năm 2025, góp phần nâng cao hiệu quả công tác PBGDPL, trợ giúp pháp lý và hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Tuy nhiên, Phó Thủ tướng cũng chỉ rõ một số tồn tại, hạn chế như tiến độ thực hiện một số nhiệm vụ còn chậm, phối hợp liên ngành chưa chặt chẽ; truyền thông chính sách chưa thực sự hiệu quả, việc bố trí và sử dụng kinh phí còn vướng mắc. Nhấn mạnh nhiệm vụ năm 2026, Phó Thủ tướng

HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU

Ca thông tim xuyên qua bào thai nhanh nhất Việt Nam

Chỉ trong chưa đầy 30 phút, ê-kíp Bệnh viện Từ Dũ và Nhi Đồng 1 (TP.HCM) đã can thiệp thông tim bào thai thành công, lập dấu mốc ca thực hiện nhanh nhất Việt Nam. Lúc 10h ngày 30/12, ê-kíp bác sĩ chuyên khoa Sản – Can thiệp bào thai – Tim mạch can thiệp của Bệnh viện Từ Dũ phối hợp cùng Bệnh viện Nhi đồng 1 đã thực hiện thành công ca can thiệp thông tim bào thai cho một thai nhi mắc tim bẩm sinh phức tạp. Với thời gian thực hiện dưới 30 phút, đây được xem là ca thông tim bào thai nhanh nhất từ trước đến nay tại Việt Nam, đánh dấu bước tiến nổi bật của y học bào thai trong nước. Thai nhi được chẩn đoán hẹp van động mạch phổi nặng kèm thiểu sản thất phải tiến triển, một dạng tim bẩm sinh phức tạp, có nguy cơ cao diễn tiến thành tim một thất sau sinh nếu không được can thiệp kịp thời. Thai phụ là chị N.T.T.T. (26 tuổi, ngụ TP.HCM), mang thai lần hai, thai kỳ tự nhiên. Chồng của thai phụ là người Malaysia, luôn đồng hành và phối hợp chặt chẽ cùng gia đình và đội ngũ y tế trong suốt quá trình theo dõi, hội chẩn và quyết định can thiệp. Theo hồ sơ theo dõi, ở tam cá nguyệt thứ nhất, các lần khám thai chưa ghi nhận bất thường. Xét nghiệm sàng lọc trước sinh NIPT cho kết quả nguy cơ thấp. Tuy nhiên, đến khoảng tuần thai 22-24, qua siêu âm tim thai chuyên sâu, các bác sĩ phát hiện bất thường tim bẩm sinh gồm hẹp van động mạch phổi nặng kèm hở van ba lá. Thai phụ sau đó được chuyển đến theo dõi và hội chẩn tại Bệnh viện Từ Dũ và Bệnh viện Nhi đồng 1. Kết quả chọc ối phân tích nhiễm sắc thể cho thấy thai nhi có bộ nhiễm sắc thể bình thường, tạo cơ sở quan trọng để các bác sĩ cân nhắc chỉ định can thiệp. Trong quá trình theo dõi tiếp theo, bệnh lý tim thai tiến triển nhanh, thất phải ngày càng thiểu sản cả về hình thái lẫn chức năng, làm gia tăng nguy cơ phải điều trị theo lộ trình tim một thất sau sinh. Sau nhiều buổi hội chẩn liên viện, các bác sĩ thống nhất chỉ định can thiệp thông tim bào thai, nhằm cải thiện dòng máu qua van động mạch phổi, tạo điều kiện cho thất phải tiếp tục phát triển trong tử cung. Mục tiêu là mở rộng cơ hội bảo tồn chiến lược tim hai thất hoặc 1,5 thất sau sinh, tránh cho trẻ phải đi theo lộ trình điều trị tim một thất phức tạp và kéo dài. Thực tế can thiệp gặp không ít thách thức. Tại thời điểm làm thủ thuật, thai nhi ở tư thế ngôi đầu, nghiêng trái, bánh nhau mặt trước, làm gia tăng mức độ khó. Đặc biệt, cánh tay thai nhi vắt ngang trước ngực, che khuất hoàn toàn đường vào buồng tim. Trước tình huống này, ê-kíp đã linh hoạt thực hiện một thủ thuật hỗ trợ nhỏ để di chuyển chi thai, nhanh chóng tạo điều kiện tiếp cận tim thai an toàn. Sau khi tối ưu tư thế, quá trình xuyên kim qua thành bụng mẹ – tử cung – lồng ngực thai nhi và bơm bóng nong van động mạch phổi được thực hiện thuận lợi. Ca can thiệp thành công ngay lần xuyên kim đầu tiên, giúp rút ngắn tối đa thời gian thủ thuật, hạn chế nguy cơ cho cả mẹ và thai nhi. Vợ chồng sản phụ hạnh phúc vì con ổn định sau phẫu thuật. Ảnh: Nguyễn Thuận. Trao đổi với báo chí sáng 31/12, bác sĩ chuyên khoa II Trần Ngọc Hải, Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ, cho biết ca can thiệp đã được chuẩn bị rất kỹ lưỡng với tổng cộng 5 ê-kíp, mỗi ê-kíp từ 3 đến 5 người, nâng tổng số nhân lực tham gia lên khoảng 20-25 người. “Trước đây, có những ca rất nặng phải làm kéo dài nhiều giờ, thậm chí phải can thiệp hai lần. Có trường hợp lần đầu mất 4 tiếng, lần thứ hai mất thêm 2 tiếng. Còn với ca này, chúng tôi thực hiện trong dưới 30 phút”, bác sĩ Hải chia sẻ. Theo lãnh đạo Bệnh viện Từ Dũ, Bộ Y tế xếp kỹ thuật thông tim bào thai vào danh mục phẫu thuật đặc biệt, đồng thời đánh giá đây là dấu mốc của một bước tiến rất lớn của y học Việt Nam. Bởi đây là kỹ thuật rất mới, rất hiếm và chỉ có rất ít trung tâm trên thế giới thực hiện được. Bác sĩ Hải thông tin mỗi ca can thiệp cần khoảng 50 thiết bị y tế, gần 25 nhân viên y tế, đồng thời phải chuẩn bị song song hai phòng can thiệp với đầy đủ hệ thống. Chi phí vì vậy cao hơn gần gấp đôi so với can thiệp tim mạch thông thường ở người lớn, nhưng vẫn nằm trong khung giá nhà nước quy định và được bảo hiểm y tế chi trả phần lớn. https://znews.vn/ca-thong-tim-xuyen-qua-bao-thai-nhanh-nhat-viet-nam-post1615623.html

Giáo sư Đặng Văn Ngữ – Một nhân cách lớn

GS. Đặng Văn Ngữ là “cha đẻ” của thuốc kháng sinh Penicillin ở Việt Nam, đồng thời cũng là người có công lớn trong việc đẩy lùi bệnh sốt rét, giúp cứu sống hàng vạn bộ đội, thanh niên xung phong trong thời kỳ kháng chiến. Nhân kỷ niệm 70 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với con trai của Giáo sư – NSND Đặng Nhật Minh để nghe ông kể về cuộc đời của một nhà khoa học tận tụy, một người cha bình dị nhưng để lại một nhân cách lớn cho đời và cho con cháu noi theo. Dấu ấn của những công trình y học GS. Đặng Văn Ngữ sinh năm 1910 trong một gia đình nhà nho ở làng An Cựu (Thừa Thiên Huế). Thuở nhỏ, ông được gia đình cho theo học tiểu học ở Vinh, trung học Huế, sau đó học tiếp tại Hà Nội. Năm 20 tuổi, ông đỗ tú tài và nhận được học bổng theo học tại Trường Y khoa Đông Dương (tiền thân của Trường Đại học Y Dược Hà Nội). Năm 1937, sau 8 năm miệt mài đèn sách, ông bảo vệ thành công luận án áp-xe gan và tốt nghiệp Bác sĩ Y khoa. Với thành tích học tập xuất sắc, ông trở thành người Việt Nam đầu tiên được giữ lại trường làm trợ lý cho GS. Galliard – Chủ nhiệm Bộ môn Ký sinh trùng kiêm Hiệu trưởng Trường Y khoa Đông Dương lúc đó. Khi đang làm trợ giảng thì BS. Đặng Văn Ngữ được cử sang nghiên cứu tại Trường Đại học Y khoa Tokyo (Nhật Bản) trong khuôn khổ trao đổi nghiên cứu sinh giữa hai nước Pháp – Nhật như một đại diện xuất sắc của nền y học Pháp tại Đông Dương. Trong thời gian tu nghiệp ở Nhật, ông tìm ra giống nấm sản xuất Penicillin và công bố 4 công trình khoa học có giá trị. GS. Đặng Văn Ngữ (giữa) đang thuyết trình với Bác Hồ nhân dịp Bác thăm Trường Y – Dược và Khoa Ký sinh trùng. Cùng lúc đó ở miền Bắc, giai đoạn 1949-1950, phong trào kháng chiến chống Pháp phát triển mạnh mẽ, GS. Đặng Văn Ngữ lúc bấy giờ vẫn đang làm việc ở Nhật Bản đã xin về nước để tham gia kháng chiến theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tại Nhật, GS. Đặng Văn Ngữ là Chủ tịch Hội người Việt yêu nước, nhiều lần dẫn đầu đoàn biểu tình của Việt kiều tại Tokyo phản đối thực dân Pháp trở lại xâm chiếm Việt Nam. Vì thế, trước vận mệnh sống còn của Tổ quốc, một trí thức yêu nước như ông không thể đứng ngoài cuộc. Hành trang mang theo ngoài ít vật dụng cá nhân là một ống nấm Souche Penicillium (giống Penicillium) để rồi sau này làm nên cuộc “cách mạng” trong việc điều chế Penicillin kết tinh (bột) và “nước lọc” Penicillin. Vì sao lại gọi là “nước lọc” Penicillin? Mặc dù GS. Đặng Văn Ngữ đã điều chế thành công Penicillin kết tinh (bột) nhưng vấn đề nằm ở chỗ làm thế nào để có thể sản xuất được thật nhiều Penicillin đáp ứng nhu cầu kháng khuẩn của các thương bệnh binh ngoài mặt trận? Làm sao để bất kỳ một cơ sở y tế nào cũng có thể sản xuất được Penicillin, phổ biến nó một cách rộng rãi, thông dụng nhất? Bởi sản xuất Penicillin dạng bột là một công việc đòi hỏi thời gian lâu dài, do vậy, nó không thể thỏa mãn được nhu cầu cấp thiết của quân đội và nhân dân. “Cần một thứ thuốc dễ thực hiện để có thể nhanh chóng chữa lành các vết thương” là điều GS. Đặng Văn Ngữ luôn trăn trở. Và sau nhiều ngày nghiên cứu, GS. Đặng Văn Ngữ và các cộng sự của trường Y đều nhận ra rằng “nước lọc” Penicillin có tác dụng và hiệu lực hơn cả Penicillin kết tinh nếu dùng nó để chữa trị tại chỗ các vết thương nhiễm trùng. Cách thức sản xuất là: lấy nước thân cây ngô có chứa glucose được nấu lên rồi cấy nấm bằng giống của phòng thí nghiệm tạo ra “nước lọc” Penicillin đắp lên vết thương và nó có tác dụng chữa lành, chống nhiễm trùng rất hữu hiệu. GS.Đặng Văn Ngữ và gia đình. Về nước, ông nhận nhiệm vụ lên chiến khu Việt Bắc. Tại đây, ông được gặp Hồ Chủ tịch. Người đã động viên, khích lệ và có ảnh hưởng lớn đến tinh thần yêu nước, nhân cách sống của ông trong suốt cuộc đời nghiên cứu khoa học. Những năm 1950, trong điều kiện nghiên cứu hết sức thô sơ, khó khăn, thiếu thốn cả về nhân lực lẫn vật lực, một phòng labo dã chiến đã được ra đời tại Chiến khu Việt Bắc. Với quyết tâm lớn nhất là phải tìm và sản xuất được kháng sinh như ở các viện mà ông từng làm việc ở Nhật, ông đã sáng tạo bằng cách vận dụng những nguyên liệu dễ kiếm như thân cây ngô, sắn và cả lương khô để điều chế môi trường nuôi cấy nấm, giúp điều chế Penicillin dạng bột và “nước lọc” Penicillin. Trong đó, việc sáng chế ra “nước lọc” Penicillin là một sáng kiến mang tính đột phá với nhiều ưu điểm nổi trội, dùng để chữa trị tại chỗ các vết thương phẫu thuật nhiễm trùng rất hiệu quả. Ngoài ra, “nước lọc” Penicillin còn đáp ứng yêu cầu của cuộc kháng chiến, đó là với sự hướng dẫn của Giáo sư, bất kỳ một cơ sở y tế nào cũng có thể sản xuất được. Việc sản xuất được “nước lọc” Penicillin một cách rộng rãi có ý nghĩa vô cùng đặc biệt, góp phần đắc

Thuốc phối hợp mới giúp giảm 40% nguy cơ tử vong do ung thư tuyến tiền liệt

Một bước tiến đầy hứa hẹn trong điều trị ung thư tuyến tiền liệt vừa được công bố, mở ra hy vọng mới cho hàng triệu nam giới trên toàn cầu – đặc biệt là những người bị tái phát sau phẫu thuật hoặc xạ trị. Kết quả từ một thử nghiệm lâm sàng giai đoạn III cho thấy sự kết hợp giữa hai loại thuốc đã được Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) chấp thuận, enzalutamide và leuprolide, có thể giảm gần 40% nguy cơ tử vong ở bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt tiến triển tại chỗ. Ung thư tuyến tiền liệt – căn bệnh phổ biến ở nam giới Ung thư tuyến tiền liệt là một trong những loại ung thư thường gặp nhất ở nam giới trên toàn thế giới. Phẫu thuật và xạ trị hiện là hai phương pháp điều trị chính giúp nhiều bệnh nhân có thể khỏi bệnh hoàn toàn. Tuy nhiên, khoảng một phần ba số bệnh nhân vẫn bị tái phát ung thư, thường được phát hiện qua sự gia tăng nồng độ kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt (PSA) – một dấu ấn sinh học cho thấy tế bào ung thư đang hoạt động trở lại, ngay cả khi bệnh chưa biểu hiện triệu chứng. Bệnh nhân có thời gian PSA tăng gấp đôi trong 9 tháng hoặc ngắn hơn được xem là nhóm nguy cơ cao, có khả năng ung thư sẽ di căn đến các cơ quan khác, đặc biệt là xương. Trong khi đó, các lựa chọn điều trị cho nhóm bệnh nhân này hiện vẫn còn hạn chế, khiến việc kiểm soát bệnh hiệu quả trở thành một thách thức lớn đối với y học. Một loại thuốc phối hợp mới làm giảm 40% nguy cơ tử vong do ung thư tuyến tiền liệt. Thử nghiệm EMBARK giai đoạn III – bước ngoặt trong điều trị Những phát hiện mới đến từ thử nghiệm EMBARK giai đoạn III, được công bố mới đây trên Tạp chí Y học New England (The New England Journal of Medicine). Nghiên cứu được tài trợ bởi Pfizer và Astellas Pharma, tuyển chọn hơn 1.000 bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt tái phát nguy cơ cao tại 244 trung tâm ở 17 quốc gia. Các bệnh nhân được chia ngẫu nhiên thành ba nhóm điều trị: Leuprolide đơn trị Enzalutamide đơn trị Phối hợp enzalutamide và leuprolide Hai cơ chế khác biệt – hiệu quả cộng hưởng Enzalutamide là thuốc chẹn thụ thể androgen, giúp ngăn tế bào ung thư sử dụng hormone nam (testosterone) để phát triển. Leuprolide là liệu pháp hormone có tác dụng ức chế sản xuất testosterone trong cơ thể. Trước đây, sự kết hợp giữa hai loại thuốc này đã được FDA phê duyệt cho điều trị ung thư tuyến tiền liệt di căn. Tuy nhiên, nghiên cứu EMBARK đặt ra câu hỏi: Liệu dùng phối hợp này sớm hơn, trước khi bệnh di căn, có thể kéo dài tuổi thọ cho người bệnh hay không. Kết quả nổi bật: Giảm gần 40% nguy cơ tử vong Sau 8 năm theo dõi, kết quả cho thấy: Nhóm điều trị phối hợp (enzalutamide + leuprolide) có tỷ lệ sống sót chung là 78,9%. Nhóm chỉ dùng leuprolide có tỷ lệ sống sót 69,5%. Điều này tương đương với mức giảm nguy cơ tử vong gần 40%. Nhóm chỉ dùng enzalutamide đơn độc có tỷ lệ sống 73%, không khác biệt đáng kể so với nhóm leuprolide đơn trị. Các nhà nghiên cứu kết luận rằng liệu pháp phối hợp không chỉ giúp làm chậm tiến triển bệnh như các thử nghiệm trước đây đã chỉ ra, mà còn kéo dài đáng kể tuổi thọ của bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt tái phát nguy cơ cao. Tính an toàn và dung nạp Nhìn chung, các phản ứng phụ trong thử nghiệm phù hợp với những gì đã được ghi nhận ở các nghiên cứu trước. Các tác dụng không mong muốn thường gặp bao gồm mệt mỏi, bốc hỏa, giảm ham muốn tình dục và đau khớp. Dù vậy, tỷ lệ bệnh nhân phải ngừng điều trị do tác dụng phụ là thấp và không có biến cố nghiêm trọng mới được ghi nhận. Một hạn chế được các tác giả nêu rõ là thử nghiệm không sử dụng kỹ thuật chụp PET PSMA – phương pháp hình ảnh tiên tiến có thể phát hiện các ổ di căn nhỏ mà các kỹ thuật truyền thống bỏ sót. Điều này đồng nghĩa với khả năng một số bệnh nhân có thể đã có di căn chưa được phát hiện, ảnh hưởng đến cách phân nhóm và đánh giá kết quả. Tuy nhiên, chính yếu tố này cũng củng cố giả thuyết rằng liệu pháp kết hợp có thể hiệu quả ngay cả ở giai đoạn rất sớm của bệnh, khi tế bào ung thư chưa lan rộng rõ ràng trên hình ảnh học. Kỳ vọng mới trong điều trị ung thư tuyến tiền liệt Những kết quả của thử nghiệm EMBARK mang lại cơ sở vững chắc để thay đổi cách tiếp cận điều trị ung thư tuyến tiền liệt tái phát nguy cơ cao. Sự phối hợp giữa enzalutamide và leuprolide cho thấy hiệu quả rõ rệt trong việc kéo dài thời gian sống và giảm tỷ lệ tử vong, mở ra một hướng đi mới đầy triển vọng cho bệnh nhân. Nếu được ứng dụng rộng rãi, phác đồ này có thể trở thành tiêu chuẩn điều trị mới, giúp hàng nghìn nam giới trên thế giới có cơ hội sống lâu hơn và khỏe mạnh hơn trong cuộc chiến chống lại căn bệnh ung thư phổ biến này. https://suckhoedoisong.vn/thuoc-phoi-hop-moi-giup-giam-40-nguy-co-tu-vong-do-ung-thu-tuyen-tien-liet-169251022163310915.htm

Kỳ tích y khoa: Bệnh viện Bạch Mai và BVĐK Vĩnh Phúc cứu sống bệnh nhân ngừng tim 60 phút

90 phút “Thần tốc” tạo nên kỳ tích cứu sống người bệnh Bệnh nhân nữ, 47 tuổi, tiền sử u lành tính tuyến vú phải đã được phẫu thuật, chưa phát hiện bệnh lý tim mạch mạn tính. Bệnh nhân vào BVĐK Vĩnh Phúc do cơn đau ngực trái cấp tính khởi phát 4 giờ trước. Tại đây, người bệnh được chẩn đoán: Nhồi máu cơ tim cấp ST chênh lên (STEMI) giờ thứ 4 – một cấp cứu tim mạch với nguy cơ tử vong cao nếu không được xử trí kịp thời. Bệnh nhân được chụp mạch vành qua da cấp cứu, phát hiện tắc hoàn toàn động mạch liên thất trước (LAD) và tiến hành can thiệp đặt stent động mạch vành, dòng chảy sau can thiệp tốt. Sau can thiệp, người bệnh được chuyển về bệnh phòng tiếp tục theo dõi sát. Trong lúc đang được theo dõi sau can thiệp, bệnh nhân đột ngột xuất hiện mất ý thức, trên máy theo dõi là hình ảnh rung thất – Rối loạn nhịp nguy kịch gây ngừng tuần hoàn. Người bệnh được hồi sức tim phổi, ép tim ngoài lồng ngực, sốc điện nhiều lần với tổng thời gian ngừng tim phải tiến hành cấp cứu ngừng tuần hoàn 60 phút. Sau những nỗ lực không biết mệt mỏi, người bệnh có mạch trở lại. Tuy nhiên, bệnh nhân rơi vào tình trạng sốc tim rất nặng, chức năng tim giảm nhiều, huyết áp tụt sâu, phải dùng ba loại vận mạch liều cao, nguy cơ tử vong rất cao. Ngay lập tức, BVĐK Vĩnh Phúc đã phát đi “tín hiệu” kêu gọi sự hỗ trợ từ Bệnh viện Bạch Mai. Lúc này, sức mạnh của sự phối hợp liên viện và năng lực chỉ đạo của Bệnh viện tuyến Trung ương đã phát huy tối đa. Dưới sự chỉ đạo quyết liệt và thần tốc của PGS.TS Đào Xuân Cơ –  Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, chỉ sau 1,5 giờ nhận được yêu cầu hỗ trợ từ Vĩnh Phúc, một ê-kip chuyên gia ECMO tinh nhuệ đã có mặt tại chỗ. Ê-kíp bao gồm: BSCKII. Nguyễn Bá Cường, Trung tâm Hồi sức Tích cực; ThS.BS. Hoàng Tuấn Phong và ThS.BS. Võ Duy Văn – Viện Tim mạch Quốc gia. Nhờ sự phối hợp nhịp nhàng giữa hai bệnh viện, hệ thống ECMO đã nhanh chóng được thiết lập ngay tại Vĩnh Phúc, kịp thời thay thế chức năng tim – phổi suy yếu của bệnh nhân, giành giật sự sống từ tay tử thần. Sự phản ứng “thần tốc” không phải ngẫu nhiên. Nó là kết quả của sự chỉ đạo xây dựng một cơ chế phối hợp liên viện linh hoạt, hiệu quả dưới sự điều hành của PGS.TS. Đào Xuân Cơ. Ông nhấn mạnh: Bệnh viện Bạch Mai với vai trò đầu ngành phải luôn sẵn sàng ở tư thế “ứng chiến” cao nhất. Chúng tôi đã xây dựng các ê-kip chuyên sâu luôn túc trực, quy trình vận hành tinh gọn và sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị nòng cốt như Trung tâm Hồi sức Tích cực và Viện Tim mạch Quốc gia để có thể hỗ trợ toàn quốc một cách nhanh chóng nhất khi có yêu cầu. Từ Hành trình hồi sinh đến Tầm nhìn chiến lược Quốc gia Sau khi được ECMO hỗ trợ, bệnh nhân được chuyển về Trung tâm Hồi sức Tích cực (HSTC) Bệnh viện Bạch Mai để tiếp tục cuộc chiến giành lại sự sống từ tay tử thần. Tại đây, dưới sự điều trị tận tâm của BS. Hồ Đức Triều và ê-kíp HSTC, cùng sự phối hợp đa chuyên khoa chặt chẽ (Tim mạch, Dược lâm sàng, Dinh dưỡng, Phục hồi chức năng), bệnh nhân đã vượt qua những giai đoạn nguy kịch, ngàn cân treo sợi tóc như sốc tim trầm trọng và nhiễm khuẩn nặng. Nhờ tinh thần trách nhiệm cao, sự phối hợp chuyên môn nhịp nhàng và tinh thần không bỏ cuộc, người bệnh đã có những chuyển biến tích cực. Sau 4 ngày điều trị, bệnh nhân được rút ECMO thành công. Sau 14 ngày điều trị tích cực, bệnh nhân đã hồi phục tốt, chức năng tim cải thiện rõ rệt và đủ điều kiện xuất viện. Thành công này không chỉ là một kỳ tích đơn lẻ mà còn là một bước đi chiến lược, như PGS.TS. Đào Xuân Cơ – Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai đã khẳng định: “Hỗ trợ các bệnh viện tuyến dưới triển khai thành công kỹ thuật cao như ECMO không đơn thuần là giải quyết một ca bệnh khó. Đó là nhiệm vụ chiến lược nhằm từng bước nâng cao năng lực chuyên môn cho y tế địa phương, giúp người dân được tiếp cận dịch vụ kỹ thuật cao ngay tại tuyến tỉnh, giảm tải cho bệnh viện tuyến trên và giảm nguy cơ cho người bệnh khi phải vận chuyển xa”. Phó giáo sư Xuân Cơ cũng chỉ ra rằng thành công của kỹ thuật ECMO không chỉ phụ thuộc vào máy móc hiện đại. Yếu tố quan trọng hơn cả là hệ thống tổ chức, con người được đào tạo bài bản, sự phối hợp đa chuyên khoa nhịp nhàng và một quy trình chuẩn hóa. Ca bệnh tại Vĩnh Phúc chính là minh chứng sống động cho thấy, với sự hỗ trợ chuyên môn sâu, kịp thời từ tuyến trung ương và sự quyết tâm của địa phương, kỹ thuật này hoàn toàn có thể triển khai hiệu quả tại tuyến tỉnh. Thành công của ca ECMO tại Vĩnh Phúc là một tín hiệu đáng mừng cho cả hệ thống y tế, hứa hẹn một tương lai người dân trên mọi miền Tổ quốc đều được tiếp cận những dịch vụ y tế chuyên sâu, kỹ thuật cao với chất lượng tốt nhất. Tinh thần “Không bao giờ từ bỏ dù hy

Tư vấn sức khoẻ

Hà Nội công bố 234 điểm bán thuốc phục vụ xuyên Tết Bính Ngọ

Sở Y tế Hà Nội vừa ban hành thông báo về danh sách các cơ sơ bán lẻ trực bán thuốc trong trong dịp tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 trên địa bàn. Thông báo nêu rõ có tổng số 234 cơ sơ bán lẻ thuốc trực bán thuốc trong trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 trong đó có 40 nhà thuốc trong bệnh viện trực thuộc Sở Y tế và 194 nhà thuốc tư nhân trên toàn thành phố. Theo đại diện Sở Y tế Hà Nội, danh sách các nhà thuốc mở trong dịp Tết Bính Ngọ được thông báo cụ thể trên địa bàn xã, phường bao gồm: tên nhà thuốc, dược sĩ phụ trách chuyên môn, địa chỉ, điện thoại, thời gian hoạt động của các nhà thuốc trực bán thuốc. Tết Bính Ngọ, Hà Nội có 234 điểm bán thuốc phục vụ xuyên Tết. Danh sách 40 nhà thuốc trong bệnh viện trực thuộc Sở Y tế  Trước đó, ngày 15/1, Sở Y tế Hà Nội đã có văn bản số 470/SYT-NVD về việc đảm bảo cung ứng thuốc trong dịp tết nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, chỉ đạo việc tổ chức trực bán thuốc tại các nhà thuốc bệnh viện trực thuộc Sở Y tế, các cơ sở bán lẻ thuốc của các doanh nghiệp có hệ thống bán lẻ thuốc. https://moh.gov.vn/hoat-dong-cua-dia-phuong/-/asset_publisher/gHbla8vOQDuS/content/ha-noi-cong-bo-234-iem-ban-thuoc-phuc-vu-xuyen-tet-binh-ngo?inheritRedirect=false&redirect=https%3A%2F%2Fmoh.gov.vn%3A443%2Fhoat-dong-cua-dia-phuong%3Fp_p_id%3D101_INSTANCE_gHbla8vOQDuS%26p_p_lifecycle%3D0%26p_p_state%3Dnormal%26p_p_mode%3Dview%26p_p_col_id%3Drow-3-column-3%26p_p_col_pos%3D1%26p_p_col_count%3D2

Thuốc điều trị đích giúp bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn muộn ổn định bệnh suốt 6 năm

Các bác sĩ Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu (Bệnh viện Bạch Mai) vừa ghi nhận một trường hợp bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn muộn được điều trị bằng thuốc TKIs thế hệ I từ năm 2017 đến nay với thời gian ổn định bệnh kéo dài tới 6 năm. Hình ảnh cắt lớp vi tính theo dõi trong quá trình điều trị, tổn thương xơ hóa tại vị trí u cũ (mũi tên xanh) và giãn khu trú các nhánh phế quản liền kề (mũi tên vàng). Hiệu quả của thuốc điều trị đích với ung thư phổi Bệnh nhân nữ, 72 tuổi, nhập viện tháng 6/2017 do đau ngực trái âm ỉ kéo dài, sụt cân khoảng 8kg trong vòng 6 tháng. Đáng chú ý, bệnh nhân không ho, không khó thở trong suốt thời gian này. Thời điểm nhập viện, bệnh nhân tỉnh táo, không sốt, huyết động ổn định. Thăm khám tim phổi chưa ghi nhận dấu hiệu bất thường rõ ràng. Các xét nghiệm công thức máu, sinh hóa máu trong giới hạn bình thường, chỉ điểm khối u CEA và Cyfra 21-1 không tăng. Điện tâm đồ và siêu âm tim không phát hiện dấu hiệu thiếu máu cơ tim. Kết quả chụp cắt lớp vi tính (CT) lồng ngực cho thấy khối u thùy trên phổi trái kích thước 20x15mm, bờ tua gai, xâm lấn rãnh liên thùy, kèm theo nhiều nốt mờ rải rác hai phổi, kích thước 5-10mm, phù hợp với tổn thương thứ phát, cùng hạch rốn phổi trái kích thước 10mm. Sinh thiết xuyên thành ngực tổn thương phổi trái cho kết quả mô bệnh học là ung thư biểu mô tuyến. Xét nghiệm đột biến gene phát hiện đột biến EGFR dạng xóa đoạn exon 19. Các thăm dò bổ sung bằng PET/CT và cộng hưởng từ não không phát hiện thêm tổn thương di căn ngoài phổi. Bệnh nhân được chẩn đoán ung thư phổi trái không tế bào nhỏ dạng biểu mô tuyến, giai đoạn T4N1M1 (di căn phổi), có đột biến EGFR. Sau hội chẩn chuyên môn, bệnh nhân được chỉ định điều trị bằng thuốc erlotinib liều 150mg/ngày đường uống. Sau 6 tháng điều trị, triệu chứng đau ngực giảm rõ rệt, bệnh nhân dung nạp thuốc tốt. Tác dụng phụ chủ yếu là ban da dạng chấm và mụn ở vùng đầu, vùng sinh dục – những biểu hiện thường gặp của thuốc và được đánh giá là dấu hiệu dự báo đáp ứng điều trị tốt. Kết quả chụp CT kiểm tra cho thấy khối u đáp ứng điều trị, chuyển thành tổn thương xơ hóa, giảm ngấm thuốc sau tiêm. Bệnh nhân tiếp tục được theo dõi và điều trị duy trì bằng erlotinib. Đến thời điểm đánh giá lại vào tháng 5/2023, sau 6 năm điều trị liên tục, bệnh nhân vẫn trong tình trạng ổn định: Không đau ngực, không khó thở, các chỉ điểm khối u CEA và Cyfra 21-1 duy trì trong giới hạn bình thường. Kết quả chụp CT ngực-bụng và cộng hưởng từ sọ não không ghi nhận thêm tổn thương mới. Tại vị trí u cũ, tổn thương xơ hóa gây co kéo rãnh liên thùy và giãn khu trú các nhánh phế quản lân cận, song không ảnh hưởng đến chức năng hô hấp và không gây triệu chứng lâm sàng. Theo các bác sĩ, đây là trường hợp đáp ứng kéo dài hiếm gặp với thuốc điều trị đích thế hệ I, cho thấy vai trò bền vững của nhóm thuốc này trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ có đột biến EGFR, ngay cả ở giai đoạn muộn. Các liệu pháp miễn dịch đang phát huy tác dụng trong điều trị các bệnh ung thư Tại Việt Nam, ung thư phổi phổ biến sau ung thư vú và ung thư gan, hàng năm phát hiện khoảng gần 25 nghìn ca mắc mới ung thư phổi, trong đó có khoảng hơn 22 ngàn ca tử vong mỗi năm. Ung thư phổi thường gặp ở người lớn tuổi từ 55 tuổi trở lên, độ tuổi trung bình mắc bệnh là 70 tuổi, tỷ lệ mắc bệnh và tử vong ở nam giới nhiều hơn nữ giới. Ung thư phổi đang để lại gánh nặng bệnh tật cho người bệnh và ngành y vì đại đa số các trường hợp ung thư phổi được phát hiện đã ở giai đoạn muộn. Nếu bệnh nhân được phát hiện sớm thì tỷ lệ sống thêm từ 5 năm trở lên lên tới hơn 90%. Tuy nhiên việc sàng lọc, phát hiện, chẩn đoán và điều trị còn không ít thách thức. Những năm gần đây, điều trị ung thư phổi giai đoạn muộn đã có nhiều bước tiến quan trọng với sự ra đời của các liệu pháp miễn dịch và điều trị đích nhắm vào các đột biến gene như EGFR, ALK, ROS1… Liệu pháp miễn dịch là phương pháp mới, ít tác dụng phụ, hiệu quả cao, kéo dài thời gian sống và nâng cao chất lượng sống cho người bệnh ung thư phổi không tế bào nhỏ, ung thư dạ dày…Liệu pháp miễn dịch giúp tăng cường hệ thống miễn dịch, giúp hệ thống miễn dịch truy vết, tiêu diệt các tế bào ung thư. Các thuốc điều trị đích ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong ung thư phổi ở cả giai đoạn sớm và giai đoạn muộn, góp phần kéo dài thời gian sống cũng như cải thiện đáng kể chất lượng cuộc sống cho người bệnh. Các thuốc ức chế tyrosine kinase (TKIs) thế hệ I, dù đã được đưa vào sử dụng từ năm 2005, đến nay vẫn giữ vai trò nhất định trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ. https://moh.gov.vn/hoat-dong-cua-dia-phuong/-/asset_publisher/gHbla8vOQDuS/content/thuoc-ieu-tri-ich-giup-benh-nhan-ung-thu-phoi-giai-oan-muon-on-inh-benh-suot-6-nam?inheritRedirect=false&redirect=https%3A%2F%2Fmoh.gov.vn%3A443%2Fhoat-dong-cua-dia-phuong%3Fp_p_id%3D101_INSTANCE_gHbla8vOQDuS%26p_p_lifecycle%3D0%26p_p_state%3Dnormal%26p_p_mode%3Dview%26p_p_col_id%3Drow-3-column-3%26p_p_col_pos%3D1%26p_p_col_count%3D2

Bác sĩ Trương Hữu Khanh: ‘Virus Nipah khó gây đại dịch như Covid-19’

Bác sĩ Trương Hữu Khanh, chuyên gia về bệnh truyền nhiễm, đánh giá virus Nipah lây qua tiếp xúc dịch tiết động vật hoặc người bệnh, không lây lan mạnh qua đường hô hấp nên khó bùng phát diện rộng. Bác sĩ Khanh, Phó Chủ tịch Hội Truyền nhiễm TP HCM, nguyên trưởng khoa Nhiễm – Thần kinh Bệnh viện Nhi đồng 1, đưa ra nhận định trên ngày 27/1, trước bối cảnh dư luận hoang mang về ổ dịch Nipah mới tại bang Tây Bengal (Ấn Độ). Tính từ cuối năm 2025 đến ngày 26/1, khu vực này phát hiện 5 trường hợp nghi ngờ, trong đó hai nhân viên y tế có kết quả dương tính. Dù giới chức y tế sở tại xác định đây là ổ dịch nhỏ, chưa lây lan rộng, thông tin vẫn gây xao động tâm lý người dân nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Trước lo ngại này, bác sĩ Khanh cho rằng việc đánh đồng mức độ nguy hiểm giữa Nipah và Covid-19 là khập khiễng. SARS-CoV-2 gây Covid-19 là chủng virus mới, lây lan cực nhanh qua giọt bắn hô hấp và liên tục đột biến. Trong khi đó, Nipah là dòng virus “cổ điển”, cơ chế xâm nhập hoàn toàn khác biệt. “Khả năng mầm bệnh Nipah lây trực tiếp từ người sang người qua không khí để tạo thành đại dịch gần như bằng không”, bác sĩ Khanh nói. Lý giải về chùm ca bệnh tại Ấn Độ, chuyên gia cho rằng nguồn lây xuất phát từ hoàn cảnh tiếp xúc đặc biệt. Kết quả điều tra dịch tễ sơ bộ trùng khớp với nhận định này khi nữ điều dưỡng nhiễm bệnh đầu tiên tại Bệnh viện Narayana Multispeciality từng uống mật chà là tươi nghi nhiễm dịch tiết của dơi. Người này sau đó lây cho đồng nghiệp qua tiếp xúc gần trong quá trình chăm sóc mà thiếu biện pháp bảo hộ chuẩn. Theo bác sĩ Khanh, vật chủ chính của virus là loài dơi ăn quả. Mầm bệnh tồn tại trong nước bọt, nước tiểu của loài này. Con người nhiễm bệnh chủ yếu do chạm trực tiếp vào dịch tiết hoặc ăn trái cây dơi cắn dở. Nếu không có tiếp xúc rất gần hoặc tiêu thụ thực phẩm nhiễm khuẩn, nguy cơ virus vượt biên giới bùng phát tại Việt Nam rất thấp. Các đợt dịch Nipah trong lịch sử đều khu trú ở phạm vi hẹp và tự chấm dứt khi cơ quan chức năng kiểm soát tốt nguồn lây động vật. Đồng quan điểm, PGS.TS Lê Quốc Hùng, Trưởng Khoa Bệnh Nhiệt đới, Bệnh viện Chợ Rẫy, đánh giá tính chất lây nhiễm của Nipah rất hạn chế, khác hoàn toàn các bệnh lý đường hô hấp cấp tính. Tuy nhiên, ông lưu ý Nipah vẫn là bệnh nguy hiểm đối với cá nhân mắc phải do tấn công trực tiếp vào não. Bệnh cảnh chính là viêm não với các triệu chứng sốt cao, đau đầu, co giật, diễn tiến nhanh tới hôn mê. Tỷ lệ tử vong của bệnh rất cao, có thể trên 50% do thế giới chưa tìm ra thuốc đặc trị hay vaccine phòng ngừa. Các biện pháp y tế hiện tại chỉ dừng lại ở điều trị triệu chứng và hồi sức tích cực. Sáng 27/1, trước diễn biến dịch tại nước bạn, Bộ Y tế yêu cầu các đơn vị kiểm dịch biên giới và y tế dự phòng tăng cường giám sát tại cửa khẩu và cộng đồng. Đến nay, Việt Nam chưa ghi nhận ca mắc Nipah nào. Thế giới phát hiện virus này lần đầu năm 1999 tại Malaysia và Singapore, khiến hơn 100 người tử vong, buộc tiêu hủy hàng triệu con lợn. Kể từ đó, dịch xuất hiện định kỳ tại Nam Á, chủ yếu ở Bangladesh và Ấn Độ. Để phòng bệnh, các chuyên gia khuyến cáo người dân thực hiện “ăn chín, uống sôi”. Đặc biệt, tuyệt đối không ăn các loại trái cây có dấu hiệu bị cắn dở, vết răng động vật hoặc trái cây rụng không rõ nguyên nhân. Khi du lịch đến các vùng có dịch, cần hạn chế tiếp xúc với động vật hoang dã, đặc biệt là dơi. https://vnexpress.net/bac-si-truong-huu-khanh-virus-nipah-kho-gay-dai-dich-nhu-covid-19-5010670.html

Cách phòng viêm phổi cho trẻ khi trời lạnh

Viêm phổi là bệnh thường gặp và là một trong những nguyên nhân chính gây tử vong ở trẻ em. Trẻ càng nhỏ tỷ lệ tử vong do viêm phổi càng cao. Mùa đông, các bệnh cảm lạnh cũng gia tăng làm cho virus, vi khuẩn nhân cơ hội xâm nhập mũi họng và xuống phổi gây viêm phổi. Trẻ mắc viêm phổi có biểu hiện gì? Khi mắc viêm phổi, trẻ sẽ có các biểu hiện: Giai đoạn sớm: có thể chỉ có sốt nhẹ, ho húng hắng, chảy nước mắt và nước mũi, khò khè, ăn kém, bỏ bú, quấy khóc… Giai đoạn sau: trẻ không được điều trị đúng và theo dõi sát có thể diễn biến nặng hơn với biểu hiện sốt cao, ho tăng lên, có đờm, khó thở, thở nhanh, rút lõm lồng ngực, bỏ bú hoặc bú kém, tím môi, tím đầu chi … Trẻ mắc viêm phổi nặng có triệu chứng: trẻ ho hoặc khó thở và có ít nhất một trong các triệu chứng chính là: co rút lồng ngực, phập phồng cánh mũi; thở rên (ở trẻ dưới 2 tháng)… Trẻ mắc viêm phổi rất nặng sẽ có các biểu hiện: trẻ có ho hoặc khó thở cộng với ít nhất một trong các triệu chứng chính là: tím tái, co giật, lơ mơ hoặc hôn mê; không uống được hoặc bỏ bú hoặc nôn ra tất cả mọi thứ; suy hô hấp nặng với biểu hiện đầu gật gù theo nhịp thở và co kéo cơ hô hấp phụ. Ngoài ra, có thể có thêm một số triệu chứng khác gồm: thở nhanh, phập phồng cánh mũi, thở rên, co rút lồng ngực. Lưu ý: Để xác định trẻ có thở nhanh hay không bằng cách đếm nhịp thở của trẻ trong đủ 1 phút. Trẻ được coi là thở nhanh nếu: Trẻ < 2 tháng tuổi, nhịp thở > 60 lần/phút. Trẻ 2 – 11 tháng tuổi, nhịp thở > 50 lần/phút. Trẻ 12 – 60 tháng tuổi, nhịp thở > 40 lần/phút. Cha mẹ không tự ý cho con uống kháng sinh Khi trẻ mắc viêm phổi, cha mẹ cần cho trẻ đi khám và điều trị theo chỉ dẫn của bác sĩ. Cha mẹ tuyệt đối không tự ý mua thuốc kháng sinh, thuốc giảm ho điều trị cho con tại nhà. Thuốc kháng sinh sẽ không có tác dụng trong trường hợp trẻ bị viêm phổi do virus. Ho là phản xạ tốt để tống xuất chất đờm ra khỏi đường thở, làm thông thoáng đường thở nên không cho trẻ uống thuốc giảm ho khi chưa có chỉ định của bác sĩ. Cách phòng bệnh viêm phổi cho trẻ trong mùa lạnh Mùa đông các bệnh cảm lạnh cũng gia tăng làm cho virus, vi khuẩn nhân cơ hội xâm nhập mũi họng và xuống phổi gây viêm phổi. Muốn phòng bệnh viêm phổi cho trẻ em cần thực hiện các biện pháp như sau: Giữ ấm đường thở: Khi thời tiết trở lạnh, cha mẹ cần lưu ý giữ ấm cho trẻ bằng cách cho trẻ ăn mặc đủ ấm phù hợp với mức độ lạnh bên ngoài: mặc thêm áo ấm, nón len, mang thêm bao tay, tất, khăn, đeo khẩu trang khi ra đường, đội mũi kín tai, sử dụng nước ấm,… Bổ sung đủ dinh dưỡng cho trẻ: Trẻ em cần được ăn uống đầy đủ các chất dinh dưỡng để tăng cường miễn dịch, nhất là những trẻ còn trong độ tuổi bú mẹ. Với các trẻ biếng ăn, cha mẹ nhất thiết nên bổ sung từ các nguồn thực phẩm bổ sung, các công thức thuốc bổ tổng hợp và các chế phẩm thảo dược chuẩn hóa có tác dụng chống biếng ăn cho trẻ. Cho trẻ uống đủ nước, trẻ nhỏ cho bú nhiều lần trong ngày. Không hút thuốc, đun nấu trong phòng có trẻ nhỏ. Cách ly trẻ với người bị bệnh để tránh lây lan thành dịch. Nơi ở đủ ánh sáng, lưu thông không khí tốt. Thường xuyên lau nền nhà, tay nắm cửa và bề mặt các đồ vật trong nhà bằng các chất tẩy rửa thông thường, như xà phòng và các dung dịch khử khuẩn. Đưa trẻ đi tiêm phòng đầy đủ, đúng lịch các vắc-xin như bạch hầu – ho gà – uốn ván, Hemophilus influenzae typ B (Hib), phế cầu, cúm… Phát hiện sớm các biểu hiện sớm của bệnh viêm đường hô hấp nói chung như: ho, sốt, chảy nước mũi, khó thở… và các rối loạn khác như tiêu chảy, ăn kém, chậm tăng cân… để chăm sóc và điều trị kịp thời. Hàng ngày vệ sinh răng miệng cho trẻ sạch sẽ ngày 2 lần sáng khi ngủ dậy và buổi tối trước khi đi ngủ, sau mỗi bữa ăn cho uống nước súc miệng, tránh để khuẩn đọng lại bằng cách chải răng, lau răng miệng cho trẻ nhỏ.

Đấu thầu

Đặt Lịch Khám

    Đặt Lịch Khám