BỆNH VIỆC BẮC THĂNG LONG
BẮC THĂNG LONG HOSPITAL

(84-24).0889.615.815

Email: bvbtl@hanoi.gov.vn

BỆNH VIỆC BẮC THĂNG LONG
BẮC THĂNG LONG HOSPITAL

Previous slide
Next slide
0 + NĂM
Hình Thành và Phát Triển
0 +
Giáo sư, Bác sĩ
0 +
Bệnh Nhân
0 %
Khách hàng hài lòng

BỆNH VIỆN BẮC THĂNG LONG

Ngày 03/7/2000 Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội đã ban hành quyết định số 67/QĐ-UB về việc đổi tên “Trung tâm y tế dự phòng than Khu vực Nội Địa” thành “Bệnh viện Bắc Thăng Long” Từ đây Bệnh viện đã trực thuộc Sở Y tế Hà Nội và hoạt động theo đúng ngành dọc của mình. Trụ sở đóng tại: Tổ 18, thị trấn Đông Anh, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.

Bệnh viện Bắc Thăng Long ngày nay với quy mô 420 giường bệnh, 28 khoa, phòng chức năng và 2 bộ phận…

BAN GIÁM ĐỐC

BSCKII. Vũ Thành Chung

BSCKII. Nguyễn Văn Thành

Phó giám đốc Bệnh viện

ThS. Phùng Văn Dũng

Phó giám đốc Bệnh viện

BSCKII. Trần Xuân Thăng

Phó giám đốc Bệnh viện

CHUYÊN KHOA NỔI BẬT

PHÒNG BAN BỆNH VIỆN

Ngành Y tế Hà Nội: Nhiều kết quả nổi bật trong 6 tháng đầu năm 2026

Chiều ngày 28/6, Sở Y tế Hà Nội đã tổ chức Hội nghị sơ kết công tác y tế 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026. Trong 6 tháng đầu năm 2026, bám sát sự chỉ đạo của Thành ủy, HĐND, UBND thành phố Hà Nội và Bộ Y tế, ngành Y tế Thủ đô đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân. Song song với việc tăng cường công tác phòng, chống dịch bệnh, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, phát triển y tế cơ sở, công tác chuyển đổi số tiếp tục được xác định là nhiệm vụ đột phá, tạo nền tảng xây dựng hệ thống y tế thông minh, hiện đại và lấy người dân làm trung tâm. Chuyển đổi số tiếp tục là điểm nhấn nổi bật của ngành Y tế Hà Nội trong 6 tháng đầu năm 2026. Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, Kế hoạch hành động số 20-KH/BCĐ57 của Thành ủy và Đề án 06 của Chính phủ, Sở Y tế Hà Nội đã tập trung xây dựng nền tảng y tế thông minh, đẩy mạnh phát triển dữ liệu số, ứng dụng công nghệ mới và nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành toàn ngành. Đến hết quý II/2026, ngành Y tế đã quản lý Hồ sơ sức khỏe điện tử cho gần 99% dân số được chuẩn hóa; tiếp tục cập nhật dữ liệu căn cước công dân, bảo hiểm y tế, hộ gia đình, lịch sử khám chữa bệnh, tiêm chủng và kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, bảo đảm dữ liệu “đúng – đủ – sạch – sống”. 100% bệnh viện công lập thực hiện liên thông dữ liệu khám chữa bệnh theo thời gian thực, từng bước hình thành kho dữ liệu y tế của thành phố. Cùng với đó, công tác triển khai bệnh án điện tử đạt nhiều kết quả tích cực. Đến nay, 100% bệnh viện công lập và 68% bệnh viện ngoài công lập đã triển khai bệnh án điện tử; các đơn vị tiếp tục hoàn thiện hệ thống HIS-LIS-PACS, chữ ký số và liên thông dữ liệu, hướng tới thay thế hoàn toàn bệnh án giấy theo lộ trình của Bộ Y tế. Ngành Y tế cũng tích cực triển khai kế hoạch khám sức khỏe định kỳ cho người dân, đồng bộ dữ liệu khám sức khỏe với Hồ sơ sức khỏe điện tử và Sổ sức khỏe điện tử trên VNeID, phục vụ công tác quản lý sức khỏe toàn dân. Song song với đó, Sở Y tế đã xây dựng Đề án Chuyển đổi số ngành Y tế Hà Nội đến năm 2030 cùng các chương trình, dự án thành phần về dữ liệu số, bệnh viện thông minh, hồ sơ sức khỏe điện tử, bệnh án điện tử, khám chữa bệnh từ xa (Telehealth), trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT) và Trung tâm điều hành y tế thông minh (Health IOC). Nhiều công nghệ mới đã được đưa vào ứng dụng thực tiễn. Trong quý II/2026, ngành đã triển khai thí điểm AI trong chẩn đoán hình ảnh tại 3 bệnh viện với hơn 24.000 ca; triển khai mô hình vận chuyển mẫu bệnh phẩm bằng thiết bị bay không người lái (UAV) tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang; hoàn thiện Đề án Telehealth giai đoạn 2026-2030, Đề án ứng dụng IoT trong điều phối phương tiện cấp cứu và Trung tâm điều hành cấp cứu thông minh, đồng thời xây dựng mô hình bệnh viện thông minh tại 3 bệnh viện của thành phố. Đặc biệt, thanh toán không dùng tiền mặt được đẩy mạnh tại các cơ sở y tế. Đến nay, 100% bệnh viện trực thuộc Sở Y tế đã triển khai thanh toán không dùng tiền mặt; trong đó 59,5% bệnh viện được trang bị 97 máy POS, 47,6% bệnh viện triển khai hơn 190 điểm thanh toán bằng mã QR động và 100% bệnh viện triển khai hơn 400 điểm thanh toán bằng mã QR tĩnh. Cùng với đó, các đơn vị tiếp tục mở rộng đăng ký khám bệnh trực tuyến, kê đơn điện tử, ký số hồ sơ, sử dụng phần mềm có bản quyền và bảo đảm an toàn thông tin theo quy định. Hội nghị sơ kết công tác y tế 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026. Bên cạnh việc triển khai các nhiệm vụ chuyên môn, ngành Y tế Hà Nội cũng đẩy mạnh công tác truyền thông về Hồ sơ sức khỏe điện tử, bệnh án điện tử, khám sức khỏe định kỳ, ứng dụng VNeID trong khám chữa bệnh và các nhiệm vụ chuyển đổi số trên Cổng thông tin điện tử, Fanpage Sức khỏe Thủ đô và các phương tiện thông tin đại chúng, góp phần nâng cao nhận thức và sự đồng thuận của người dân trong quá trình xây dựng y tế số, y tế thông minh. Trong 6 tháng đầu năm 2026, mạng lưới khám chữa bệnh trên địa bàn thành phố tiếp tục được củng cố, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân. Toàn thành phố có 17.365 giường bệnh, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm 2025. Các bệnh viện đã thực hiện trên 4.387.000 lượt khám bệnh, trong đó có trên 2.549.000 lượt khám bảo hiểm y tế; điều trị ngoại trú gần 775.000 lượt và điều trị nội trú trên 530.000 lượt. Đáng chú ý, số lượt chuyển tuyến tiếp tục giảm còn 98.919 lượt, giảm 15,91% so với cùng kỳ năm trước, phản ánh hiệu quả tích cực của hệ thống khám chữa bệnh các tuyến, góp phần giảm quá tải cho các bệnh viện tuyến trên. Cùng với việc nâng cao hiệu quả khám chữa bệnh, công tác quản

Phát triển VNeID thành “siêu ứng dụng”, trung tâm của hệ sinh thái số quốc gia

Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng vừa ký Quyết định số 940/QĐ-TTg ngày 26/5/2026 phê duyệt Đề án “Phát triển ứng dụng định danh quốc gia VNeID giai đoạn 2026 – 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Đề án đặt mục tiêu phát triển VNeID trở thành “siêu ứng dụng”, đóng vai trò trung tâm trong hệ sinh thái số quốc gia, phục vụ người dân, doanh nghiệp và cơ quan nhà nước trong thực hiện thủ tục hành chính, giao dịch điện tử và khai thác các tiện ích số. Theo Đề án, VNeID sẽ được phát triển thành nền tảng số quốc gia an toàn, hiện đại, có khả năng mở rộng cao, đáp ứng hiệu quả nhu cầu giao dịch số ngày càng lớn của xã hội. Đồng thời, đây cũng sẽ là nền tảng số tin cậy để kết nối, chia sẻ, xác thực thông tin giữa các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, hệ thống thông tin của các bộ, ngành, địa phương, tổ chức và doanh nghiệp; góp phần thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia, phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Đề án xác định nhiều mục tiêu quan trọng trong từng giai đoạn phát triển. Đến năm 2028, phấn đấu hoàn thành việc đồng bộ khung thể chế, cơ chế, chính sách nhằm tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, thống nhất cho việc phát triển, vận hành và mở rộng VNeID. Đồng thời, hoàn thành triển khai 100% hạ tầng kỹ thuật, công nghệ, phần mềm phục vụ nâng cấp tổng thể hệ thống VNeID và phát triển ứng dụng này thành “siêu ứng dụng”. Một trong những nội dung đáng chú ý là việc mở rộng hệ sinh thái tiện ích số trên VNeID. Theo mục tiêu đề ra, đến hết năm 2028, phấn đấu tích hợp khoảng 50% tiện ích số thiết yếu phục vụ nhu cầu giao dịch số của người dân, doanh nghiệp và cơ quan, tổ chức. 100% tài khoản định danh điện tử cho cá nhân, tổ chức đủ điều kiện sẽ được cấp theo nhu cầu; đồng thời 100% giấy tờ công dân, tổ chức theo quy định pháp luật về định danh và xác thực điện tử sẽ được tích hợp lên VNeID. Đặc biệt, Đề án đặt mục tiêu đến năm 2028, 100% đối tượng nhận các khoản hỗ trợ, hưu trí và chi trả an sinh xã hội được tích hợp thông tin tài khoản thanh toán, ví điện tử trên VNeID. Đây được xem là bước tiến quan trọng trong thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt, tăng tính minh bạch, thuận tiện trong chi trả chính sách an sinh xã hội và các dịch vụ công. Cùng với đó, 100% thuê bao di động sẽ được đăng ký, xác thực thông tin trên VNeID; 80% công dân đủ điều kiện được cấp chứng thư chữ ký số để sử dụng trong các dịch vụ công trực tuyến và các giao dịch điện tử. Đề án cũng định hướng bước đầu tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI) vào hệ thống nhằm nâng cao trải nghiệm, hỗ trợ cá nhân hóa dịch vụ cho người dùng. Đến năm 2030, mục tiêu tiếp tục mở rộng và hoàn thiện toàn diện hệ sinh thái số trên VNeID. Theo đó, 100% công dân có tài khoản VNeID mức độ 2 và được tích hợp thông tin tài khoản thanh toán, ví điện tử khi có nhu cầu. 100% công dân đủ điều kiện được cấp chứng thư chữ ký số để sử dụng trong các dịch vụ công trực tuyến; đồng thời hoàn thiện các dịch vụ tin cậy phục vụ giao dịch dân sự của người dân và doanh nghiệp. Đáng chú ý, đến năm 2030, phấn đấu 70% tiện ích, dịch vụ trên VNeID được tích hợp trí tuệ nhân tạo nhằm cá nhân hóa và nâng cao trải nghiệm người dùng; 70% người dùng sử dụng thanh toán không tiền mặt, thanh toán hóa đơn thiết yếu thông qua VNeID; 70% người dùng thường xuyên truy cập và sử dụng các dịch vụ, tiện ích trong hệ sinh thái VNeID. Tầm nhìn đến năm 2045, VNeID tiếp tục được mở rộng hệ sinh thái tiện ích số, nâng cấp hạ tầng công nghệ hiện đại, bảo đảm hoạt động ổn định, an toàn, thông suốt. Mục tiêu đặt ra là 100% tiện ích, dịch vụ được tích hợp trí tuệ nhân tạo; 100% người dùng được trải nghiệm thanh toán không tiền mặt và 90% người dùng thường xuyên sử dụng các tiện ích trong hệ sinh thái VNeID. Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, Đề án đưa ra nhiều nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm. Trong đó, Bộ Công an được giao chủ trì phối hợp với các bộ, ngành, địa phương rà soát, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến định danh và xác thực điện tử, giao dịch điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân và các quy định pháp luật chuyên ngành có liên quan đến việc khai thác, sử dụng VNeID. Bộ Công an cũng sẽ tham mưu Chính phủ trình Quốc hội ban hành Luật Định danh và xác thực điện tử cùng các văn bản hướng dẫn thi hành; trình Chính phủ ban hành Nghị quyết về phát triển công dân số nhằm xác định rõ giá trị pháp lý, điều kiện sử dụng và trách nhiệm của các chủ thể khi sử dụng VNeID trong các giao dịch hành chính, dân sự và thương mại. Song song với hoàn thiện thể chế, Bộ Công an sẽ chủ trì điều chỉnh kiến trúc, nâng cấp tổng thể VNeID giai đoạn 2026 – 2030 theo hướng hiện đại, đồng

Khai trương đôi tàu chuyên dụng phục vụ y, bác sĩ Bệnh viện Bạch Mai làm việc tại Ninh Bình

Sáng nay (26-6), ngành Đường sắt Việt Nam đã chính thức vận hành đôi tàu chuyên dụng, đưa đón đội ngũ y bác sĩ, cán bộ và người lao động của Bệnh viện Bạch Mai di chuyển làm việc giữa cơ sở Hà Nội và cơ sở Ninh Bình (khu vực Phủ Lý cũ). Bệnh viện Bạch Mai cơ sở Ninh Bình có quy mô lên tới 1.000 giường bệnh, được kỳ vọng sẽ giải quyết căn bản tình trạng quá tải cho cơ sở chính ở Hà Nội, đồng thời mang dịch vụ y tế kỹ thuật cao đến gần hơn với người dân khu vực Nam đồng bằng sông Hồng. Để phục vụ nhu cầu đi lại hằng ngày của hơn 500 cán bộ, nhân viên y tế Bệnh viện Bạch Mai, Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam tổ chức đoàn tàu gồm 9 toa xe ghế ngồi mềm, trang bị hệ thống điều hòa không khí và tiện ích, dịch vụ trên tàu, bảo đảm không gian nghỉ ngơi cho đội ngũ nhân viên y tế trong suốt hành trình. Đặc biệt, xe trung chuyển đã được tỉnh Ninh Bình bố trí sẵn tại ga Phủ Lý để đưa đón hai chiều giữa nhà ga và Bệnh viện Bạch Mai cơ sở Ninh Bình, tạo nên một quy trình di chuyển khép kín thuận tiện, an toàn. Trong giai đoạn đầu vận hành, các nhà ga trên tuyến sẽ tăng cường lực lượng nhân viên nhằm hỗ trợ phân luồng hành khách, đảm bảo an toàn, hiệu quả về mặt thời gian cho công tác chuyên môn của các y bác sĩ tại cơ sở Ninh Bình. Cán bộ, nhân viên Bệnh viện Bạch Mai trên chuyến tàu khai trương. Ảnh: VNR   Vượt lên trên ý nghĩa của một phương tiện di chuyển thông thường, sự ra đời của đôi tàu PL1/PL2 không chỉ giúp nâng cao hiệu quả kết nối hạ tầng để phát triển y tế chất lượng cao tới các địa phương, mà còn là lời cam kết của ngành Đường sắt luôn sẵn sàng đồng hành cùng các chiến sĩ áo trắng trên con đường phụng sự nhân dân. Theo lịch trình, tàu sẽ hoạt động đều đặn từ thứ Hai đến thứ Sáu hàng tuần. Chiều đi, tàu PL1 sẽ xuất phát tại ga Hà Nội lúc 6h15, đến ga Phủ Lý lúc 7h22. Chiều ngược lại, tàu PL2 sẽ xuất phát từ ga Phủ Lý lúc 17h20, về đến ga Hà Nội lúc 18h30. Xe trung chuyển được bố trí sẵn tại ga Phủ Lý để đưa đón hai chiều giữa nhà ga và Bệnh viện Bạch Mai cơ sở Ninh Bình.   https://hanoimoi.vn/khai-truong-doi-tau-chuyen-dung-phuc-vu-y-bac-si-benh-vien-bach-mai-lam-viec-tai-ninh-binh-1209205.html

Hà Nội hỗ trợ đến 20 triệu đồng mỗi tháng cho bác sĩ về tuyến dưới

HĐND thành phố Hà Nội vừa thông qua Nghị quyết hỗ trợ nhân viên y tế tuyến trên luân phiên về cơ sở với mức chi thêm từ 6 đến 20 triệu đồng mỗi tháng, áp dụng từ ngày 1/7. Chính sách nằm trong Nghị quyết quy định một số chính sách phát triển hệ thống y tế Thủ đô được HĐND TP Hà Nội thông qua tại kỳ họp chuyên đề hôm 15/6 và có hiệu lực từ ngày 1/7. Đây được xem là động thái khuyến khích đội ngũ chuyên gia, bác sĩ và kỹ thuật viên có giấy phép hành nghề tăng cường hỗ trợ chuyên môn cho tuyến dưới. Theo quy định, mức hỗ trợ căn cứ trực tiếp vào trình độ chuyên môn của người đi luân phiên. Cụ thể, Giáo sư và Phó giáo sư nhận mức cao nhất 20 triệu đồng mỗi tháng. Tiến sĩ và bác sĩ chuyên khoa II hưởng 17 triệu đồng. Nhóm thạc sĩ, bác sĩ nội trú và bác sĩ chuyên khoa I nhận 12 triệu đồng, trong khi các bác sĩ khác hưởng 10 triệu đồng. Đối với điều dưỡng, hộ sinh và kỹ thuật viên y tế, mức hỗ trợ dao động từ 6 đến 8 triệu đồng tùy trình độ cao đẳng hay đại học. Để nhận khoản thù lao này, nhân sự y tế phải thực hiện đợt luân phiên liên tục ít nhất một tháng và hoàn thành đầy đủ thời gian công tác theo kế hoạch. Thành phố kỳ vọng nguồn lực chất lượng cao từ các bệnh viện lớn sẽ giúp nâng cao năng lực khám chữa bệnh cho y tế cơ sở, đồng thời thu hẹp khoảng cách về chất lượng điều trị giữa các tuyến. Bên cạnh chế độ luân phiên, Hà Nội còn áp dụng cơ chế trải thảm đỏ để hút nhân lực về Trung tâm Cấp cứu 115 và các trạm y tế. Người có trình độ từ thạc sĩ, bác sĩ nội trú hoặc chuyên khoa I trở lên khi tuyển dụng lần đầu có thể nhận hỗ trợ một lần lên tới 100 lần mức lương tối thiểu vùng I, đi kèm cam kết làm việc ít nhất 5 năm. Riêng nhân viên tại Trung tâm Cấp cứu 115 được hưởng thêm 5 triệu đồng mỗi tháng nhằm bù đắp áp lực công việc đặc thù. Thành phố cũng cho phép các cơ sở y tế chi từ 500.000 đồng đến 2 triệu đồng cho mỗi buổi mời chuyên gia về đào tạo hoặc chuyển giao kỹ thuật. Hệ thống chính sách này là giải pháp trọng tâm của Thủ đô nhằm giải quyết tình trạng thiếu hụt nhân sự tại các vị trí đặc thù, đồng thời củng cố mạng lưới y tế gần dân nhất trong chiến lược chăm sóc sức khỏe toàn dân. https://vnexpress.net/ha-noi-ho-tro-den-20-trieu-dong-moi-thang-cho-bac-si-ve-tuyen-duoi-5086385.html

Cảnh báo giả mạo ứng dụng VssID chứa mã độc chiếm đoạt thông tin, tài sản của người dùng

Bảo hiểm xã hội Việt Nam vừa phát hiện một ứng dụng giả mạo có tên “VSSID.apk” chứa mã độc có khả năng chiếm quyền điều khiển điện thoại của người dùng. Đây là một kiểu lừa đảo mới rất nguy hiểm, nhắm vào người dùng ứng dụng VssID – BHXH số. https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/chuyen-doi-so.aspx?ItemID=26544&CateID=176

Bộ Nội vụ ban hành Thông tư hướng dẫn thực hiện hợp đồng lao động điện tử từ ngày 01/7/2026

Bộ Nội vụ vừa ban hành Thông tư số 08/2026/TT-BNV ngày 15/5/2026 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 337/2025/NĐ-CP của Chính phủ về hợp đồng lao động điện tử. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/7/2026. Thông tư quy định cụ thể về việc cấp mã định danh hợp đồng lao động điện tử (ID); cấp, khóa, mở khóa tài khoản truy cập Nền tảng hợp đồng lao động điện tử; kết nối giữa các nhà cung cấp eContract với nền tảng; quản lý, khai thác, lưu trữ và chia sẻ dữ liệu liên quan đến hợp đồng lao động điện tử. Theo quy định, mỗi hợp đồng lao động điện tử sau khi được gửi về Nền tảng hợp đồng lao động điện tử và đáp ứng đầy đủ điều kiện sẽ được cấp một mã định danh (ID) duy nhất, không trùng lặp. ID được cấp một lần và không thay đổi trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng, kể cả khi hợp đồng được sửa đổi, bổ sung, tạm hoãn hoặc chấm dứt. Thông tư cũng quy định cấu trúc ID gồm 1 ký tự chữ và 12 ký tự số. Trong đó, ký tự “A” áp dụng với hợp đồng lao động điện tử giao kết từ ngày 01/7/2026 thông qua eContract đủ điều kiện; ký tự “B” áp dụng với hợp đồng được chuyển đổi từ bản giấy; ký tự “C” áp dụng với hợp đồng điện tử được giao kết trước ngày 01/7/2026. Đáng chú ý, kể từ ngày 01/7/2026, tất cả hợp đồng lao động điện tử sau khi giao kết đều phải được gửi về Nền tảng hợp đồng lao động điện tử để cấp ID theo quy định. Việc cấp ID được thực hiện tự động thông qua hệ thống thông tin của nền tảng trong vòng 24 giờ kể từ thời điểm tiếp nhận hồ sơ hợp lệ. Thông tư cũng đặt ra yêu cầu chặt chẽ về xác thực danh tính, chữ ký số, dấu thời gian và chứng thực thông điệp dữ liệu đối với các hợp đồng lao động điện tử. Trường hợp hợp đồng không đáp ứng các điều kiện theo quy định sẽ không được cấp ID và hệ thống tự động thông báo lý do từ chối. Đối với người lao động và người sử dụng lao động, việc truy cập Nền tảng hợp đồng lao động điện tử được thực hiện thông qua tài khoản định danh điện tử quốc gia (VNeID). Người lao động sử dụng tài khoản định danh cá nhân; người sử dụng lao động là tổ chức sử dụng tài khoản định danh điện tử tổ chức. Thông tư cũng quy định cụ thể quy trình kết nối giữa các nhà cung cấp eContract với Nền tảng hợp đồng lao động điện tử. Theo đó, nhà cung cấp phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện kỹ thuật, an toàn thông tin, bảo mật dữ liệu và hoàn thành thủ tục đăng ký kết nối với Bộ Nội vụ. Để bảo đảm an toàn dữ liệu, Thông tư yêu cầu toàn bộ hoạt động kết nối, khai thác, chia sẻ dữ liệu phải tuân thủ quy định của pháp luật về dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân, an ninh mạng và lưu trữ. Mọi hoạt động truy cập, chia sẻ hoặc xuất dữ liệu đều phải được ghi nhận, giám sát và có khả năng truy vết. Một nội dung đáng chú ý khác là dữ liệu hợp đồng lao động điện tử sẽ được lưu trữ tối thiểu 10 năm kể từ ngày hợp đồng chấm dứt. Trong trường hợp người lao động và người sử dụng lao động giao kết nhiều hợp đồng liên tiếp thì thời hạn lưu trữ được tính từ ngày chấm dứt hợp đồng cuối cùng. Thông tư cũng quy định trách nhiệm báo cáo của nhà cung cấp Contract, người sử dụng lao động, Sở Nội vụ và Ban quản lý khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất thông qua Nền tảng hợp đồng lao động điện tử nhằm phục vụ công tác quản lý lao động, kết nối dữ liệu và thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực lao động. Việc ban hành Thông tư số 08/2026/TT-BNV được kỳ vọng sẽ tạo hành lang pháp lý đồng bộ cho việc triển khai hợp đồng lao động điện tử trên phạm vi toàn quốc, góp phần hiện đại hóa quản lý lao động, nâng cao tính minh bạch, an toàn dữ liệu và thúc đẩy chuyển đổi số trong quan hệ lao động./. https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/chuyen-doi-so.aspx?ItemID=26578&CateID=176 TOÀN VĂN Thông tư 08/2026/TT-BNV hướng dẫn Nghị định 337/2025/NĐ-CP về hợp đồng lao động điện tử

Chính thức: Tăng lương cơ sở lên 2.530.000 đồng/tháng từ 01/7/2026

Chính phủ ban hành Nghị định số 161/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 quy định mức lương cơ sở và chế độ tiền thưởng đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang. Theo đó, mức lương cơ sở sẽ tăng lên 2.530.000 đồng/tháng kể từ ngày 01/7/2026. Nghị định này quy định mức lương cơ sở áp dụng đối với người hưởng lương, phụ cấp và chế độ tiền thưởng áp dụng đối với người hưởng lương làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị – xã hội trực thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức xã hội thực hiện các nhiệm vụ được nhà nước giao (sau đây gọi chung là cơ quan, đơn vị) ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở xã, phường, đặc khu trực thuộc cấp tỉnh (sau đây gọi chung là cấp xã), ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt và lực lượng vũ trang. Đối tượng áp dụng 1. Người hưởng lương, phụ cấp áp dụng mức lương cơ sở bao gồm: a) Cán bộ, công chức từ trung ương đến cấp xã quy định tại Điều 1 Luật Cán bộ, công chức; b) Viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập quy định tại Điều 1 Luật Viên chức; c) Người làm các công việc theo chế độ hợp đồng lao động trong cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập quy định tại Nghị định của Chính phủ thuộc trường hợp được áp dụng hoặc có thỏa thuận trong hợp đồng lao động áp dụng xếp lương theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang; d) Người làm việc trong chỉ tiêu biên chế tại các hội được ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí hoạt động theo quy định tại Nghị định số 126/2024/NĐ-CP ngày 08/10/2024 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội; đ) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng, công chức quốc phòng và lao động hợp đồng thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; e) Sĩ quan, hạ sĩ quan hưởng lương, công nhân công an và lao động hợp đồng thuộc Công an nhân dân; g) Người làm việc trong tổ chức cơ yếu; h) Hạ sĩ quan và binh sĩ thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; hạ sĩ quan và chiến sĩ nghĩa vụ thuộc Công an nhân dân; i) Người hoạt động không chuyên trách ở thôn và tổ dân phố. 2. Người hưởng lương quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e và g nêu trên (không bao gồm đối tượng hưởng phụ cấp, sinh hoạt phí) thuộc đối tượng áp dụng chế độ tiền thưởng. Nghị định quy định mức lương cơ sở dùng làm căn cứ: a) Tính mức lương trong các bảng lương, mức phụ cấp và thực hiện các chế độ khác theo quy định của pháp luật đối với các đối tượng quy định tại Điều 2 Nghị định này; b) Tính mức hoạt động phí, sinh hoạt phí theo quy định của pháp luật; c) Tính các khoản trích và các chế độ được hưởng theo mức lương cơ sở. Từ ngày 01/7/2026, mức lương cơ sở là 2.530.000 đồng/tháng. Đối với các cơ quan, đơn vị đang được áp dụng các cơ chế tài chính, thu nhập đặc thù ở trung ương, theo điểm c khoản 6.2 Nghị quyết số 142/2024/QH15 ngày 29/6/2024 của kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XV thì: Thực hiện bảo lưu phần chênh lệch giữa tiền lương và thu nhập tăng thêm tháng 6/2026 của cán bộ, công chức, viên chức với tiền lương từ ngày 01/7/2026 sau khi sửa đổi hoặc bãi bỏ cơ chế tài chính và thu nhập đặc thù. Trong thời gian chưa sửa đổi hoặc bãi bỏ các cơ chế này thì thực hiện mức tiền lương và thu nhập tăng thêm hằng tháng tính theo mức lương cơ sở 2.530.000 đồng/tháng theo cơ chế đặc thù từ ngày 01/7/2026 bảo đảm không vượt quá mức tiền lương và thu nhập tăng thêm được hưởng tháng 6/2026 (không bao gồm phần tiền lương và thu nhập tăng thêm do điều chỉnh hệ số tiền lương ngạch, bậc khi nâng ngạch, nâng bậc). Đối với các cơ quan, đơn vị đang bảo lưu phần chênh lệch giữa tiền lương và thu nhập tăng thêm tháng 6/2024 với tiền lương từ ngày 01/7/2024 do sửa đổi hoặc bãi bỏ cơ chế tài chính và thu nhập đặc thù thì thực hiện giảm phần chênh lệch bảo lưu tương ứng với tỷ lệ tăng lương cơ sở từ ngày 01/7/2026. Trường hợp tính theo nguyên tắc trên, nếu mức tiền lương và thu nhập tăng thêm từ ngày 01/7/2026 thấp hơn mức tiền lương theo quy định chung thì thực hiện chế độ tiền lương theo quy định chung. Chính phủ điều chỉnh mức lương cơ sở sau khi báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định phù hợp khả năng ngân sách nhà nước, chỉ số giá tiêu dùng và tốc độ tăng trưởng kinh tế của đất nước. Chế độ tiền thưởng Nghị định quy định chế độ tiền thưởng được thực hiện trên cơ sở thành tích công tác đột xuất và kết quả theo dõi, đánh giá, xếp loại chất lượng hằng năm đối với các đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị định này. Chế độ tiền thưởng được dùng để thưởng đột xuất theo thành tích công tác và thưởng định kỳ hằng năm căn cứ theo

5 dấu hiệu cảnh báo thiếu máu não do hẹp động mạch cảnh

Đau đầu, chóng mặt, ù tai… thường được nhiều người cho rằng chỉ là biểu hiện của tuổi tác, căng thẳng, rối loạn tiền đình hoặc mất ngủ. Tuy nhiên, đây cũng có thể là những dấu hiệu cảnh báo tình trạng thiếu máu não do hẹp động mạch cảnh – một bệnh lý nguy hiểm. Những biểu hiện đó cũng có thể là những dấu hiệu cảnh báo tình trạng thiếu máu não do hẹp động mạch cảnh – một bệnh lý nguy hiểm làm gia tăng nguy cơ đột quỵ nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời. Hẹp động mạch cảnh có thể dẫn đến đột quỵ Động mạch cảnh là hệ thống mạch máu lớn nằm ở hai bên cổ, có nhiệm vụ đưa máu giàu oxy từ tim lên nuôi dưỡng não bộ. Khi lòng động mạch cảnh bị hẹp do các mảng xơ vữa tích tụ, lưu lượng máu lên não sẽ giảm, gây ra tình trạng thiếu máu não. Không chỉ gây hẹp lòng mạch, các mảng xơ vữa còn có thể nứt vỡ, tạo thành cục máu đông hoặc các mảnh xơ vữa nhỏ di chuyển theo dòng máu lên não, gây tắc mạch não và dẫn tới đột quỵ thiếu máu não cấp. Theo các nghiên cứu, hẹp động mạch cảnh là một trong những nguyên nhân quan trọng gây đột quỵ não. Đáng lo ngại, bệnh thường tiến triển âm thầm, ít có triệu chứng rõ ràng ở giai đoạn đầu nên nhiều người chỉ phát hiện khi đã xảy ra tai biến mạch máu não. Những dấu hiệu cảnh báo thiếu máu não do hẹp động mạch cảnh Thiếu máu não mạn tính do hẹp động mạch cảnh có thể biểu hiện bằng nhiều triệu chứng dễ nhầm lẫn với các bệnh lý thông thường. Đau đầu kéo dài Đây là triệu chứng khá phổ biến. Người bệnh có thể cảm thấy đau âm ỉ hoặc đau từng cơn ở một vùng đầu, sau đó lan rộng ra toàn bộ đầu. Cảm giác nặng đầu thường rõ hơn khi mới ngủ dậy, khi làm việc căng thẳng, suy nghĩ nhiều hoặc thay đổi tư thế đột ngột. Hoa mắt, chóng mặt, ù tai Người bệnh thường xuất hiện các cơn chóng mặt, cảm giác mất thăng bằng, đi đứng không vững hoặc có cảm giác quay cuồng. Một số trường hợp kèm theo ù tai, nghe tiếng ve kêu trong tai dù môi trường xung quanh yên tĩnh. . Rối loạn giấc ngủ Ở người cao tuổi, những cơn choáng váng bất ngờ có thể khiến người bệnh bị ngã, làm tăng nguy cơ gãy xương hoặc chấn thương sọ não. Thiếu máu não kéo dài có thể ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thần kinh trung ương, khiến người bệnh khó ngủ, ngủ không sâu giấc, hay tỉnh giấc giữa đêm hoặc thường xuyên gặp ác mộng. Tình trạng mất ngủ kéo dài làm người bệnh mệt mỏi, giảm khả năng tập trung, dễ cáu gắt và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Suy giảm trí nhớ Khi lượng máu nuôi não không được cung cấp đầy đủ trong thời gian dài, chức năng nhận thức có thể bị ảnh hưởng. Người bệnh thường có biểu hiện giảm khả năng ghi nhớ, hay quên, khó tập trung hoặc phản ứng chậm hơn trong công việc và sinh hoạt hằng ngày. Tê bì, đau mỏi chân tay Một số trường hợp có cảm giác tê bì đầu ngón tay, ngón chân, cảm giác kiến bò dưới da hoặc đau nhức vùng vai gáy, cánh tay và chân tay. Các triệu chứng này có thể xuất hiện từng đợt và dễ bị nhầm lẫn với bệnh lý cơ xương khớp. Đặc biệt, nếu xuất hiện đột ngột các dấu hiệu như méo miệng, yếu hoặc liệt một bên cơ thể, nói khó, mất thị lực một bên mắt hoặc rối loạn ý thức, người bệnh cần được đưa đến bệnh viện cấp cứu ngay vì đây có thể là dấu hiệu của cơn thiếu máu não thoáng qua hoặc đột quỵ. Ai có nguy cơ cao bị hẹp động mạch cảnh? Hẹp động mạch cảnh thường gặp ở người trên 40 tuổi và nguy cơ tăng dần theo tuổi. Một số yếu tố làm tăng khả năng mắc bệnh gồm: Tăng huyết áp kéo dài. Đái tháo đường. Rối loạn mỡ máu. Thừa cân, béo phì. Hút thuốc lá. Ít vận động. Tiền sử mắc bệnh tim mạch hoặc đột quỵ. Nam giới có nguy cơ mắc bệnh cao hơn nữ giới ở một số nhóm tuổi. Những người có các yếu tố nguy cơ kể trên nên kiểm tra sức khỏe định kỳ để phát hiện sớm các bất thường của hệ mạch máu. Điều trị hẹp động mạch cảnh như thế nào? Tùy thuộc vào mức độ hẹp động mạch và tình trạng sức khỏe của người bệnh, bác sĩ sẽ lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp. Ở giai đoạn chưa hẹp nặng, người bệnh có thể được điều trị bằng thuốc nhằm kiểm soát các yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, đồng thời sử dụng các thuốc chống kết tập tiểu cầu và thuốc hạ mỡ máu theo chỉ định của bác sĩ để giảm nguy cơ hình thành huyết khối và hạn chế tiến triển của mảng xơ vữa. Can thiệp nội mạch hoặc phẫu thuật với các trường hợp hẹp động mạch cảnh mức độ nặng hoặc có nguy cơ cao gây đột quỵ. Tóm lại: Thiếu máu não do hẹp động mạch cảnh là bệnh lý phổ biến nhưng dễ bị bỏ sót do các triệu chứng ban đầu khá mơ hồ. Vì vậy, khi xuất hiện các dấu hiệu như đau đầu kéo dài, chóng mặt, ù tai, suy giảm trí nhớ hoặc tê bì chân tay, đặc biệt ở

Hướng dẫn phòng và chăm sóc sức khỏe cho người bị say nắng, nóng

Trong mùa nắng nóng, nhiệt độ môi trường tăng cao dễ dẫn đến nhiều vấn đề sức khỏe, trong đó thường gặp nhất là say nắng, say nóng hoặc đột quỵ do nhiệt. Việc trang bị kiến thức phòng ngừa và kỹ năng xử trí kịp thời không chỉ giúp bảo vệ sức khỏe bản thân mà còn giảm thiểu nguy cơ tử vong. 1. Các vấn đề sức khoẻ thường gặp trong mùa nắng nóng Vào mùa nắng nóng có thể gặp phải một số vấn đề sức khỏe thường gặp là: Say nắng, say nóng hoặc đột quỵ do nóng. – Nguyên nhân chủ yếu là do phải tiếp xúc quá lâu hoặc làm việc trong môi trường nắng nóng, nhiệt độ cao hoặc cũng có thể do thay đổi nhiệt độ môi trường đột ngột. – Một số đối tượng có nguy cơ cao gồm: + Người già, trẻ nhỏ và phụ nữ có thai. + Những người làm việc, luyện tập với cường độ cao ở ngoài trời nắng lâu hoặc trong môi trường nóng bức: người lao động nông nghiệp, công nhân làm việc ở các lò gạch, lò luyện gang thép, v.v. + Những người mắc các bệnh mạn tính: tăng huyết áp, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, hen phế quản, đái tháo đường, v.v. 2. Biểu hiện Biểu hiện của các vấn đề sức khỏe thường gặp trong mùa nắng nóng phụ thuộc vào thời gian tiếp xúc với nắng nóng, mức độ tăng thân nhiệt của cơ thể. – Mức độ nhẹ: Mệt mỏi, khát nước, hoa mắt, chóng mặt, tăng nhịp tim, tăng nhịp thở, hồi hộp đánh trống ngực, chuột rút. – Mức độ nặng: Đau đầu dữ dội, khó thở tăng dần, cảm giác buồn nôn hoặc nôn, yếu hoặc liệt nửa người, co giật, ngất xỉu hoặc hôn mê, trụy tim mạch (tim đập nhanh, huyết áp tụt, …) và có thể tử vong. 3. Các xử trí Khi gặp vấn đề sức khỏe do nắng nóng, tùy theo mức độ biểu hiện mà cần nhanh chóng áp dụng những biện pháp xử trí phù hợp như sau: Mức độ nhẹ: –  Chuyển ngay nạn nhân vào chỗ mát, thoáng gió. –  Nới lỏng quần áo hoặc cởi bỏ bớt quần áo bên ngoài của nạn nhân. Sau đó, lau cơ thể nạn nhân bằng khăn mát hoặc có thể dội nước mát vào cơ thể nạn nhân rồi lau khô. Đặt khăn thấm nước mát hoặc nước đá tại các vị trí như vùng nách, vùng bẹn, hai bên cổ để giúp nhanh chóng giảm nhiệt độ cơ thể. –  Nếu nạn nhân uống được nước, cho uống từng ngụm nhỏ nước mát. Tốt nhất là uống nước có bổ sung muối và khoáng chất như nước Oresol pha đúng liều lượng theo hướng dẫn sử dụng. –  Nếu nạn nhân bị chuột rút, cần xoa bóp nhẹ nhàng vùng cơ bị chuột rút. –  Lưu ý không để cho nhiều người vây quanh nạn nhân. Sau khoảng 10 – 15 phút các biểu hiện sẽ giảm dần. Mức độ nặng: Nếu nạn nhân có các biểu hiện ở mức độ nặng, cần gọi ngay cấp cứu 115 hoặc nhanh chóng đưa nạn nhân đến cơ sở y tế gần nhất. Lưu ý trong quá trình vận chuyển thường xuyên chườm mát cho nạn nhân. 3. Các biện pháp dự phòng – Khuyến cáo chung + Những người đang có vấn đề sức khoẻ, người mắc bệnh nền nên hạn chế đi ra ngoài trời nắng trong những ngày nắng nóng. Khi đi ra ngoài, chuẩn bị thuốc cá nhân nếu có tiền sử bệnh nền như tim mạch, huyết áp, tiểu đường, hen suyễn, dị ứng…; nước uống… + Những người đang ở trong phòng điều hòa nhiệt độ thấp không nên đi ra ngoài trời nắng đột ngột mà cần phải có một khoảng thời gian để cơ thể thích nghi với môi trường bên ngoài bằng cách tăng nhiệt độ điều hòa trong phòng hoặc ngồi nghỉ trong bóng mát trước khi đi ra ngoài trời. + Chuẩn bị đồ dùng, vệ sinh cá nhân (khẩu trang, nước rửa tay khô, giấy ăn, khăn ướt, nước uống, mũ/nón/ô…). Mặc quần áo sáng màu, thoáng mát, thấm mồ hôi. + Tăng cường ăn các loại rau xanh và hoa quả, nên có món canh trong bữa ăn hàng ngày. Đặc biệt cần uống tối thiếu 1,5 – 2 lít nước/ngày. Nên uống thành nhiều lần trong ngày, không nên uống quá nhiều nước trong một lần. + Rèn luyện thân thể để nâng cao sức đề kháng và sức chống chịu của bản thân với điều kiện thời tiết nắng nóng. –  Đối với những người phải làm việc trong thời tiết nắng nóng + Bố trí thời gian làm việc vào những lúc trời mát mẻ như vào sáng sớm hoặc chiều muộn. Hạn chế thời gian làm việc trong môi trường nhiệt độ cao. Nếu bắt buộc phải làm việc thì không nên làm việc quá lâu trong môi trường nóng bức, tránh các hoạt động thể lực quá sức. Nên định kỳ sau khoảng 45 phút đến 1 giờ làm việc thì nghỉ ngơi ở nơi thoáng mát trong khoảng thời gian từ 15 – 20 phút. + Hạn chế tối đa diện tích tiếp xúc của ánh nắng lên cơ thể đặc biệt là vùng vai gáy. Sử dụng phương tiện bảo hộ cá nhân phù hợp khi làm việc ngoài trời nắng như quần áo bảo hộ lao động, mũ, nón, kính. Mặc quần áo rộng, thoáng mát và thấm mồ hôi. Có thể sử dụng thêm các loại kem chống nắng. + Không sử dụng các loại đồ uống có cồn. Cần uống nước đều đặn trong suốt thời gian làm việc. Đặc biệt cần uống thêm các loại nước có bổ sung thêm muối và khoáng chất như Oresol đối

Biểu hiện điển hình khi mắc gai gót chân, đừng chủ quan với những cơn đau ở bàn chân

Gai gót chân là bệnh khá phổ biến, đặc biệt ở người trung niên, người lao động nặng hoặc những người phải đứng, đi lại nhiều trong thời gian dài. Dù không nguy hiểm đến tính mạng, nhưng gai gót chân có thể gây đau đớn kéo dài, ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng vận động và chất lượng cuộc sống của người bệnh. Nhiều người thường chủ quan khi xuất hiện cảm giác đau ở gót chân, cho rằng chỉ là biểu hiện mỏi cơ thông thường. Tuy nhiên, nếu tình trạng đau kéo dài, tái đi tái lại nhiều lần, đặc biệt đau tăng khi đi lại hoặc đứng lâu, người bệnh cần nghĩ đến khả năng mắc gai gót chân để đi thăm khám và điều trị kịp thời. Nguyên nhân gây gai gót chân Gai gót chân là tình trạng lắng đọng canxi tại xương gót, tạo thành những mấu xương nhỏ nhô ra ở mặt dưới hoặc phía sau xương gót chân. Đây là hậu quả của quá trình viêm kéo dài tại vùng cân gan chân hoặc điểm bám gân gót, khiến cơ thể phản ứng bằng cách tăng lắng đọng canxi để sửa chữa tổn thương. Theo thời gian, phần canxi tích tụ sẽ hình thành nên các “gai xương” gây đau và khó chịu khi vận động. Bệnh thường xuất hiện ở người lớn tuổi nhưng hiện nay đang có xu hướng trẻ hóa do thói quen sinh hoạt, lao động và vận động không hợp lý. Nguyên nhân chính dẫn đến gai gót chân là tình trạng áp lực kéo dài tác động lên gan bàn chân và xương gót. Khi bàn chân phải chịu tải trọng lớn liên tục, các tổ chức phần mềm quanh gót chân bị tổn thương vi thể nhiều lần, từ đó kích thích hình thành gai xương. Tuổi tác và quá trình thoái hóa Người từ độ tuổi trung niên trở lên có nguy cơ mắc gai gót chân cao hơn do hệ xương khớp bắt đầu thoái hóa. Khi tuổi càng cao, lớp sụn và mô mềm quanh khớp giảm tính đàn hồi, khả năng chịu lực kém hơn nên dễ xuất hiện tổn thương và lắng đọng canxi tại gót chân. Đây cũng là lý do nhiều người lớn tuổi thường xuất hiện các cơn đau buốt ở gan bàn chân vào buổi sáng hoặc sau khi đi lại nhiều. Tính chất công việc Những người phải lao động nặng, thường xuyên mang vác vật nặng hoặc đứng lâu trong thời gian dài có nguy cơ cao mắc bệnh. Áp lực liên tục dồn xuống bàn chân khiến vùng gót chân bị tổn thương kéo dài. Ngoài ra, những người thường xuyên đi giày cao gót, giày cứng hoặc giày thiếu lớp đệm hỗ trợ cũng dễ gặp tình trạng này. Các vận động viên, đặc biệt là người chạy bộ, nhảy cao hoặc luyện tập cường độ mạnh, cũng là nhóm đối tượng dễ mắc gai gót chân. Thừa cân, béo phì Trọng lượng cơ thể tăng cao làm áp lực đè nén lên gan bàn chân lớn hơn bình thường. Theo thời gian, vùng gót chân phải chịu sức ép liên tục sẽ dễ bị viêm và hình thành gai xương. Người béo phì không chỉ có nguy cơ mắc gai gót chân mà còn dễ gặp nhiều bệnh lý xương khớp khác như thoái hóa khớp gối, đau cột sống thắt lưng hay viêm cân gan chân. Căng gan bàn chân đột ngột Việc leo cầu thang nhiều, chạy nhảy quá sức hoặc thường xuyên nhón chân có thể khiến cân gan chân bị kéo căng quá mức. Tình trạng này kéo dài gây viêm tại điểm bám của cân gan chân vào xương gót, từ đó dẫn tới hình thành gai xương. Dị tật hoặc khiếm khuyết bàn chân Một số người có cấu trúc bàn chân bất thường bẩm sinh như bàn chân bẹt, bàn chân vòm cao hoặc dáng đi lệch trục cũng dễ làm phân bố áp lực không đều lên bàn chân. Điều này khiến vùng gót chân bị tổn thương nhiều hơn và làm tăng nguy cơ mắc bệnh. Biểu hiện điển hình của gai gót chân Triệu chứng gai gót chân thường tiến triển từ từ, dễ khiến người bệnh nhầm lẫn với đau nhức thông thường. Tuy nhiên, khi bệnh nặng hơn, các cơn đau sẽ xuất hiện thường xuyên và ảnh hưởng rõ rệt đến sinh hoạt hàng ngày. Đau nhức vùng gan chân hoặc gót chân Đây là triệu chứng phổ biến nhất của bệnh. Người bệnh thường cảm thấy đau nhói hoặc đau âm ỉ tại vùng dưới gót chân, đặc biệt khi vừa ngủ dậy hoặc sau thời gian nghỉ ngơi dài. Nhiều người mô tả cảm giác đau như “dẫm phải đinh” khi bước những bước đầu tiên vào buổi sáng. Sau khi vận động nhẹ, cơn đau có thể giảm bớt nhưng sẽ tăng trở lại nếu đi lại nhiều. Đau tăng khi vận động Các hoạt động như đi bộ đường dài, đứng lâu, leo cầu thang hoặc mang vác nặng có thể khiến cơn đau tăng rõ rệt. Người bệnh thường cảm thấy khó chịu khi di chuyển trên nền cứng. Trong nhiều trường hợp, cơn đau kéo dài khiến người bệnh phải thay đổi dáng đi để giảm áp lực lên gót chân, từ đó ảnh hưởng đến khớp gối, hông và cột sống. Đau buốt khi ấn vào gót chân Khi dùng tay ấn vào vùng gót chân, người bệnh có thể cảm thấy đau buốt hoặc nhói mạnh. Cơn đau rõ hơn khi đứng bằng gót chân hoặc đi chân trần trên mặt phẳng cứng. Một số trường hợp còn có biểu hiện sưng nhẹ quanh gót chân, đặc biệt sau khi vận động nhiều. Gai gót chân có nguy hiểm không? Gai gót chân không phải là bệnh lý nguy

Bệnh viện Bắc Thăng Long: Tổng kết khóa đào tạo “An toàn người bệnh” – An toàn người bệnh là ưu tiên hàng đầu

Chiều 24/06, Bệnh viện Bắc Thăng Long tổ chức Tổng kết khóa đào tạo an toàn người bệnh. Khóa đào tạo này nhằm tăng cường kiến thức và kỹ năng thực hành về an toàn người bệnh dành cho đội ngũ điều dưỡng, kỹ thuật viên y và học viên đang học tập tại Bệnh viện, khóa học thu hút khoảng hơn 200 học viên tham gia. Thông qua khóa học, học viên được củng cố kiến thức về an toàn người bệnh, tăng khả năng nhận diện nguy cơ, chủ động phòng ngừa và xử lý sự cố y khoa. Qua đó, góp phần nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, hướng tới sự an toàn và hài lòng của người bệnh. Trong môi trường y tế, rủi ro có thể phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh do nhiều yếu tố như áp lực công việc và đặc thù chuyên môn,… Nhận thức rõ điều này, Bệnh viện luôn đặt an toàn người bệnh là ưu tiên hàng đầu, chú trọng đào tạo và cập nhật kiến thức cho nhân viên y tế, đặc biệt là đội ngũ điều dưỡng – lực lượng trực tiếp chăm sóc bệnh nhân.  

Bệnh viện Bắc Thăng Long: cấp Giấy khám sức khỏe lái xe liên thông

Sở Y tế Hà Nội vừa ban hành văn bản công bố danh sách 65 cơ sở khám, chữa bệnh đã liên thông thành công dữ liệu Giấy khám sức khỏe lái xe lên Cổng Thông tin giám định Bảo hiểm y tế để thực hiện dịch vụ công trực tuyến. Theo đó, tính đến ngày 16/4/2025, có 65 cơ sở khám, chữa bệnh trên địa bàn thành phố Hà Nội đủ điều kiện khám và cấp giấy khám sức khoẻ lái xe liên thông; thực hiện liên thông thành công hơn 502.470 Giấy khám sức khoẻ lái xe lên Cổng thông tin giám định Bảo hiểm y tế để thực hiện dịch vụ công trực tuyến.

Người mắc bệnh dài ngày được hưởng chế độ ốm đau theo ngày làm việc

Luật BHXH 2024, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, mang đến một thay đổi lớn trong cách tính thời gian hưởng chế độ đối với người lao động mắc bệnh cần chữa trị dài ngày, giúp tăng quyền lợi của người tham gia BHXH một cách tối ưu hơn. Theo quy định tại Điều 43 Luật BHXH 2024, thời gian hưởng chế độ ốm đau được thực hiện như sau: Thời gian tối đa hưởng chế độ ốm đau trong một năm (từ ngày 01/01 đến ngày 31/12 hằng năm) được tính theo ngày làm việc, không bao gồm ngày nghỉ lễ, tết và ngày nghỉ hằng tuần, áp dụng cho các đối tượng tham gia BHXH bắt buộc: Làm việc trong điều kiện bình thường thì được hưởng 30 ngày nếu đã đóng BHXH bắt buộc dưới 15 năm; 40 ngày nếu đã đóng từ đủ 15 năm đến dưới 30 năm; 60 ngày nếu đã đóng từ đủ 30 năm trở lên; làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm việc ở vùng đặc biệt khó khăn, thời gian được hưởng 40 ngày nếu đã đóng BHXH bắt buộc dưới 15 năm; 50 ngày nếu đã đóng từ đủ 15 năm đến dưới 30 năm; 70 ngày nếu đã đóng từ đủ 30 năm trở lên. Hết thời hạn hưởng chế độ ốm đau như trên mà vẫn tiếp tục điều trị thì người lao động nghỉ việc do mắc bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày được hưởng tiếp chế độ ốm đau theo quy định. Thời gian nghỉ hưởng chế độ ốm đau do mắc bệnh cần chữa trị dài ngày được tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ hằng tuần. Như vậy, Luật BHXH 2024 quy định chế độ ốm đau dài ngày tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, tết và ngày nghỉ hằng tuần. Đây là điểm mới so với quy định cũ (Luật BHXH 2014) khi thời gian hưởng chế độ đối với bệnh dài ngày được tính theo ngày dương lịch, bao gồm cả ngày nghỉ lễ, Tết và ngày nghỉ hằng tuần. Điều này vô hình trung khiến người lao động bị “hao hụt” số ngày hưởng trợ cấp thực tế nếu đợt điều trị trùng vào các kỳ nghỉ dài. Việc thay đổi phương thức tính theo Luật BHXH 2024 giúp người lao động nhận được đầy đủ trợ cấp cho những ngày thực sự phải nghỉ việc để điều trị./. https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/linh-vuc-bao-hiem-xa-hoi.aspx?ItemID=26705&CateID=168

Mở rộng quyền lợi BHYT khi khám ngoại trú trái tuyến từ ngày 01/7/2026

Từ ngày 01/7/2026, người tham gia BHYT tự đi khám, chữa bệnh ngoại trú tại một số cơ sở y tế cấp cơ bản và cấp chuyên sâu sẽ được quỹ BHYT thanh toán 50% mức hưởng đối với các bệnh, nhóm bệnh trước đây chưa được thanh toán. Đây là điểm mới quan trọng, giúp người có thẻ BHYT giảm một phần chi phí khi tự đến khám ngoại trú không đúng cơ sở đăng ký khám, chữa bệnh ban đầu hoặc không thực hiện đúng quy định về chuyển người bệnh. Tuy nhiên, chính sách chỉ áp dụng tại những nhóm cơ sở y tế được pháp luật quy định, không phải tất cả bệnh viện trên toàn quốc. Ảnh minh họa Các bệnh ngoài doanh mục được thanh toán 50% mức hưởng BHYT Trước ngày 01/7/2026, người tham gia BHYT tự đi khám ngoại trú tại một số cơ sở cấp cơ bản, cấp chuyên sâu chỉ được quỹ BHYT thanh toán 100% mức hưởng đối với các bệnh, nhóm bệnh thuộc danh mục do Bộ Y tế quy định. Đối với các bệnh, nhóm bệnh còn lại, người bệnh chưa được quỹ BHYT thanh toán chi phí khám, chữa bệnh ngoại trú. Từ ngày 01/7/2026, quyền lợi đối với các trường hợp này được mở rộng theo hai mức: – Các bệnh, nhóm bệnh thuộc danh mục ban hành kèm theo Thông tư số 01/2025/TT-BYT tiếp tục được quỹ BHYT thanh toán 100% mức hưởng trong phạm vi được hưởng. – Đối với các bệnh, nhóm bệnh còn lại, quỹ BHYT thanh toán 50% mức hưởng trong phạm vi được hưởng, thay vì không thanh toán như trước đây. Theo bà Nguyễn Lan Hương, Phó Trưởng Ban Thực hiện chính sách BHYT, BHXH Việt Nam: Thay đổi này mở rộng quyền lợi theo lộ trình, giúp người tham gia BHYT được hỗ trợ thêm chi phí trong trường hợp tự đi khám ngoại trú. Tuy nhiên, mức thanh toán 50% mức hưởng không áp dụng cho mọi trường hợp mà phụ thuộc vào cơ sở khám, chữa bệnh, bệnh hoặc nhóm bệnh được chẩn đoán và phạm vi quyền lợi BHYT của từng người. Loại hình cơ sở khám chữa bệnh áp dụng mức thanh toán 50% mức hưởng BHYT tự đi khám ngoại trú Mức thanh toán 50% được áp dụng khi người tham gia BHYT tự đi khám ngoại trú tại một số nhóm cơ sở sau: – Thứ nhất, cơ sở khám, chữa bệnh cấp cơ bản mà trước ngày 01/01/2025 đã được cơ quan có thẩm quyền xác định là tuyến tỉnh, tuyến trung ương hoặc tương đương tuyến tỉnh, tuyến trung ương. – Thứ hai, cơ sở khám, chữa bệnh được xếp cấp cơ bản, có tổng điểm đánh giá năng lực chuyên môn từ 50 đến dưới 70 điểm theo quy định về xếp cấp chuyên môn kỹ thuật, trừ cơ sở trước ngày 01/01/2025 đã được cơ quan có thẩm quyền xác định là tuyến huyện. – Thứ ba, cơ sở khám, chữa bệnh cấp chuyên sâu mà trước ngày 01/01/2025 đã được cơ quan có thẩm quyền xác định là tuyến tỉnh hoặc tương đương tuyến tỉnh. Mức thanh toán 50% được tính như thế nào? Theo bà Nguyễn Lan Hương, “50% mức hưởng” không được hiểu là quỹ BHYT thanh toán 50% toàn bộ số tiền ghi trên hóa đơn khám, chữa bệnh. Tỷ lệ này được tính trên mức hưởng BHYT của từng người và chỉ áp dụng đối với chi phí nằm trong phạm vi được hưởng, theo mức giá và điều kiện thanh toán BHYT. Ví dụ, người có mức hưởng BHYT là 80%, khi thuộc trường hợp được thanh toán 50% mức hưởng thì quỹ BHYT thanh toán tương đương 40% chi phí trong phạm vi được hưởng. Người có mức hưởng 95% sẽ được quỹ thanh toán tương đương 47,5% chi phí trong phạm vi được hưởng. Người thuộc nhóm hưởng 100% được thanh toán tương đương 50%. Phần chi phí ngoài phạm vi hưởng BHYT, dịch vụ theo yêu cầu hoặc các khoản không đủ điều kiện thanh toán vẫn do người bệnh tự chi trả. Điều kiện để được thanh toán 50% mức hưởng BHYT tự đi khám ngoại trú Quy định mới không đồng nghĩa với việc từ ngày 1/7/2026, người có thẻ BHYT có thể đến khám ngoại trú tại bất kỳ bệnh viện nào và đều được quỹ thanh toán 50% mức hưởng. Mức thanh toán được xác định căn cứ vào cấp chuyên môn kỹ thuật mà cơ sở khám, chữa bệnh đã được cơ quan có thẩm quyền xếp (cấp ban đầu, cấp cơ bản hoặc cấp chuyên sâu); bệnh hoặc nhóm bệnh được chẩn đoán; mức hưởng BHYT của người bệnh và phạm vi chi phí được quỹ BHYT thanh toán. Để bảo đảm đầy đủ quyền lợi, người tham gia nên đi khám tại cơ sở đăng ký khám, chữa bệnh ban đầu hoặc thực hiện đúng quy định về chuyển cơ sở khám, chữa bệnh. Trường hợp có nhu cầu tự đi khám ngoại trú, người bệnh nên liên hệ cơ sở y tế hoặc cơ quan bảo hiểm xã hội để được thông tin về nhóm cơ sở, phạm vi và mức thanh toán áp dụng. Việc mở rộng thanh toán từ 0% lên 50% mức hưởng đối với các bệnh, nhóm bệnh còn lại góp phần giảm gánh nặng chi phí, tăng khả năng tiếp cận dịch vụ y tế và bảo đảm tốt hơn quyền lợi của người tham gia BHYT./. https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/linh-vuc-bao-hiem-y-te.aspx?ItemID=26712&CateID=0

Tăng cường truyền thông, tổ chức hoạt động nhân Ngày BHYT Việt Nam 01/7

Bộ Y tế vừa ban hành Công văn số 4362/BYT-BH ngày 15/6/2026 về việc tăng cường truyền thông và tổ chức các hoạt động nhân Ngày BHYT Việt Nam 01/7. Theo Bộ Y tế, ngày 16/6/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 823/QĐ-TTg về việc lấy ngày 01/7 hàng năm là Ngày BHYT Việt Nam. Việc tổ chức các hoạt động nhằm “tiếp tục tuyên truyền, phổ biến về chính sách, pháp luật BHYT; vận động nhân dân tích cực tham gia BHYT để đạt mục tiêu BHYT toàn dân”. Đồng thời, Bộ Y tế nhấn mạnh yêu cầu: Bảo đảm mọi người dân đều được quản lý, chăm sóc sức khỏe, bảo đảm quyền, lợi ích của người tham gia BHYT, cũng như “nâng cao ý thức, trách nhiệm của những người làm công tác BHYT và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong việc nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả quỹ BHYT”. Bộ Y tế đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chỉ đạo các sở, ngành liên quan “tăng cường thực hiện các hoạt động tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về BHYT”. Trong đó, Sở Y tế và BHXH các địa phương được giao phối hợp với các sở, ban, ngành tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố tổ chức thực hiện các hoạt động tuyên truyền, phổ biến về BHYT gắn với việc thực hiện Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân; Chỉ thị số 52-CT/TW ngày 03/10/2025 của Ban Bí thư về việc thực hiện BHYT toàn dân trong giai đoạn mới; Quyết định số 844/QĐ-TTg ngày 13/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Chỉ thị số 52-CT/TW ngày 03/10/2025 của Ban Bí thư về thực hiện BHYT toàn dân trong giai đoạn mới. Các hoạt động truyền thông được yêu cầu triển khai “tập trung trong thời gian từ ngày 22/6/2026 đến ngày 05/7/2026 với các hình thức phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương như: mít tinh, tọa đàm, đăng tin, bài, phóng sự trên các phương tiện thông tin đại chúng…”. Các nội dung truyền thông trọng tâm gồm: “BHYT gắn với an sinh xã hội; BHYT toàn dân; Nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh BHYT; Sử dụng quỹ BHYT hiệu quả; Bảo đảm quyền lợi của người tham gia BHYT; Trách nhiệm tham gia BHYT”. Bên cạnh đó, Bộ Y tế giao Sở Y tế chỉ đạo các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh “thực hiện các hoạt động tuyên truyền, phổ biến về BHYT phù hợp với tình hình thực tế tại cơ sở khám bệnh chữa bệnh”; đồng thời “tiếp tục thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về BHYT; nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh và công tác phòng, chống hành vi lãng phí, lạm dụng, trục lợi quỹ BHYT; sử dụng tiết kiệm, hiệu quả quỹ BHYT”./. https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/linh-vuc-bao-hiem-y-te.aspx?ItemID=26664&CateID=169

Việt Nam ghi nhận ca đứt rời trực tràng chưa từng có trong y văn thế giới

Các bác sĩ Bệnh viện Việt Đức vừa cứu sống nam bệnh nhân 42 tuổi bị đứt rời trực tràng, là ca bệnh chưa từng ghi nhận trong thực tế lâm sàng tại Việt Nam và y văn thế giới. “Đây là ca tổn thương đặc biệt hiếm gặp, chưa từng ghi nhận trong thực tế lâm sàng tại Việt Nam, đồng thời y văn thế giới cũng chưa có phác đồ điều trị cụ thể”, đại diện bệnh viện cho biết hôm 29/6. Hiện tại, sức khỏe người bệnh đã ổn định, ăn uống và đi lại bình thường sau ca mổ cấp cứu. Để phục hồi hậu môn tự nhiên, bệnh nhân phải trải qua khoảng 3 đến 4 cuộc phẫu thuật tiếp theo trong thời gian tới. Trước đó, người đàn ông này nhập viện trong tình trạng nguy kịch do viêm tấy lan tỏa vùng tầng sinh môn, có nguy cơ nhiễm trùng huyết đe dọa tính mạng. Bệnh nhân chuyển đến Bệnh viện Việt Đức sau khi trải qua hai cuộc phẫu thuật mổ trĩ và mổ áp xe hậu môn tại một cơ sở y tế khác khoảng 7 đến 10 ngày, khiến tình trạng bệnh diễn biến nặng dần. Bác sĩ Nguyễn Đắc Thao thuộc Trung tâm Phẫu thuật Tiêu hóa và Bệnh lý sàn chậu, Bệnh viện Việt Đức cho biết êkíp điều trị đánh giá đây là trường hợp vô cùng phức tạp. Do y văn thế giới chưa có tiền lệ điều trị cho tổn thương này, các bác sĩ phải hoàn toàn dựa vào kinh nghiệm và kết quả đánh giá thương tổn thực tế để đưa ra phương án xử trí. Sau khi hội chẩn kỹ lưỡng, các bác sĩ quyết định phẫu thuật cấp cứu để kiểm soát nguồn nhiễm trùng, đồng thời làm hậu môn nhân tạo tạm thời nhằm bảo tồn hậu môn chính cho người bệnh. Qua trường hợp này, các chuyên gia y tế khuyến cáo người dân cần đến khám và điều trị các bệnh lý hậu môn – trực tràng tại những cơ sở y tế uy tín có chuyên khoa sâu. Người bệnh tuyệt đối không tự ý áp dụng các phương pháp truyền miệng hoặc tự can thiệp tại nhà vì dễ dẫn đến biến chứng nặng, thậm chí tử vong hoặc phải mang hậu môn nhân tạo suốt đời. Nếu xuất hiện biến chứng sau lần phẫu thuật đầu tiên, người bệnh cần chuyển ngay đến bệnh viện chuyên sâu. Đồng thời, các cơ sở y tế tuyến dưới cũng nên chủ động hội chẩn với bệnh viện tuyến trên có chuyên khoa phù hợp khi gặp các ca bệnh phức tạp. https://vnexpress.net/viet-nam-ghi-nhan-ca-dut-roi-truc-trang-chua-tung-co-trong-y-van-the-gioi-5090932.html

Kỳ tích y khoa: Ca mổ chưa từng có tại Việt Nam

Bệnh viện Nhi Trung ương vừa ghi dấu một bước ngoặt quan trọng cho y học Việt Nam khi thực hiện thành công ca phẫu thuật nối thông bạch mạch – tĩnh mạch “không dùng chỉ khâu”, kết hợp ứng dụng công nghệ thực tế ảo. Bệnh nhi là bé P.T. (2 tuổi, Tuyên Quang), mắc dị dạng hệ bạch huyết bẩm sinh gây tràn dịch dưỡng chấp ổ bụng – tình trạng hiếm gặp trong y văn. Căn bệnh khiến cơ thể bé phù nề toàn thân, bụng trướng căng, suy dinh dưỡng nặng, giảm miễn dịch và nhiễm trùng tái diễn. Nhiều lần, bé rơi vào tình trạng suy hô hấp do bụng căng chèn ép cơ hoành. Với gia đình, đó là chuỗi ngày dài sống trong lo lắng. Với các bác sĩ, đây là “bài toán” y khoa chưa từng có tiền lệ. Ở người lớn, tràn dưỡng chấp thường xuất hiện sau ung thư hoặc chấn thương, nhưng ở trẻ nhỏ, đây là dị dạng bẩm sinh rất phức tạp, liên quan trực tiếp đến cấu trúc và dòng chảy của hệ bạch huyết. Theo các chuyên gia, ở bé P.T., bất thường giải phẫu khiến dưỡng chấp bị rò rỉ và ứ đọng trong khoang bụng. Hậu quả là cơ thể suy kiệt, thiếu Albumin và các yếu tố miễn dịch, dễ nhiễm trùng, phù nề nặng và khó thở kéo dài. Các biện pháp điều trị nội khoa, truyền Albumin hằng ngày chỉ giúp cải thiện tạm thời triệu chứng, trong khi “nút thắt” thực sự vẫn nằm sâu trong hệ bạch huyết. Quyết định phẫu thuật chưa từng có tiền lệ Kết quả chụp cộng hưởng từ (MRI) và khảo sát hệ bạch mạch cho thấy điểm tắc nghẽn nằm ở đường dẫn bạch huyết trung tâm. Đặc biệt, bé không có “bể dưỡng chấp” – cấu trúc giải phẫu quan trọng, nơi hội tụ các mạch bạch huyết trước khi đổ vào hệ tĩnh mạch. Vị trí tắc nằm ngay chỗ hệ bạch huyết đổ vào tĩnh mạch dưới đòn, phía sau khớp giữa xương ức và xương đòn – khu vực tập trung nhiều mạch máu lớn, cực kỳ khó tiếp cận. PGS.TS.BS Nguyễn Lý Thịnh Trường, Giám đốc Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện Nhi Trung ương, cùng ê-kíp đã dành gần hai tuần để nghiên cứu kỹ lưỡng. Từ dữ liệu MRI và CT, các bác sĩ dựng hình 3D và ứng dụng công nghệ thực tế ảo để “xóa nền”, quan sát rõ hệ thống mạch máu và tổn thương từ nhiều góc độ. “Bản đồ số” này giúp ê-kíp lựa chọn đường tiếp cận ít xâm lấn nhất, giảm nguy cơ tổn thương xương và mạch máu lớn. TS.BS Hoàng Hải Đức (Khoa Chỉnh hình) tham gia giải phóng một phần xương đòn phải, tạo không gian để ê-kíp tim mạch tiếp cận vị trí tắc nghẽn qua đường mở xương ức. Đột phá kỹ thuật: Nối “không chỉ khâu” Khi tiếp cận được vùng tổn thương, thách thức lớn nhất xuất hiện: thành mạch bạch huyết của trẻ rất mỏng, dễ rách và khó nhận biết. Việc khâu nối theo kỹ thuật mạch máu thông thường gần như không khả thi, bởi nguy cơ rò dưỡng chấp tái phát là rất cao. Trước tình huống đó, ê-kíp quyết định áp dụng phương pháp chưa từng thực hiện tại Việt Nam: nối bạch mạch vào tĩnh mạch mà không dùng chỉ khâu. Các bác sĩ cô lập chạc ba giữa tĩnh mạch chủ trên và tĩnh mạch vô danh, rạch từ lòng tĩnh mạch vào khoang dưỡng chấp ứ đọng, tạo một “đường dẫn chung” để dịch tự chảy vào hệ tĩnh mạch theo chênh lệch áp lực sinh lý. Kỹ thuật này, vốn được ứng dụng trong một số phẫu thuật tim bẩm sinh phức tạp, giúp hạn chế tối đa tổn thương thành mạch, giảm nguy cơ tái tắc nghẽn và đảm bảo dòng chảy bền vững lâu dài. Hai tháng sau phẫu thuật, hình ảnh MRI cho thấy các cấu trúc giãn lớn của hệ bạch huyết đã biến mất, chứng tỏ đường thông mới hoạt động hiệu quả. X-quang ngực ghi nhận xương đòn và xương ức liền tốt, lồng ngực cân đối. Trên lâm sàng, bụng bé xẹp rõ, không còn khó thở, cân nặng tăng thêm 2 kg, tình trạng nhiễm trùng không tái diễn. Nồng độ Albumin trong máu tự cải thiện, không còn phải truyền hằng ngày như trước. Bé được xuất viện trong niềm xúc động của gia đình và đội ngũ y bác sĩ. Mẹ bé T. nghẹn ngào chia sẻ: “Em từng nghĩ con sẽ không qua khỏi. Sau phẫu thuật, con đỡ lên từng ngày. Nhờ các bác sĩ, con như được sinh ra lần thứ hai”. Ca đại phẫu không chỉ cứu sống một bệnh nhi, mà còn đánh dấu bước tiến mới của phẫu thuật nhi khoa Việt Nam trong việc ứng dụng công nghệ cao và sáng tạo kỹ thuật. Thành công của ca mổ chưa từng có tại Việt Nam này mở ra hướng điều trị mới cho những trẻ mắc dị dạng bạch huyết và tim mạch bẩm sinh phức tạp, khẳng định năng lực của y bác sĩ Việt Nam trên bản đồ y học khu vực. https://kenh14.vn/ky-tich-y-khoa-ca-mo-chua-tung-co-tai-viet-nam-215260120204852041.chn

27 ngày hồi sinh kỳ diệu: Cô gái 21 tuổi xuất viện sau ca ghép thận đầu tiên tại Bệnh viện E

Ca ghép thận đầu tiên tại Bệnh viện E đã thành công tốt đẹp. Sau 27 ngày hậu phẫu, cô gái 21 tuổi đã phục hồi ngoạn mục và chính thức xuất viện trong niềm vui của gia đình và ê-kíp y bác sĩ. Theo TS.BS Nguyễn Minh Tuấn – Trưởng khoa Thận Tiết niệu và Lọc máu, Bệnh viện E – bệnh nhân bị viêm cầu thận mạn tính nhưng không điều trị đều đặn, dẫn đến suy thận giai đoạn cuối. Đến tháng 1/2026, tình trạng nặng lên, bệnh nhân phải lọc màng bụng để duy trì sự sống. Chia sẻ về căn bệnh của mình, bệnh nhân cho biết: “Đầu tháng 2, em bị phù toàn thân, vào viện tỉnh thì được chuyển cấp cứu và lọc máu ngay. Sau đó em được chuyển về Bệnh viện E và đặt catheter lọc màng bụng ngày 27/2. Gần một tháng sau, khi đang chuẩn bị xuất viện, gia đình bất ngờ nhận được tin có người chết não hiến tạng”. Là ca ghép thận đầu tiên của bệnh viện, cô gái trẻ vừa mừng vừa lo lắng. “Em lo cơ thể không tương thích với quả thận mới, nhưng em hoàn toàn tin tưởng các bác sĩ. Sau ghép, sức khỏe em cải thiện rõ rệt từng ngày”, bệnh nhân chia sẻ. Ca ghép được thực hiện ngày 21/3/2026, kéo dài khoảng 2 giờ. TS.BS Nguyễn Minh Tuấn cho biết: “Ngay sau mổ, bệnh nhân đã có nước tiểu – dấu hiệu rất tốt. Chỉ sau một ngày, bệnh nhân tỉnh táo, ngồi dậy được và ăn uống trở lại. Các chỉ số xét nghiệm cải thiện nhanh chóng. Sau 27 ngày, bệnh nhân phục hồi xuất sắc”. Thành công của ca ghép nhờ sự phối hợp chặt chẽ giữa Bệnh viện E và ê-kíp hỗ trợ từ Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, đặc biệt trong chăm sóc hậu phẫu, dinh dưỡng, phục hồi chức năng và kiểm soát nhiễm khuẩn. Mẹ bệnh nhân không giấu được xúc động: “Gia đình tôi ở Sơn La, hoàn cảnh khó khăn. Con gái làm việc tại Hưng Yên thì mắc bệnh. Trước Tết, cháu phải lọc máu liên tục, sau chuyển sang lọc màng bụng. Khi nhận tin có người hiến tạng, cả nhà như vỡ òa. Trước ghép, sức khỏe cháu chỉ khoảng 60-70%. Sau ghép thận, cháu ăn ngủ tốt, sức khỏe cải thiện lên 80-90%. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn các y bác sĩ đã tận tình cứu chữa và biết ơn vô hạn gia đình người hiến tạng – người đã cho con tôi cơ hội sống lần thứ hai. Gia đình tôi sẽ vận động người thân tham gia hiến tạng để giúp đỡ những người khác”. Việt Nam làm chủ kỹ thuật ghép tạng, mở ra hy vọng sống Thành công này tiếp tục khẳng định bước tiến của ngành ghép tạng Việt Nam. Tại chương trình Sơ kết công tác Tư vấn, vận động hiến tặng mô, bộ phận cơ thể người ngày 17/4, TS.BS Vương Ánh Dương – Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế) – đã chúc mừng Bệnh viện E và bệnh nhân. “Hiến – ghép mô tạng là nghĩa cử cao đẹp và là phương pháp điều trị tối ưu cho bệnh nhân suy tạng giai đoạn cuối. Thành công của Bệnh viện E với sự hỗ trợ từ Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 cho thấy năng lực chuyên môn của các cơ sở y tế trong nước ngày càng được nâng cao”, TS.BS Vương Ánh Dương nhấn mạnh. Từ ca ghép tạng đầu tiên năm 1992 đến nay, Việt Nam đã làm chủ nhiều kỹ thuật ghép tạng phức tạp. Hiện cả nước có 33 cơ sở đủ điều kiện ghép tạng, thực hiện thường quy hơn 1.000 ca mỗi năm – mức cao trong khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên, nguồn tạng hiến từ người chết não vẫn còn hạn chế (chỉ chiếm khoảng 8,2% trong tổng số 10.878 ca ghép tạng đến tháng 12/2023). Thiếu tướng, PGS.TS Vũ Ngọc Lâm – Phó Giám đốc Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 – cho biết hai bệnh viện sẽ tiếp tục đồng hành, chuyển giao kỹ thuật để Bệnh viện E sớm làm chủ các kỹ thuật ghép tạng khác. TS.BS Nguyễn Công Hựu – Giám đốc Bệnh viện E – cho biết, số bệnh nhân suy thận mạn đang tăng nhanh, khiến các đơn vị lọc máu thường xuyên quá tải. Việc phát triển ghép thận sẽ giúp nhiều bệnh nhân thoát khỏi cảnh lọc máu suốt đời, giảm gánh nặng về thể chất, tài chính và tinh thần. Từ ca ghép thành công đầu tiên, Bệnh viện E không chỉ mang lại cuộc sống mới cho một bệnh nhân mà còn mở ra hy vọng cho hàng nghìn người đang chờ đợi được ghép tạng. https://suckhoedoisong.vn/27-ngay-hoi-sinh-ky-dieu-co-gai-21-tuoi-xuat-vien-sau-ca-ghep-than-dau-tien-tai-benh-vien-e-169260401071219117.htm

HÒM THƯ GÓP Ý

    Đặt Lịch Khám

      Đặt Lịch Khám