BỆNH VIỆC BẮC THĂNG LONG
BẮC THĂNG LONG HOSPITAL

(84-24).0889.615.815

Email: bvbtl@hanoi.gov.vn

BỆNH VIỆC BẮC THĂNG LONG
BẮC THĂNG LONG HOSPITAL

Previous slide
Next slide
0 + NĂM
Hình Thành và Phát Triển
0 +
Giáo sư, Bác sĩ
0 +
Bệnh Nhân
0 %
Khách hàng hài lòng

BỆNH VIỆN BẮC THĂNG LONG

Ngày 03/7/2000 Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội đã ban hành quyết định số 67/QĐ-UB về việc đổi tên “Trung tâm y tế dự phòng than Khu vực Nội Địa” thành “Bệnh viện Bắc Thăng Long” Từ đây Bệnh viện đã trực thuộc Sở Y tế Hà Nội và hoạt động theo đúng ngành dọc của mình. Trụ sở đóng tại: Tổ 18, thị trấn Đông Anh, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.

Bệnh viện Bắc Thăng Long ngày nay với quy mô 420 giường bệnh, 28 khoa, phòng chức năng và 2 bộ phận…

BAN GIÁM ĐỐC

BSCKII. Vũ Thành Chung

BSCKII. Nguyễn Văn Thành

Phó giám đốc Bệnh viện

ThS. Phùng Văn Dũng

Phó giám đốc Bệnh viện

BSCKII. Trần Xuân Thăng

Phó giám đốc Bệnh viện

CHUYÊN KHOA NỔI BẬT

PHÒNG BAN BỆNH VIỆN

Nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh y học cổ truyền từ chính sách BHYT

Trong bối cảnh định hướng chuyển mạnh sang chăm sóc sức khỏe toàn diện, việc phát huy vai trò y học cổ truyền gắn với hoàn thiện chính sách BHYT được xác định là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ và bảo đảm quyền lợi người dân. Đây là thông tin tại hội nghị nâng cao chất lượng, hiệu quả khám, chữa bệnh (KCB) BHYT trong lĩnh vực y, dược cổ truyền do Bộ Y tế tổ chức chiều ngày 29/5. Khẳng định vị trí quan trọng của y học cổ truyền Phát biểu tại hội nghị, Thứ trưởng Thường trực Bộ Y tế, TS.BS Vũ Mạnh Hà khẳng định: y, dược cổ truyền là bộ phận không thể tách rời của nền y học Việt Nam, được hình thành, kế thừa và phát triển qua nhiều thế hệ. Quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước là phát huy giá trị y học cổ truyền trên cơ sở kết hợp hài hòa với y học hiện đại. Thời gian qua, nhiều chủ trương, chính sách lớn đã được ban hành nhằm thúc đẩy phát triển lĩnh vực này, như Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị và Chỉ thị số 25/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Các văn bản đều nhấn mạnh yêu cầu tăng cường quản lý nhà nước; nâng cao năng lực hệ thống; phát triển nguồn dược liệu; đẩy mạnh kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại trong đào tạo, phòng bệnh và khám, chữa bệnh; đồng thời đưa các giá trị y học cổ truyền đến gần hơn với cộng đồng. Những năm gần đây, mạng lưới khám, chữa bệnh y học cổ truyền tiếp tục được củng cố và phát triển. Hiện cả nước có 5 bệnh viện y học cổ truyền trực thuộc Bộ và các bộ, ngành; 61 bệnh viện tuyến tỉnh và 10 bệnh viện tư nhân. Năm 2025, tỷ lệ khám, chữa bệnh bằng y học cổ truyền đạt khoảng 3,3% tổng số lượt khám, tương đương khoảng 7 triệu lượt. Đáng chú ý, tại buổi làm việc ngày 20/5/2026 với Đảng ủy Bộ Y tế và các cơ quan liên quan, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy chữa bệnh sang chăm sóc sức khỏe toàn diện; phát huy vai trò y học cổ truyền trong phòng bệnh, phục hồi chức năng, chăm sóc người cao tuổi, đưa y học cổ truyền thực sự đến gần hơn với người dân. Trong đó, việc tích hợp các dịch vụ kỹ thuật và bài thuốc cổ truyền chính thống vào danh mục chi trả của BHYT được xác định là giải pháp quan trọng. Đây là định hướng có ý nghĩa chiến lược, vừa góp phần bảo tồn, phát huy giá trị truyền thống, vừa thúc đẩy nghiên cứu, chuẩn hóa và hiện đại hóa lĩnh vực y, dược cổ truyền. Cùng với đó, chính sách BHYT đối với lĩnh vực y, dược cổ truyền đang từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở quan trọng để nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ của người dân. Hiện danh mục thanh toán BHYT đã bao gồm 229 thuốc đông y, thuốc từ dược liệu và 349 vị thuốc cổ truyền. Bảo đảm sử dụng hiệu quả Quỹ BHYT, nâng cao chất lượng y học cổ truyền Tại hội nghị, Thứ trưởng đề nghị các đơn vị đánh giá toàn diện thực trạng hệ thống KCB BHYT trong lĩnh vực y, dược cổ truyền; làm rõ những kết quả đạt được, khó khăn, vướng mắc, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng chuyên môn, chất lượng phục vụ và hiệu quả sử dụng Quỹ BHYT. Trọng tâm là tăng cường kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại; hoàn thiện cơ chế đăng ký KCB ban đầu tại các cơ sở y học cổ truyền phù hợp với năng lực chuyên môn và nhu cầu thực tiễn; xây dựng danh mục bệnh, nhóm bệnh được tiếp cận cơ sở chuyên sâu bảo đảm quyền lợi người bệnh. Cùng với đó, cần tiếp tục rà soát, cập nhật các quy định về dịch vụ kỹ thuật, thuốc y học cổ truyền và cơ chế thanh toán BHYT theo hướng khoa học, khả thi; bảo đảm cân đối Quỹ BHYT và đáp ứng yêu cầu phát triển. Việc đổi mới chính sách BHYT đối với y học cổ truyền cần gắn với xu hướng chuyển mạnh sang phòng bệnh, chăm sóc sức khỏe từ sớm, từ xa; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và liên thông dữ liệu trong quản lý, điều hành. Theo ThS Trần Thị Trang, Vụ trưởng Vụ BHYT (Bộ Y tế), Chương trình phát triển y, dược cổ truyền đến năm 2030 đặt mục tiêu nâng tỷ lệ chi trả thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền trong tổng chi phí thuốc từ Quỹ BHYT lên tối thiểu 20% vào năm 2025 và 30% vào năm 2030. Tuy nhiên, thực tế cho thấy tỷ trọng chi cho thuốc y học cổ truyền còn khiêm tốn trong số chi quy BHYT. Năm 2024, con số này mới đạt 5,42%, tương đương hơn 3.100 tỷ đồng. Trong khi đó, nguồn dược liệu trong nước rất phong phú, nhiều bài thuốc đã được nghiên cứu, thử nghiệm lâm sàng bài bản. Điều này đặt ra yêu cầu cần có chính sách chi trả hợp lý, tạo động lực phát triển, đồng thời khẳng định đúng vị trí của y học cổ truyền trong hệ thống y tế, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân./. https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/linh-vuc-bao-hiem-y-te.aspx?ItemID=26611&CateID=169

Bộ Y tế ban hành tài liệu chuyên môn hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh do virus Ebola

Trước diễn biến phức tạp của dịch Ebola tại châu Phi và nguy cơ xâm nhập vào Việt Nam, ngày 25-5, Bộ Y tế đã khẩn trương cập nhật, ban hành Quyết định số 1505/QĐ-BYT Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh do virus Ebola năm 2026 với nhiều điểm mới quan trọng. Quyết định này thay thế Quyết định số 2968/QĐ-BYT ngày 8-8-2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh do virus Ebola. Việc ban hành Hướng dẫn năm 2026 có ý nghĩa chiến lược, không chỉ tăng cường năng lực phát hiện sớm, chẩn đoán chính xác và nâng cao tỷ lệ cứu sống người bệnh, mà còn đảm bảo môi trường an toàn tối đa cho đội ngũ nhân viên y tế và cộng đồng. Sự ra đời của phác đồ này khẳng định năng lực hội nhập và sự sẵn sàng của ngành y tế Việt Nam trước các thách thức an ninh y tế toàn cầu. Theo thông tin từ Tổ chức Y tế thế giới (WHO) từ ngày 5-5 đến 20-5-2026, tại Cộng hòa Dân chủ Congo và Uganda đã ghi nhận 600 ca nghi ngờ mắc Ebola, trong đó có 139 ca tử vong; hơn 50 ca được chẩn đoán xác định nhiễm Bundibugyo, một trong 6 chủng của virus Ebola. Ngày 17-5-2026, WHO công bố dịch bệnh Ebola do chủng Bundibugyo tại Congo và Uganda là sự kiện y tế công cộng khẩn cấp gây quan ngại quốc tế. Trước nguy cơ bệnh do virus Ebola xâm nhập vào Việt Nam, thực hiện chỉ đạo của lãnh đạo Bộ Y tế, Cục Quản lý Khám, chữa bệnh đã tổ chức họp Hội đồng chuyên môn ngày 22-5-2026 để cập nhật hướng dẫn quốc gia về chẩn đoán và điều trị bệnh do virus Ebola. Tại hướng dẫn cập nhật này một số nội dung pháp lý được thay đổi. Đồng thời, cập nhật thêm nhiều điểm mới, như tác nhân gây bệnh: Bổ sung 6 chủng, thêm Bombali ebolavirus (phát hiện 2018). Nhấn mạnh loài Zaire là loài duy nhất hiện có vaccine và thuốc đặc hiệu. Về phương pháp xét nghiệm: Bổ sung các kỹ thuật dùng trong phát hiện virus gây bệnh: Test nhanh tìm kháng nguyên/kháng thể để sàng lọc. Xác định rõ RT-PCR là tiêu chuẩn vàng. Bổ sung phương pháp giải trình tự gen. Đối với tiêu chuẩn chẩn đoán ca nghi ngờ, Hướng dẫn cập nhật tiêu chuẩn chẩn đoán ca bệnh nghi ngờ, trong đó các thông tin triệu chứng lâm sàng được lượng hóa chi tiết giúp dễ xác định hơn: Bắt buộc có sốt 38°C, ít nhất 1 triệu chứng đặc hiệu và có yếu tố dịch tễ trong vòng 21 ngày. Về điều trị, Hướng dẫn mới bổ sung các biện pháp điều trị hỗ trợ dinh dưỡng, tâm lý cho người bệnh. Đặc biệt lưu ý điều trị theo dõi cho người cao tuổi, suy giảm miễn dịch và trẻ em. Bổ sung các kháng thể đơn dòng (Inmazeb, Ebanga) áp dụng cho chủng Zaire. Không có chống chỉ định do rủi ro sinh mạng vượt qua rủi ro tác dụng phụ. Với vaccine phòng bệnh, Hướng dẫn đã cập nhật vaccine Ervebo (rVSV-ZEBOV) đã được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) và Tổ chức Y tế thế giới (WHO) phê duyệt năm 2019 để phòng ngừa chủng Zaire. Hướng dẫn cũng bổ sung quy định khắt khe quản lý người tiếp xúc gần là không được cho bú sữa mẹ, hiến máu, mô, tạng, tinh dịch trong vòng 21 ngày kể từ lần tiếp xúc cuối với các trường hợp tiếp xúc gần. Về quản lý sau xuất viện: Bắt buộc bệnh viện phải thông báo cho CDC địa phương để quản lý ca bệnh sau xuất viện. Đối với xử lý tử thi: Bắt buộc hỏa táng theo hướng dẫn tại Thông tư số 21/2021/TT-BYT về quản lý bệnh truyền nhiễm nhóm A theo quy định Luật. Bộ Y tế khẳng định sẽ tiếp tục theo dõi sát sao tình hình dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trên thế giới. Yêu cầu các Sở Y tế, các bệnh viện tuyến Trung ương và cơ sở khám, chữa bệnh trên toàn quốc khẩn trương tổ chức phổ biến, tập huấn và chuẩn bị sẵn sàng các phương án triển khai nghiêm túc Hướng dẫn chuyên môn mới này. Phía đại diện Cục Phòng bệnh cũng đang thực hiện cập nhật hướng dẫn giám sát, phòng chống bệnh do virus Ebola. Bệnh do virus Ebola là một bệnh truyền nhiễm cấp tính, có thể bùng phát thành dịch. Bệnh lây truyền do tiếp xúc trực tiếp với mô, máu và dịch cơ thể (phân, nước tiểu, nước bọt, tinh dịch) của động vật hoặc người nhiễm bệnh. Virus có thể lây truyền do tiếp xúc với các đồ dùng của người bị nhiễm bệnh như quần áo, chăn, kim tiêm đã sử dụng. Bệnh có biểu hiện lâm sàng nghiêm trọng, thường có hội chứng xuất huyết và suy đa tạng, tỉ lệ tử vong trung bình 50% (dao động từ 25% đến 90%). https://www.qdnd.vn/y-te/cac-van-de/bo-y-te-ban-hanh-tai-lieu-chuyen-mon-huong-dan-chan-doan-va-dieu-tri-benh-do-virus-ebola-1041234

Miền Bắc và Trung nắng nóng 40 độ C

Miền Bắc và Trung được dự báo bước vào đỉnh điểm nắng nóng trong hôm nay và ngày mai, nhiều nơi vượt ngưỡng 40 độ C. Nhiều địa phương ở miền Bắc và Trung hôm qua nhiệt độ lên cao nhất từ đầu hè, hàng loạt điểm đo tiến sát ngưỡng 40 độ C. Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn quốc gia cho biết nóng nhất là Vĩnh Yên (Phú Thọ) 40 độ C, Láng (Hà Nội) 39,7 độ. Loạt trạm quan trắc ở miền Trung như Tĩnh Gia (Thanh Hóa); Hương Khê (Hà Tĩnh); Vinh, Tây Hiếu và Con Cuông (Nghệ An); Đồng Hới và Ba Đồn (Quảng Trị) vượt 39 độ C. Cơ quan khí tượng lưu ý mức nhiệt trên là trong lều khí tượng, cách mặt đất 2 m, nhiệt độ cảm nhận thực tế ngoài trời có thể cao hơn 2-4 độ C, thậm chí lớn hơn tại các khu vực có nhiều bêtông, mặt đường nhựa hoặc ít cây xanh. Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn quốc gia dự báo hôm nay nền nhiệt tăng khoảng 0,5-1 độ C so với hôm qua. Tâm nóng là các tỉnh thành từ Thanh Hóa đến Đà Nẵng và phía đông Quảng Ngãi với nhiệt độ cao nhất phổ biến 37-39 độ C, có nơi trên 40 độ C. Độ ẩm thấp nhất phổ biến 40-45%. Tại miền Bắc và phía đông các tỉnh từ Gia Lai đến Lâm Đồng, nắng nóng và nắng nóng gay gắt tiếp diễn với nhiệt độ cao nhất phổ biến 36-38 độ C, có nơi trên 39 độ C; độ ẩm thấp nhất 45-50%. Trang Accuweather của Mỹ dự báo Hà Nội ngày mai 30-42 độ, đến thứ ba tăng lên 30-43 độ, sau đó giảm dần nhưng phải đến cuối tuần mới xuống mức 25-32 độ C. Điểm cao trên 1.500 m như Sa Pa (Lào Cai) hai ngày đầu tuần nhiệt độ lên mức 19-27 độ C. Do ảnh hưởng của nắng nóng gay gắt kéo dài kết hợp độ ẩm thấp, nguy cơ cháy nổ tại khu dân cư tăng cao do nhu cầu sử dụng điện lớn. Thời tiết khô nóng cũng làm gia tăng nguy cơ cháy rừng tại nhiều địa phương. Ngành khí tượng cảnh báo người dân đề phòng tình trạng mất nước, kiệt sức và các vấn đề sức khỏe liên quan đến sốc nhiệt khi hoạt động lâu ngoài trời. https://vnexpress.net/mien-bac-va-trung-nang-nong-40-do-c-5077644.html

Chia sẻ thông tin sai sự thật trên mạng xã hội sẽ bị phạt 30-50 triệu đồng

Từ ngày 1/7, người dùng mạng xã hội đăng thông tin sai sự thật, gây hoang mang có thể bị phạt đến 50 triệu đồng, theo Nghị định 174. Nghị định 174, được Chính phủ ban hành ngày 21/5, quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, giao dịch điện tử, công nghệ thông tin và an ninh mạng. Trong đó, nhiều nội dung liên quan trực tiếp đến người dùng mạng xã hội. Cụ thể, cá nhân, tổ chức cung cấp, chia sẻ thông tin sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân, thiệt hại cho hoạt động kinh tế – xã hội, làm khó khăn hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ bị xử phạt 30-50 triệu đồng, nếu chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Cùng chung khung xử phạt này là hành vi như cung cấp, chia sẻ thông tin xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới hoặc chủng tộc; tiết lộ bí mật nhà nước, bí mật đời tư cá nhân. Ngoài tiền phạt, cá nhân, tổ chức phải khóa tài khoản, trang, nhóm cộng đồng hoặc kênh nội dung. Nghị định 174 cũng quy định mức phạt từ 20 triệu đến 30 triệu đồng đối với một số hành vi lợi dụng mạng xã hội, như cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, xuyên tạc, vu khống hoặc xúc phạm uy tín cơ quan, tổ chức, danh dự và nhân phẩm cá nhân. Các nội dung cổ súy tệ nạn xã hội, mại dâm, mua bán người, thông tin dâm ô, đồi trụy hoặc nội dung phá hoại thuần phong mỹ tục, ảnh hưởng đạo đức xã hội và sức khỏe cộng đồng; cung cấp, chia sẻ thông tin miêu tả tỉ mỉ hành động chém giết, tai nạn hay hình ảnh kinh dị, rùng rợn cũng thuộc diện bị xử phạt. Nghị định đồng thời siết hành vi quảng cáo, tuyên truyền hàng hóa, dịch vụ bị cấm; chia sẻ hình ảnh bản đồ Việt Nam nhưng không thể hiện hoặc thể hiện không đúng chủ quyền quốc gia; đăng tải đường dẫn đến các nội dung bị cấm trên mạng. Việc cung cấp, chia sẻ tác phẩm báo chí, văn học, nghệ thuật, xuất bản phẩm không được sự đồng ý của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ hoặc chưa được phép lưu hành cũng sẽ bị xử phạt 20-30 triệu đồng. Bên cạnh đó, chủ tài khoản, chủ kênh nội dung, quản trị viên các nhóm cộng đồng trên mạng cũng sẽ bị phạt nếu không thực hiện ngăn chặn hoặc gỡ bỏ thông tin vi phạm khi có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền. So với quy định hiện hành, Nghị định mới cho thấy rõ sự thay đổi trong phân loại trách nhiệm. Trước đây, các trường hợp tương tự thường bị xử lý theo Nghị định 15/2020, với khung phạt 10-20 triệu đồng. Với cá nhân, mức phạt bằng một nửa, tương ứng 5-10 triệu đồng, nên mức trung bình của khung là 7,5 triệu đồng đang được áp dụng trong thực tế. Nghị định 174/2026 gồm 8 chương, 117 điều, có hiệu lực từ ngày 1/7. https://vnexpress.net/chia-se-thong-tin-sai-su-that-tren-mang-xa-hoi-se-bi-phat-30-50-trieu-dong-5076766.html

Cảnh báo giả mạo ứng dụng VssID chứa mã độc chiếm đoạt thông tin, tài sản của người dùng

Bảo hiểm xã hội Việt Nam vừa phát hiện một ứng dụng giả mạo có tên “VSSID.apk” chứa mã độc có khả năng chiếm quyền điều khiển điện thoại của người dùng. Đây là một kiểu lừa đảo mới rất nguy hiểm, nhắm vào người dùng ứng dụng VssID – BHXH số. https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/chuyen-doi-so.aspx?ItemID=26544&CateID=176

Bộ Nội vụ ban hành Thông tư hướng dẫn thực hiện hợp đồng lao động điện tử từ ngày 01/7/2026

Bộ Nội vụ vừa ban hành Thông tư số 08/2026/TT-BNV ngày 15/5/2026 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 337/2025/NĐ-CP của Chính phủ về hợp đồng lao động điện tử. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/7/2026. Thông tư quy định cụ thể về việc cấp mã định danh hợp đồng lao động điện tử (ID); cấp, khóa, mở khóa tài khoản truy cập Nền tảng hợp đồng lao động điện tử; kết nối giữa các nhà cung cấp eContract với nền tảng; quản lý, khai thác, lưu trữ và chia sẻ dữ liệu liên quan đến hợp đồng lao động điện tử. Theo quy định, mỗi hợp đồng lao động điện tử sau khi được gửi về Nền tảng hợp đồng lao động điện tử và đáp ứng đầy đủ điều kiện sẽ được cấp một mã định danh (ID) duy nhất, không trùng lặp. ID được cấp một lần và không thay đổi trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng, kể cả khi hợp đồng được sửa đổi, bổ sung, tạm hoãn hoặc chấm dứt. Thông tư cũng quy định cấu trúc ID gồm 1 ký tự chữ và 12 ký tự số. Trong đó, ký tự “A” áp dụng với hợp đồng lao động điện tử giao kết từ ngày 01/7/2026 thông qua eContract đủ điều kiện; ký tự “B” áp dụng với hợp đồng được chuyển đổi từ bản giấy; ký tự “C” áp dụng với hợp đồng điện tử được giao kết trước ngày 01/7/2026. Đáng chú ý, kể từ ngày 01/7/2026, tất cả hợp đồng lao động điện tử sau khi giao kết đều phải được gửi về Nền tảng hợp đồng lao động điện tử để cấp ID theo quy định. Việc cấp ID được thực hiện tự động thông qua hệ thống thông tin của nền tảng trong vòng 24 giờ kể từ thời điểm tiếp nhận hồ sơ hợp lệ. Thông tư cũng đặt ra yêu cầu chặt chẽ về xác thực danh tính, chữ ký số, dấu thời gian và chứng thực thông điệp dữ liệu đối với các hợp đồng lao động điện tử. Trường hợp hợp đồng không đáp ứng các điều kiện theo quy định sẽ không được cấp ID và hệ thống tự động thông báo lý do từ chối. Đối với người lao động và người sử dụng lao động, việc truy cập Nền tảng hợp đồng lao động điện tử được thực hiện thông qua tài khoản định danh điện tử quốc gia (VNeID). Người lao động sử dụng tài khoản định danh cá nhân; người sử dụng lao động là tổ chức sử dụng tài khoản định danh điện tử tổ chức. Thông tư cũng quy định cụ thể quy trình kết nối giữa các nhà cung cấp eContract với Nền tảng hợp đồng lao động điện tử. Theo đó, nhà cung cấp phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện kỹ thuật, an toàn thông tin, bảo mật dữ liệu và hoàn thành thủ tục đăng ký kết nối với Bộ Nội vụ. Để bảo đảm an toàn dữ liệu, Thông tư yêu cầu toàn bộ hoạt động kết nối, khai thác, chia sẻ dữ liệu phải tuân thủ quy định của pháp luật về dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân, an ninh mạng và lưu trữ. Mọi hoạt động truy cập, chia sẻ hoặc xuất dữ liệu đều phải được ghi nhận, giám sát và có khả năng truy vết. Một nội dung đáng chú ý khác là dữ liệu hợp đồng lao động điện tử sẽ được lưu trữ tối thiểu 10 năm kể từ ngày hợp đồng chấm dứt. Trong trường hợp người lao động và người sử dụng lao động giao kết nhiều hợp đồng liên tiếp thì thời hạn lưu trữ được tính từ ngày chấm dứt hợp đồng cuối cùng. Thông tư cũng quy định trách nhiệm báo cáo của nhà cung cấp Contract, người sử dụng lao động, Sở Nội vụ và Ban quản lý khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất thông qua Nền tảng hợp đồng lao động điện tử nhằm phục vụ công tác quản lý lao động, kết nối dữ liệu và thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực lao động. Việc ban hành Thông tư số 08/2026/TT-BNV được kỳ vọng sẽ tạo hành lang pháp lý đồng bộ cho việc triển khai hợp đồng lao động điện tử trên phạm vi toàn quốc, góp phần hiện đại hóa quản lý lao động, nâng cao tính minh bạch, an toàn dữ liệu và thúc đẩy chuyển đổi số trong quan hệ lao động./. https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/chuyen-doi-so.aspx?ItemID=26578&CateID=176 TOÀN VĂN Thông tư 08/2026/TT-BNV hướng dẫn Nghị định 337/2025/NĐ-CP về hợp đồng lao động điện tử

Chính thức: Tăng lương cơ sở lên 2.530.000 đồng/tháng từ 01/7/2026

Chính phủ ban hành Nghị định số 161/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 quy định mức lương cơ sở và chế độ tiền thưởng đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang. Theo đó, mức lương cơ sở sẽ tăng lên 2.530.000 đồng/tháng kể từ ngày 01/7/2026. Nghị định này quy định mức lương cơ sở áp dụng đối với người hưởng lương, phụ cấp và chế độ tiền thưởng áp dụng đối với người hưởng lương làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị – xã hội trực thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức xã hội thực hiện các nhiệm vụ được nhà nước giao (sau đây gọi chung là cơ quan, đơn vị) ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở xã, phường, đặc khu trực thuộc cấp tỉnh (sau đây gọi chung là cấp xã), ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt và lực lượng vũ trang. Đối tượng áp dụng 1. Người hưởng lương, phụ cấp áp dụng mức lương cơ sở bao gồm: a) Cán bộ, công chức từ trung ương đến cấp xã quy định tại Điều 1 Luật Cán bộ, công chức; b) Viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập quy định tại Điều 1 Luật Viên chức; c) Người làm các công việc theo chế độ hợp đồng lao động trong cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập quy định tại Nghị định của Chính phủ thuộc trường hợp được áp dụng hoặc có thỏa thuận trong hợp đồng lao động áp dụng xếp lương theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang; d) Người làm việc trong chỉ tiêu biên chế tại các hội được ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí hoạt động theo quy định tại Nghị định số 126/2024/NĐ-CP ngày 08/10/2024 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội; đ) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng, công chức quốc phòng và lao động hợp đồng thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; e) Sĩ quan, hạ sĩ quan hưởng lương, công nhân công an và lao động hợp đồng thuộc Công an nhân dân; g) Người làm việc trong tổ chức cơ yếu; h) Hạ sĩ quan và binh sĩ thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; hạ sĩ quan và chiến sĩ nghĩa vụ thuộc Công an nhân dân; i) Người hoạt động không chuyên trách ở thôn và tổ dân phố. 2. Người hưởng lương quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e và g nêu trên (không bao gồm đối tượng hưởng phụ cấp, sinh hoạt phí) thuộc đối tượng áp dụng chế độ tiền thưởng. Nghị định quy định mức lương cơ sở dùng làm căn cứ: a) Tính mức lương trong các bảng lương, mức phụ cấp và thực hiện các chế độ khác theo quy định của pháp luật đối với các đối tượng quy định tại Điều 2 Nghị định này; b) Tính mức hoạt động phí, sinh hoạt phí theo quy định của pháp luật; c) Tính các khoản trích và các chế độ được hưởng theo mức lương cơ sở. Từ ngày 01/7/2026, mức lương cơ sở là 2.530.000 đồng/tháng. Đối với các cơ quan, đơn vị đang được áp dụng các cơ chế tài chính, thu nhập đặc thù ở trung ương, theo điểm c khoản 6.2 Nghị quyết số 142/2024/QH15 ngày 29/6/2024 của kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XV thì: Thực hiện bảo lưu phần chênh lệch giữa tiền lương và thu nhập tăng thêm tháng 6/2026 của cán bộ, công chức, viên chức với tiền lương từ ngày 01/7/2026 sau khi sửa đổi hoặc bãi bỏ cơ chế tài chính và thu nhập đặc thù. Trong thời gian chưa sửa đổi hoặc bãi bỏ các cơ chế này thì thực hiện mức tiền lương và thu nhập tăng thêm hằng tháng tính theo mức lương cơ sở 2.530.000 đồng/tháng theo cơ chế đặc thù từ ngày 01/7/2026 bảo đảm không vượt quá mức tiền lương và thu nhập tăng thêm được hưởng tháng 6/2026 (không bao gồm phần tiền lương và thu nhập tăng thêm do điều chỉnh hệ số tiền lương ngạch, bậc khi nâng ngạch, nâng bậc). Đối với các cơ quan, đơn vị đang bảo lưu phần chênh lệch giữa tiền lương và thu nhập tăng thêm tháng 6/2024 với tiền lương từ ngày 01/7/2024 do sửa đổi hoặc bãi bỏ cơ chế tài chính và thu nhập đặc thù thì thực hiện giảm phần chênh lệch bảo lưu tương ứng với tỷ lệ tăng lương cơ sở từ ngày 01/7/2026. Trường hợp tính theo nguyên tắc trên, nếu mức tiền lương và thu nhập tăng thêm từ ngày 01/7/2026 thấp hơn mức tiền lương theo quy định chung thì thực hiện chế độ tiền lương theo quy định chung. Chính phủ điều chỉnh mức lương cơ sở sau khi báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định phù hợp khả năng ngân sách nhà nước, chỉ số giá tiêu dùng và tốc độ tăng trưởng kinh tế của đất nước. Chế độ tiền thưởng Nghị định quy định chế độ tiền thưởng được thực hiện trên cơ sở thành tích công tác đột xuất và kết quả theo dõi, đánh giá, xếp loại chất lượng hằng năm đối với các đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị định này. Chế độ tiền thưởng được dùng để thưởng đột xuất theo thành tích công tác và thưởng định kỳ hằng năm căn cứ theo

Hướng dẫn phòng và chăm sóc sức khỏe cho người bị say nắng, nóng

Trong mùa nắng nóng, nhiệt độ môi trường tăng cao dễ dẫn đến nhiều vấn đề sức khỏe, trong đó thường gặp nhất là say nắng, say nóng hoặc đột quỵ do nhiệt. Việc trang bị kiến thức phòng ngừa và kỹ năng xử trí kịp thời không chỉ giúp bảo vệ sức khỏe bản thân mà còn giảm thiểu nguy cơ tử vong. 1. Các vấn đề sức khoẻ thường gặp trong mùa nắng nóng Vào mùa nắng nóng có thể gặp phải một số vấn đề sức khỏe thường gặp là: Say nắng, say nóng hoặc đột quỵ do nóng. – Nguyên nhân chủ yếu là do phải tiếp xúc quá lâu hoặc làm việc trong môi trường nắng nóng, nhiệt độ cao hoặc cũng có thể do thay đổi nhiệt độ môi trường đột ngột. – Một số đối tượng có nguy cơ cao gồm: + Người già, trẻ nhỏ và phụ nữ có thai. + Những người làm việc, luyện tập với cường độ cao ở ngoài trời nắng lâu hoặc trong môi trường nóng bức: người lao động nông nghiệp, công nhân làm việc ở các lò gạch, lò luyện gang thép, v.v. + Những người mắc các bệnh mạn tính: tăng huyết áp, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, hen phế quản, đái tháo đường, v.v. 2. Biểu hiện Biểu hiện của các vấn đề sức khỏe thường gặp trong mùa nắng nóng phụ thuộc vào thời gian tiếp xúc với nắng nóng, mức độ tăng thân nhiệt của cơ thể. – Mức độ nhẹ: Mệt mỏi, khát nước, hoa mắt, chóng mặt, tăng nhịp tim, tăng nhịp thở, hồi hộp đánh trống ngực, chuột rút. – Mức độ nặng: Đau đầu dữ dội, khó thở tăng dần, cảm giác buồn nôn hoặc nôn, yếu hoặc liệt nửa người, co giật, ngất xỉu hoặc hôn mê, trụy tim mạch (tim đập nhanh, huyết áp tụt, …) và có thể tử vong. 3. Các xử trí Khi gặp vấn đề sức khỏe do nắng nóng, tùy theo mức độ biểu hiện mà cần nhanh chóng áp dụng những biện pháp xử trí phù hợp như sau: Mức độ nhẹ: –  Chuyển ngay nạn nhân vào chỗ mát, thoáng gió. –  Nới lỏng quần áo hoặc cởi bỏ bớt quần áo bên ngoài của nạn nhân. Sau đó, lau cơ thể nạn nhân bằng khăn mát hoặc có thể dội nước mát vào cơ thể nạn nhân rồi lau khô. Đặt khăn thấm nước mát hoặc nước đá tại các vị trí như vùng nách, vùng bẹn, hai bên cổ để giúp nhanh chóng giảm nhiệt độ cơ thể. –  Nếu nạn nhân uống được nước, cho uống từng ngụm nhỏ nước mát. Tốt nhất là uống nước có bổ sung muối và khoáng chất như nước Oresol pha đúng liều lượng theo hướng dẫn sử dụng. –  Nếu nạn nhân bị chuột rút, cần xoa bóp nhẹ nhàng vùng cơ bị chuột rút. –  Lưu ý không để cho nhiều người vây quanh nạn nhân. Sau khoảng 10 – 15 phút các biểu hiện sẽ giảm dần. Mức độ nặng: Nếu nạn nhân có các biểu hiện ở mức độ nặng, cần gọi ngay cấp cứu 115 hoặc nhanh chóng đưa nạn nhân đến cơ sở y tế gần nhất. Lưu ý trong quá trình vận chuyển thường xuyên chườm mát cho nạn nhân. 3. Các biện pháp dự phòng – Khuyến cáo chung + Những người đang có vấn đề sức khoẻ, người mắc bệnh nền nên hạn chế đi ra ngoài trời nắng trong những ngày nắng nóng. Khi đi ra ngoài, chuẩn bị thuốc cá nhân nếu có tiền sử bệnh nền như tim mạch, huyết áp, tiểu đường, hen suyễn, dị ứng…; nước uống… + Những người đang ở trong phòng điều hòa nhiệt độ thấp không nên đi ra ngoài trời nắng đột ngột mà cần phải có một khoảng thời gian để cơ thể thích nghi với môi trường bên ngoài bằng cách tăng nhiệt độ điều hòa trong phòng hoặc ngồi nghỉ trong bóng mát trước khi đi ra ngoài trời. + Chuẩn bị đồ dùng, vệ sinh cá nhân (khẩu trang, nước rửa tay khô, giấy ăn, khăn ướt, nước uống, mũ/nón/ô…). Mặc quần áo sáng màu, thoáng mát, thấm mồ hôi. + Tăng cường ăn các loại rau xanh và hoa quả, nên có món canh trong bữa ăn hàng ngày. Đặc biệt cần uống tối thiếu 1,5 – 2 lít nước/ngày. Nên uống thành nhiều lần trong ngày, không nên uống quá nhiều nước trong một lần. + Rèn luyện thân thể để nâng cao sức đề kháng và sức chống chịu của bản thân với điều kiện thời tiết nắng nóng. –  Đối với những người phải làm việc trong thời tiết nắng nóng + Bố trí thời gian làm việc vào những lúc trời mát mẻ như vào sáng sớm hoặc chiều muộn. Hạn chế thời gian làm việc trong môi trường nhiệt độ cao. Nếu bắt buộc phải làm việc thì không nên làm việc quá lâu trong môi trường nóng bức, tránh các hoạt động thể lực quá sức. Nên định kỳ sau khoảng 45 phút đến 1 giờ làm việc thì nghỉ ngơi ở nơi thoáng mát trong khoảng thời gian từ 15 – 20 phút. + Hạn chế tối đa diện tích tiếp xúc của ánh nắng lên cơ thể đặc biệt là vùng vai gáy. Sử dụng phương tiện bảo hộ cá nhân phù hợp khi làm việc ngoài trời nắng như quần áo bảo hộ lao động, mũ, nón, kính. Mặc quần áo rộng, thoáng mát và thấm mồ hôi. Có thể sử dụng thêm các loại kem chống nắng. + Không sử dụng các loại đồ uống có cồn. Cần uống nước đều đặn trong suốt thời gian làm việc. Đặc biệt cần uống thêm các loại nước có bổ sung thêm muối và khoáng chất như Oresol đối

Biểu hiện điển hình khi mắc gai gót chân, đừng chủ quan với những cơn đau ở bàn chân

Gai gót chân là bệnh khá phổ biến, đặc biệt ở người trung niên, người lao động nặng hoặc những người phải đứng, đi lại nhiều trong thời gian dài. Dù không nguy hiểm đến tính mạng, nhưng gai gót chân có thể gây đau đớn kéo dài, ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng vận động và chất lượng cuộc sống của người bệnh. Nhiều người thường chủ quan khi xuất hiện cảm giác đau ở gót chân, cho rằng chỉ là biểu hiện mỏi cơ thông thường. Tuy nhiên, nếu tình trạng đau kéo dài, tái đi tái lại nhiều lần, đặc biệt đau tăng khi đi lại hoặc đứng lâu, người bệnh cần nghĩ đến khả năng mắc gai gót chân để đi thăm khám và điều trị kịp thời. Nguyên nhân gây gai gót chân Gai gót chân là tình trạng lắng đọng canxi tại xương gót, tạo thành những mấu xương nhỏ nhô ra ở mặt dưới hoặc phía sau xương gót chân. Đây là hậu quả của quá trình viêm kéo dài tại vùng cân gan chân hoặc điểm bám gân gót, khiến cơ thể phản ứng bằng cách tăng lắng đọng canxi để sửa chữa tổn thương. Theo thời gian, phần canxi tích tụ sẽ hình thành nên các “gai xương” gây đau và khó chịu khi vận động. Bệnh thường xuất hiện ở người lớn tuổi nhưng hiện nay đang có xu hướng trẻ hóa do thói quen sinh hoạt, lao động và vận động không hợp lý. Nguyên nhân chính dẫn đến gai gót chân là tình trạng áp lực kéo dài tác động lên gan bàn chân và xương gót. Khi bàn chân phải chịu tải trọng lớn liên tục, các tổ chức phần mềm quanh gót chân bị tổn thương vi thể nhiều lần, từ đó kích thích hình thành gai xương. Tuổi tác và quá trình thoái hóa Người từ độ tuổi trung niên trở lên có nguy cơ mắc gai gót chân cao hơn do hệ xương khớp bắt đầu thoái hóa. Khi tuổi càng cao, lớp sụn và mô mềm quanh khớp giảm tính đàn hồi, khả năng chịu lực kém hơn nên dễ xuất hiện tổn thương và lắng đọng canxi tại gót chân. Đây cũng là lý do nhiều người lớn tuổi thường xuất hiện các cơn đau buốt ở gan bàn chân vào buổi sáng hoặc sau khi đi lại nhiều. Tính chất công việc Những người phải lao động nặng, thường xuyên mang vác vật nặng hoặc đứng lâu trong thời gian dài có nguy cơ cao mắc bệnh. Áp lực liên tục dồn xuống bàn chân khiến vùng gót chân bị tổn thương kéo dài. Ngoài ra, những người thường xuyên đi giày cao gót, giày cứng hoặc giày thiếu lớp đệm hỗ trợ cũng dễ gặp tình trạng này. Các vận động viên, đặc biệt là người chạy bộ, nhảy cao hoặc luyện tập cường độ mạnh, cũng là nhóm đối tượng dễ mắc gai gót chân. Thừa cân, béo phì Trọng lượng cơ thể tăng cao làm áp lực đè nén lên gan bàn chân lớn hơn bình thường. Theo thời gian, vùng gót chân phải chịu sức ép liên tục sẽ dễ bị viêm và hình thành gai xương. Người béo phì không chỉ có nguy cơ mắc gai gót chân mà còn dễ gặp nhiều bệnh lý xương khớp khác như thoái hóa khớp gối, đau cột sống thắt lưng hay viêm cân gan chân. Căng gan bàn chân đột ngột Việc leo cầu thang nhiều, chạy nhảy quá sức hoặc thường xuyên nhón chân có thể khiến cân gan chân bị kéo căng quá mức. Tình trạng này kéo dài gây viêm tại điểm bám của cân gan chân vào xương gót, từ đó dẫn tới hình thành gai xương. Dị tật hoặc khiếm khuyết bàn chân Một số người có cấu trúc bàn chân bất thường bẩm sinh như bàn chân bẹt, bàn chân vòm cao hoặc dáng đi lệch trục cũng dễ làm phân bố áp lực không đều lên bàn chân. Điều này khiến vùng gót chân bị tổn thương nhiều hơn và làm tăng nguy cơ mắc bệnh. Biểu hiện điển hình của gai gót chân Triệu chứng gai gót chân thường tiến triển từ từ, dễ khiến người bệnh nhầm lẫn với đau nhức thông thường. Tuy nhiên, khi bệnh nặng hơn, các cơn đau sẽ xuất hiện thường xuyên và ảnh hưởng rõ rệt đến sinh hoạt hàng ngày. Đau nhức vùng gan chân hoặc gót chân Đây là triệu chứng phổ biến nhất của bệnh. Người bệnh thường cảm thấy đau nhói hoặc đau âm ỉ tại vùng dưới gót chân, đặc biệt khi vừa ngủ dậy hoặc sau thời gian nghỉ ngơi dài. Nhiều người mô tả cảm giác đau như “dẫm phải đinh” khi bước những bước đầu tiên vào buổi sáng. Sau khi vận động nhẹ, cơn đau có thể giảm bớt nhưng sẽ tăng trở lại nếu đi lại nhiều. Đau tăng khi vận động Các hoạt động như đi bộ đường dài, đứng lâu, leo cầu thang hoặc mang vác nặng có thể khiến cơn đau tăng rõ rệt. Người bệnh thường cảm thấy khó chịu khi di chuyển trên nền cứng. Trong nhiều trường hợp, cơn đau kéo dài khiến người bệnh phải thay đổi dáng đi để giảm áp lực lên gót chân, từ đó ảnh hưởng đến khớp gối, hông và cột sống. Đau buốt khi ấn vào gót chân Khi dùng tay ấn vào vùng gót chân, người bệnh có thể cảm thấy đau buốt hoặc nhói mạnh. Cơn đau rõ hơn khi đứng bằng gót chân hoặc đi chân trần trên mặt phẳng cứng. Một số trường hợp còn có biểu hiện sưng nhẹ quanh gót chân, đặc biệt sau khi vận động nhiều. Gai gót chân có nguy hiểm không? Gai gót chân không phải là bệnh lý nguy

Hantavirus – bệnh dễ nhầm với cúm nhưng chuyển nặng nhanh

Người mắc Hantavirus có thể chỉ sốt nhẹ, đau cơ như cúm nhưng sau đó nhanh chóng rơi vào suy hô hấp cấp, phù phổi, tụt huyết áp và sốc tim. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) mới đây ghi nhận đến nay có 8 ca bệnh liên quan đến Hantavirus trên tàu du lịch MV Hondius được báo cáo, trong đó 3 trường hợp tử vong. Kết quả xét nghiệm xác nhận 5 ca nhiễm Hantavirus. Chủng virus liên quan được xác định là virus Andes, loại duy nhất được biết đến là có khả năng lây truyền từ người sang người, với tỷ lệ tử vong có thể lên tới 50%. Điều khiến giới chuyên môn lo ngại là khả năng lây truyền từ người sang người của chủng Andes virus – đặc tính hiếm gặp nhưng từng được ghi nhận tại Nam Mỹ. ThS.BS Nguyễn Quốc Thái, Bệnh viện Bạch Mai, cho hay Hantavirus là nhóm virus RNA thuộc họ Hantaviridae, tồn tại tự nhiên chủ yếu ở các loài gặm nhấm như chuột cống, chuột đồng, chuột nhắt. Virus có thể tồn tại lâu dài trong cơ thể vật chủ mà không gây bệnh cho chúng nhưng lại đặc biệt nguy hiểm khi lây sang người. Hantavirus được chia thành hai nhóm chính. Nhóm “Thế giới cũ” lưu hành chủ yếu tại châu Á và châu Âu, thường gây sốt xuất huyết kèm hội chứng thận. Trong khi đó, nhóm “Thế giới mới” tại châu Mỹ gây hội chứng tim phổi do Hantavirus – thể bệnh có tỷ lệ tử vong lên tới 40-50%. “Điểm nguy hiểm nhất của bệnh là tốc độ diễn tiến rất nhanh. Người bệnh có thể chỉ sốt nhẹ, đau cơ như cúm nhưng sau đó nhanh chóng rơi vào suy hô hấp cấp, phù phổi, tụt huyết áp và sốc tim”, bác sĩ Thái nói. Các nhân viên y tế trong trang phục bảo hộ chuyển bệnh nhân từ tàu du lịch MV Hondius sang xe cứu thương tại cảng Praia, Cape Verde, hôm 6/5. Ảnh:AP Khác với nhiều bệnh truyền nhiễm khác lây qua muỗi hoặc côn trùng, Hantavirus chủ yếu lây sang người khi hít phải bụi khí dung chứa nước tiểu, phân hoặc nước bọt của chuột nhiễm bệnh. Nguy cơ thường xuất hiện khi người dân dọn kho cũ, gác xép, chuồng trại, kho thóc hoặc các khu vực có nhiều phân chuột nhưng quét khô hoặc dùng máy hút bụi khiến virus phát tán vào không khí. Virus cũng có thể lây qua vết cắn của chuột hoặc khi vết thương hở tiếp xúc trực tiếp với chất thải của động vật mang bệnh. TS.BS Đoàn Thu Trà, Viện Y học Nhiệt đới Bạch Mai, cho hay hiện chưa có thuốc kháng virus đặc hiệu cũng như vaccine phòng bệnh Hantavirus. Việc điều trị hiện chủ yếu dựa vào hồi sức tích cực và chăm sóc hỗ trợ. Trong các trường hợp nặng, người bệnh có thể phải thở máy, lọc máu hoặc can thiệp ECMO để duy trì sự sống. “Không có thuốc điều trị tận gốc nên phát hiện muộn sẽ làm tăng đáng kể nguy cơ tử vong”, TS Trà nói. Theo các chuyên gia, đến nay Việt Nam chưa ghi nhận ca bệnh mới liên quan đợt cảnh báo hiện tại. Tuy nhiên, nguy cơ xuất hiện ca bệnh là hoàn toàn có thể xảy ra do quần thể chuột và các loài gặm nhấm tại Việt Nam rất phổ biến, sinh sống gần khu dân cư. Một số nghiên cứu dịch tễ học cũng đã phát hiện tỷ lệ nhỏ người dân có kháng thể chống Hantavirus, cho thấy từng có phơi nhiễm với mầm bệnh trong tự nhiên. Bộ Y tế và các chuyên gia khuyến cáo người dân không nên chủ quan, cần chủ động kiểm soát chuột, giữ vệ sinh môi trường, bịt kín khe hở trong nhà và đặc biệt phải xịt ẩm, đeo găng tay, khẩu trang khi dọn dẹp các khu vực nghi có phân chuột thay vì quét khô. Hệ thống y tế Việt Nam hiện có đủ năng lực xét nghiệm và chẩn đoán Hantavirus bằng các kỹ thuật như RT-PCR và xét nghiệm huyết thanh học tại các viện chuyên ngành và nhiều bệnh viện tuyến đầu. Các bác sĩ cũng lưu ý, nếu xuất hiện sốt cao, đau cơ, khó thở sau khi làm việc ở kho bãi, đồng ruộng hoặc môi trường có nhiều chuột, người dân cần đến cơ sở y tế sớm để được thăm khám, tránh chủ quan vì bệnh có thể diễn tiến rất nhanh. https://vnexpress.net/hantavirus-benh-de-nham-voi-cum-nhung-chuyen-nang-nhanh-5072087.html

GẶP MẶT CHIA TAY CÁN BỘ VỀ NGHỈ HƯU THEO CHẾ ĐỘ

Chiều ngày 31/5/2026, Bệnh viện Bắc Thăng Long tổ chức buổi gặp mặt thân mật chia tay các cán bộ về nghỉ hưu theo chế độ… khép lại chặng đường dài gắn bó, góp phần vun đắp nền móng vững chắc cho tập thể cán bộ, y – bác sĩ bệnh viện hôm nay. Chủ trì buổi gặp mặt chia tay có đồng chí Vũ Thành Chung – Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Bệnh viện, các đồng chí trong Ban Giám đốc, Chủ tịch công đoàn, lãnh đạo các khoa/phòng và đại diện cán bộ, y – bác sĩ trong bệnh viện Phát biểu tại buổi gặp mặt, thay mặt Đảng ủy, Ban Giám đốc và toàn thể CBCNV, đồng chí Vũ Thành Chung – Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Bệnh viện ghi nhận và tri ân sâu sắc những đóng góp của hai đồng chí: 1. BSCKI Nguyễn Thị Thuý – Trưởng khoa Nội Tổng hợp, với hơn 30 năm công tác, là người giàu tâm huyết, tinh thần hăng say, làm việc chỉn chu, sâu sắc và để lại dấu ấn tốt đẹp trong lòng đồng nghiệp. 2. BSCKII Nguyễn Thị Bích Thiện – Khoa Khám bệnh, với 30 năm 7 tháng công tác luôn là tấm gương về sự tận tụy, trách nhiệm, sống giản dị, chan hòa và hết lòng với công việc cũng như với đồng nghiệp. Đại diện cho cán bộ nghỉ hưu, đồng chí Nguyễn Thị Thuý xúc động phát biểu cảm ơn sự quan tâm sâu sắc của Đảng ủy, Ban Giám đốc, Công đoàn cùng toàn thể đồng nghiệp đã đồng hành, chia sẻ trong suốt những năm tháng công tác….Những năm tháng qua không chỉ là hành trình nghề nghiệp, mà còn là thanh xuân, là ký ức đẹp không thể nào quên. Dù nay rời xa công việc, chúng tôi vẫn sẽ luôn dõi theo và mong mỏi bệnh viện ngày càng phát triển, vững vàng và lớn mạnh hơn nữa, trong lời chia sẻ mộc mạc nhưng đầy tình cảm, đồng chí Thúy nhấn mạnh. Buổi gặp mặt khép lại trong không khí đầm ấm, thân tình – với những cái bắt tay nồng hậu, những bó hoa tươi thắm, những phần quà kỷ niệm và cả những ánh mắt lưu luyến.   Chúc đồng chí Nguyễn Thị Thuý và Nguyễn Thị Bích Thiện sức khỏe dồi dào luôn an vui bên gia đình và tiếp tục là điểm tựa tinh thần cho thế hệ cán bộ tiếp nối. Phòng CTXH    

Bệnh viện Bắc Thăng Long: gửi trọn nụ cười đến các bệnh nhi ngày 1/6

Mỗi dịp Quốc tế Thiếu nhi 1/6, Phòng Công tác xã hội – Bệnh viện Bắc Thăng Long lại phối hợp với Đoàn Thanh niên, các khoa/phòng, cùng các nhà hảo tâm, nhà tài trợ tổ chức chương trình “Nụ cười của bé” với chuỗi hoạt động thăm hỏi – tặng quà đầy ý nghĩa dành cho các bệnh nhi đang được chăm sóc, điều trị tại bệnh viện… Ths. Phùng Văn Dũng – Phó Giám đốc Bệnh viện đã dành những lời chia sẻ xúc động và ấm áp nhất tới các bệnh nhi, khẳng định sự quan tâm, thấu hiểu và nỗ lực không ngừng của đội ngũ y bác sĩ trong hành trình chăm sóc sức khỏe cho các em… món quà nhỏ thay cho lời động viên với hy vọng các bé luôn giữ vững niềm tin, nghị lực để chiến thắng bệnh tật, sớm trở về với gia đình và trường lớp. Phòng CTXH

Từ 01/7/2026: Nhiều khoản trợ cấp BHXH tăng

Từ ngày 01/7/2026, mức lương cơ sở được điều chỉnh từ 2.340.000 đồng/tháng lên 2.530.000 đồng/tháng. Việc điều chỉnh này giúp nhiều khoản trợ cấp BHXH tăng theo. Theo quy định hiện hành, một số chế độ BHXH được tính trên cơ sở mức tham chiếu. Trong giai đoạn chưa bãi bỏ mức lương cơ sở, mức tham chiếu được xác định bằng mức lương cơ sở. Vì vậy, khi mức lương cơ sở tăng từ ngày 01/7/2026, nhiều khoản trợ cấp BHXH cũng được điều chỉnh tăng tương ứng. Cụ thể, trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi bằng 02 lần mức lương cơ sở sẽ tăng từ 4.680.000 đồng lên 5.060.000 đồng (tăng 380.000 đồng). Đối với trợ cấp mai táng, mức hưởng bằng 10 lần mức lương cơ sở, tăng từ 23.400.000 đồng lên 25.300.000 đồng (tăng 1.900.000 đồng). Bên cạnh đó, trợ cấp tuất hằng tháng đối với mỗi thân nhân cũng được điều chỉnh tăng. Theo quy định, mức trợ cấp bằng 50% mức lương cơ sở; trường hợp thân nhân không có người trực tiếp nuôi dưỡng thì bằng 70% mức lương cơ sở. Theo đó, mức hưởng tương ứng tăng từ 1.170.000 đồng/tháng lên 1.265.000 đồng/tháng (tăng 95.000 đồng) và từ 1.638.000 đồng/tháng lên 1.771.000 đồng/tháng (tăng 133.000 đồng). Ngoài việc tăng các khoản trợ cấp, từ ngày 01/7/2026, mức trần tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc cũng được điều chỉnh tăng lên 50,6 triệu đồng/tháng. Theo Luật BHXH năm 2024, tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc được xác định theo từng nhóm đối tượng và từng chế độ tiền lương. Trong đó, mức thấp nhất bằng mức tham chiếu và mức cao nhất bằng 20 lần mức tham chiếu tại thời điểm đóng. Khi chưa bãi bỏ mức lương cơ sở thì mức tham chiếu quy định tại Luật này bằng mức lương cơ sở. Theo đó, từ ngày 01/7/2026, tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc như sau: – Mức thấp nhất là 2.530.000 đồng/tháng; – Mức cao nhất là 50.600.000 đồng/tháng. Quy định này là cơ sở để xác định mức đóng BHXH bắt buộc, góp phần bảo đảm nguyên tắc đóng – hưởng, công bằng và bền vững của chính sách BHXH./. https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/linh-vuc-bao-hiem-xa-hoi.aspx?ItemID=26585&CateID=168

Vợ không đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản, chồng có những quyền lợi gì?

Theo Luật BHXH 2024 có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, ngay cả khi người vợ không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thai sản, người chồng vẫn có những quyền lợi riêng nếu đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định. Được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản lên đến 14 ngày Theo quy định tại Điều 53 Luật BHXH 2024, lao động nam đang tham gia BHXH bắt buộc khi vợ sinh con sẽ được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản mà không phụ thuộc vào việc người vợ có đủ điều kiện hưởng thai sản hay không. Số ngày nghỉ cụ thể như sau: 05 ngày làm việc: Đối với trường hợp sinh thường. 07 ngày làm việc: Khi vợ sinh con phải phẫu thuật hoặc sinh con dưới 32 tuần tuổi. 10 ngày làm việc: Trường hợp vợ sinh đôi; nếu sinh ba trở lên thì cứ mỗi con thêm được nghỉ thêm 03 ngày làm việc. 14 ngày làm việc: Trường hợp vợ sinh đôi trở lên mà phải phẫu thuật. Lưu ý: Thời gian nghỉ này phải được thực hiện trong khoảng thời gian 60 ngày đầu kể từ ngày vợ sinh con. Nhận trợ cấp một lần Theo Điều 58 Luật BHXH 2024, trong trường hợp người vợ sinh con nhưng không đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản, người chồng vẫn sẽ được nhận trợ cấp một lần nếu người chồng đã đóng BHXH bắt buộc từ đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng liền kề trước khi vợ sinh con. Mức hưởng trợ cấp một lần cho mỗi con bằng 2 lần mức tham chiếu tại tháng sinh con (hiện nay mức tham chiếu bằng mức lương cơ sở). Trợ cấp thai sản từ BHXH tự nguyện Một trong những điểm mới của Luật BHXH 2024 là bổ sung chế độ thai sản vào loại hình BHXH tự nguyện do ngân sách Nhà nước bảo đảm. Theo Điều 94 và 95, lao động nam tham gia BHXH tự nguyện có vợ sinh con sẽ được hưởng trợ cấp thai sản nếu đã đóng BHXH tự nguyện (hoặc tổng thời gian đóng cả bắt buộc và tự nguyện) từ đủ 6 tháng trở lên trong 12 tháng trước khi sinh con. Mức trợ cấp là 2.000.000 đồng cho mỗi con được sinh ra. Trường hợp cả cha và mẹ cùng tham gia BHXH tự nguyện và đủ điều kiện thì chỉ một người (cha hoặc mẹ) được hưởng. Hồ sơ và thủ tục cần chuẩn bị Để không bỏ lỡ quyền lợi, người lao động nam cần chuẩn bị hồ sơ nộp cho người sử dụng lao động (với BHXH bắt buộc) hoặc cơ quan BHXH (với BHXH tự nguyện) gồm các giấy tờ sau: – Bản sao giấy khai sinh hoặc trích lục khai sinh hoặc bản sao giấy chứng sinh của con. – Trường hợp con chết sau khi sinh mà chưa được cấp giấy chứng sinh: Bản sao bản tóm tắt hồ sơ bệnh án hoặc giấy ra viện của người mẹ có thể hiện thông tin con chết. – Nếu sinh con phải phẫu thuật hoặc dưới 32 tuần tuổi mà giấy chứng sinh không thể hiện: Cần thêm văn bản xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh về nội dung này. Thời hạn nộp hồ sơ: Chậm nhất là 45 ngày kể từ ngày người chồng trở lại làm việc (đối với BHXH bắt buộc) hoặc 60 ngày kể từ ngày sinh con (đối với BHXH tự nguyện)./. https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/linh-vuc-bao-hiem-xa-hoi.aspx?ItemID=26581&CateID=168

Bệnh viện Bắc Thăng Long hướng dẫn đăng ký khám chữa bệnh BHYT ban đầu

Bệnh viện Bắc Thăng Long đã tổ chức hướng dẫn, phổ biến tới toàn thể cán bộ, Y – Bác sĩ, người lao động nội dung Công văn 2824/SYT – QLBHYTCNTT ban hành ngày 02/4/2026 của Sở Y tế Hà Nội hướng dẫn về việc đăng ký khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế ban đầu trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2026. Theo quy định tại Điều 7, Thông tư số 01/TT-BYT, người tham gia Bảo hiểm y tế được quyền lựa chọn nơi đăng ký khám chữa bệnh ban đầu phù hợp với nơi cư trú, làm việc, học tập và khả năng đáp ứng của cơ sở y tế, không phân biệt địa giới hành chính. Vào ngày cuối cùng của 15 ngày đầu tiên của mỗi quý (tức là các ngày 15/1.. 15/4…15/7…15/10 hàng năm) thì người dân tham gia BHYT theo hộ gia đình, doanh nghiệp đăng ký KCB ban đầu tại một trong các cơ sở KCB cấp cơ bản, cấp chuyên sâu – nếu các đối tượng ưu tiên đã được tiếp nhận và cơ sở KCB vẫn chưa lấp đầy số lượng thẻ tối đa. Bệnh viện Bắc Thăng Long là cơ sở khám chữa bệnh cấp cơ bản: Năm 2026, số lượng thẻ đăng ký khám chữa bệnh BHYT ban đầu, được phân bổ tại Bệnh viện là 85.000 đầu thẻ. Hiện nay, Bệnh viện Bắc Thăng Long đảm bảo đủ khả năng tiếp nhận thêm người dân đăng ký mới hoặc có nhu cầu chuyển đổi nơi khám chữa bệnh ban đầu về Bệnh viện. Đây là điều kiện thuận lợi để người dân lựa chọn bệnh viện Bắc Thăng Long làm nơi chăm sóc sức khỏe lâu dài. Đối với người dân có nhu cầu đổi nơi đăng ký khám chữa bệnh ban đầu về Bệnh viện trong thời gian từ ngày 01 đến ngày 15 đầu mỗi quý, có thể thực hiện theo 2 cách: 1. Đến cơ quan Bảo hiểm xã hội nơi tham gia BHYT để làm thủ tục đăng ký. 2. Đến trực tiếp bàn tiếp đón tầng 1 Bệnh viện Bắc Thăng Long để được cán bộ y tế hướng dẫn chi tiết, nhanh chóng và thuận tiện. Lợi ích khi đăng ký khám, chữa bệnh ban đầu tại bệnh viện Bắc Thăng Long : ✅ Được khám, điều trị và theo dõi sức khỏe định kỳ, liên tục ✅ Được đảm bảo quyền lợi BHYT theo quy định ✅ Tiết kiệm thời gian, chi phí đi lại ✅ Được tư vấn, chuyển tuyến kịp thời khi cần thiết. Với đội ngũ y bác sĩ giàu kinh nghiệm, cơ sở vật chất ngày càng khang trang được đầu tư nâng cấp hiện đại… Bệnh viện Bắc Thăng Long cam kết mang đến dịch vụ khám chữa bệnh chất lượng, đáp ứng đầy đủ nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân trên địa bàn. Phòng CTXH

Kỳ tích tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội: Hai trẻ song sinh chào đời cách nhau 13 tuần

Các bác sĩ Bệnh viện Phụ sản Hà Nội cùng sản phụ vừa làm nên một kỳ tích y khoa hiếm gặp khi thực hiện thành công ca song thai đặc biệt, hai trẻ chào đời cách nhau 13 tuần. Một em bé sinh non chào đời ở tuần thai thứ 25, chỉ nặng 650 gram. Và bằng nỗ lực không ngừng nghỉ, các y bác sĩ đã kiên trì “níu giữ” thai nhi còn lại suốt 13 tuần tiếp theo để thai trưởng thành và em bé được sinh ra khỏe mạnh ở tuần 38, nặng 2,4kg. Một hành trình, hai thời khắc, nhưng chung một phép màu của y học. Sản phụ mang song thai Nguyễn Thị Liên, 32 tuổi, ở Bắc Ninh trải qua hành trình “tìm con” nhiều gian nan. Sau gần 5 năm kết hôn, vợ chồng chị quyết định thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) do bệnh lý đa nang buồng trứng và tình trạng tắc, thông hạn chế vòi trứng. Nhưng niềm vui chưa trọn vẹn khi thai kỳ sớm đối mặt với biến chứng. Từ tuần thai thứ 20, sản phụ đã được cảnh báo nguy cơ sinh non khi cổ tử cung bắt đầu mở. Đến tuần 22-23, tình trạng trở nên nghiêm trọng hơn với các dấu hiệu đau bụng tăng dần, ra dịch âm đạo và xuất hiện cơn co tử cung. ThS.BS Trương Minh Phương, Phó Trưởng Khoa Sản bệnh A4, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội cho biết, thai phụ nhập viện khi đã có dấu hiệu dọa sinh non thực sự ở 22 tuần 5 ngày. Thời điểm này, sản phụ có cơn co tử cung mạnh, cổ tử cung mở 2-3cm, một thai đã sa thấp, chân thai nhi lộ ra ngoài âm đạo; nguy cơ sảy thai hoặc sinh non rất cao. Theo ThS.BS Trương Minh Phương, đây là tình huống thai kỳ hiếm gặp, diễn biến phức tạp. Ê kíp đã hội chẩn khẩn, xây dựng chiến lược điều trị với mục tiêu kéo dài thai kỳ tối đa, ưu tiên giữ thai còn lại ở vị trí cao trong tử cung. Đồng thời, chuẩn bị phương án có thể phải chấp nhận sinh thai thứ nhất để bảo toàn cơ hội sống cho thai thứ hai. Sản phụ được điều trị tích cực bằng thuốc giảm co mạnh, kết hợp theo dõi sát các dấu hiệu nhiễm trùng. Trong quá trình điều trị, tình trạng dọa sinh non không tiến triển nặng thêm, cả hai thai tiếp tục phát triển ổn định. Trước những tín hiệu tích cực, đến tuần thai thứ 25, các bác sĩ quyết định điều chỉnh chiến lược, không chỉ giữ thai thứ hai, mà cố gắng bảo toàn cả hai thai. Ở tuần thai thứ 25, sản phụ xuất hiện dấu hiệu chuyển dạ. Đây là giai đoạn khả năng nuôi sống trẻ còn thấp. ThS.BS Trương Minh Phương cho biết: “Nếu kéo dài thêm được một tuần, cơ hội sống của trẻ có thể tăng thêm 20-30%. Vì vậy, các bác sĩ luôn cố gắng kéo dài thời gian thai kỳ hết mức có thể”. Đến mốc 25 tuần 6 ngày, sản phụ chuyển dạ thực sự và sinh thường thai thứ nhất ngày 20/1/2026, bé gái nặng 650 gram. Trẻ được hồi sức sơ sinh ngay sau sinh, đáp ứng tốt nhờ được hỗ trợ trưởng thành phổi, não trước đó. Sau đó, trẻ được chuyển đến Bệnh viện Nhi Trung ương để tiếp tục điều trị. Hiện, trẻ đạt khoảng 1.900 gram, tự ăn và cơ bản ổn định. Sau khi sinh thai thứ nhất, ê kíp tiếp tục bước vào giai đoạn khó khăn hơn là giữ lại thai thứ hai trong điều kiện cổ tử cung đã mở, nguy cơ nhiễm trùng cao. Sản phụ được theo dõi sát, sử dụng kháng sinh liên tục… nhằm hạn chế nguy cơ nhiễm khuẩn. Toàn bộ quá trình điều trị được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của lãnh đạo bệnh viện. Phác đồ liên tục được điều chỉnh, cập nhật theo diễn biến thực tế, bảo đảm an toàn cho sản phụ và thai nhi. Gia đình sản phụ Nguyễn Thị Liên hạnh phúc đón bé chào đời khỏe mạnh. Sau 13 tuần điều trị tích cực, thai thứ hai được duy trì đến 38 tuần. Ngày 15/4, sản phụ được mổ lấy thai thành công, bé trai nặng 2,4kg. Sản phụ mang song thai Nguyễn Thị Liên xúc động chia sẻ: “Tình mẫu tử chính là điểm tựa lớn nhất giúp tôi vượt qua tất cả. Trong suốt hành trình đầy biến cố ấy, tôi luôn tự nhủ phải cố gắng từng ngày, vì các con. Khi bé thứ nhất chào đời còn non, tôi thực sự rơi vào trạng thái hoang mang, lo lắng. Nhưng nhờ sự động viên, đồng hành sát sao của các y, bác sĩ, tôi dần lấy lại bình tĩnh. Tôi cố gắng phối hợp chặt chẽ theo từng hướng dẫn, từng liệu trình điều trị, chỉ mong giữ được em bé đủ tháng, đủ ngày, trưởng thành và chào đời khỏe mạnh. Và khi điều đó trở thành hiện thực, với tôi và gia đình, đó là niềm vui không gì có thể diễn tả. Để tôi yên tâm, chồng tôi gần như chạy giữa hai nơi. Một bên là con đang được chăm sóc tại Bệnh viện Nhi Trung ương, một bên là tôi đang dưỡng thai. Anh liên tục cập nhật tình hình để tôi yên tâm, tiếp thêm cho tôi nghị lực để cố gắng. Đặc biệt, chính sự tận tâm, bền bỉ và những lời động viên kịp thời của đội ngũ y, bác sĩ Bệnh viện Phụ sản Hà Nội đã tiếp thêm cho gia đình tôi niềm tin để đi trọn hành trình đầy thử thách này. Tôi vô cùng biết ơn vì các y, bác sĩ

5 kỳ tích viết tên người Việt lên bản đồ y khoa thế giới năm 2025

Năm 2025, nền y học Việt Nam ghi dấu nhiều kỳ tích đáng tự hào, từ những ca phẫu thuật “lần đầu tiên” đến các phát minh đột phá giúp cứu sống nhiều người bệnh. Dưới đây là 5 thành tựu y khoa tiêu biểu do người Việt thực hiện trong năm qua, thể hiện bước tiến lớn cả về trình độ chuyên môn lẫn tinh thần nhân văn của ngành y. Ghép tạm tay đứt lìa vào chân, cô gái mang song thai làm mẹ trọn vẹn Bàn tay đứt lìa của sản phụ được ghép tạm vào chân (Ảnh: Bệnh viện cung cấp). Một phụ nữ 19 tuổi mang song thai 34 tuần đã được nối thành công bàn tay bị đứt lìa sau gần hai tháng “nuôi tạm” ở chân. Đây là một kỹ thuật vi phẫu hiếm gặp trên thế giới. Ngày 23/9/2025, TS.BS Lê Ngọc Long, Giám đốc Bệnh viện đa khoa Bình Dương (TPHCM) thông tin với phóng viên báo Dân trí, các bác sĩ nơi này đã tiếp nhận cấp cứu, điều trị một trường hợp bị tai nạn thương tâm. Bệnh nhân là cô gái tên L.N.P. (gần 20 tuổi). Theo thông tin ban đầu, trước đó khi làm việc tại nhà máy, bệnh nhân bị tai nạn lao động với máy móc, gây dập nát vùng 1/3 dưới cẳng tay và đứt lìa bàn tay phải. Sản phụ hạ sinh thành công và hồi phục kỳ diệu (Ảnh: Hoàng Lê). Tháng 9/2025, chị L.N.P. gặp tai nạn lao động nghiêm trọng khiến 1/3 dưới cẳng tay phải dập nát và bàn tay đứt rời hoàn toàn. Do bệnh nhân đang mang thai đôi, các bác sĩ Bệnh viện Đa khoa Bình Dương đối mặt bài toán nan giải: nếu mổ nối tay ngay lập tức, ca mổ kéo dài 7-8 giờ và liều thuốc mê lớn có thể gây sảy thai, còn nếu xử lý kiểu thông thường (đóng mỏm cụt) thì người mẹ sẽ tàn phế vĩnh viễn. Để bảo toàn cả tính mạng mẹ con và cứu lấy bàn tay, ekip đa chuyên khoa quyết định ghép tạm bàn tay đứt lìa vào cẳng chân phải nhằm duy trì tưới máu nuôi dưỡng mô trong khi chờ thai đủ lớn. Nhờ giải pháp sáng tạo này, người mẹ an toàn vượt qua thai kỳ. Đến ngày 28/11/2025, khi hai thai nhi đã phát triển ổn định, các bác sĩ tiến hành mổ tách bàn tay ra khỏi chân và nối trả lại vào vị trí cũ trên cẳng tay sau gần 2 tháng nuôi ghép. Ca vi phẫu kéo dài 13 giờ đã tái lập hệ thống mạch máu, gân cơ và thần kinh một cách tinh vi, đồng thời luôn theo dõi sát nhịp tim thai trong suốt quá trình mổ. Hậu phẫu, bàn tay hồng ấm và bắt đầu cử động nhẹ; người mẹ sinh mổ hai bé trai khỏe mạnh, an toàn trong niềm vui vỡ òa của cả gia đình và đội ngũ y bác sĩ. Giới chuyên môn đánh giá đây là bước tiến lớn về vi phẫu tạo hình ở tuyến tỉnh, khi bệnh viện địa phương có thể thực hiện một kỹ thuật phức tạp đòi hỏi phối hợp đa khoa chặt chẽ để cứu cả mẹ lẫn con. Thành công này mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc và đã được lãnh đạo TPHCM gửi thư khen ngợi, tặng bằng khen đột xuất cho ekip phẫu thuật. Lần đầu tiên Việt Nam ghép đồng thời tim – phổi Ngày 13/8/2025, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức công bố ca ghép tim – phổi đầu tiên ở nước ta: bệnh nhân là nữ, 38 tuổi, suy tim và suy phổi giai đoạn cuối, sự sống “tính bằng ngày” trước khi được ghép. Ca đại phẫu kéo dài 7 giờ với sự hỗ trợ của hệ thống tim phổi nhân tạo. Tim và cả hai lá phổi từ người hiến chết não đã được ghép đồng thời cho người bệnh; các bác sĩ thậm chí phải cắt giảm một phần lá phổi để vừa vặn khoang ngực người nhận và tối ưu tưới máu. Ngày 13/8/2025, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức công bố ca ghép tim – phổi đầu tiên ở nước ta: bệnh nhân là nữ, 38 tuổi (Ảnh: Bệnh viện cung cấp). Thách thức lớn nhất sau mổ là cân bằng thuốc chống thải ghép với nguy cơ nhiễm trùng từ phổi người hiến. Nhờ chiến lược điều trị sáng tạo (dùng gần 40 loại thuốc, phối hợp lọc máu, điều chỉnh kháng sinh), bệnh nhân vượt qua giai đoạn nguy hiểm và dần hồi phục, chức năng tim phổi ổn định. Đây được xem là một cột mốc lịch sử của ngành ghép tạng Việt Nam, khẳng định trình độ y học nước nhà đã làm chủ những kỹ thuật khó bậc nhất trên thế giới. Trên thế giới mỗi năm chỉ thực hiện khoảng 100 ca ghép tim – phổi do yêu cầu vô cùng khắt khe về nguồn tạng và kỹ thuật phẫu thuật. Thành công này mở ra hướng điều trị mới cho các bệnh nhân mắc đồng thời bệnh tim và phổi giai đoạn cuối – những trường hợp trước đây gần như vô vọng, đồng thời đưa y học Việt Nam lên một tầm cao mới trên bản đồ ghép tạng thế giới. Chỉ trong hai năm gần đây, số ca ghép tạng tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức đã tăng vọt, nhiều kỹ thuật ghép đa tạng phức tạp được thực hiện liên tiếp (năm 2024 bệnh viện này cũng lần đầu ghép đồng thời tim – gan). Ca ghép tim – phổi đầu tiên thành công là minh chứng thuyết phục nhất cho bước tiến vượt bậc ấy của y học Việt Nam. Thay khớp háng toàn phần bằng công nghệ in 3D cho bệnh nhi 12 tuổi Công nghệ in

Biến giấc mơ ghép tạng tại Việt Nam thành kỳ tích trong đời thực

Ghép tạng là 1 trong 10 thành tựu y học lớn nhất của nhân loại trong thế kỷ 20. Đây là giải pháp duy nhất mang lại hy vọng sống cuối cùng của người bệnh khi các phương pháp khác không còn hiệu quả. Tại Việt Nam, ban đầu ghép tạng chỉ là ước mơ, đến nay, chúng ta bắt đầu làm chủ những kỹ thuật hiện đại nhất. Phép màu tái sinh cuộc đời nữ bác sĩ trẻ Chị Nguyễn Thị Phương Nhi, 32 tuổi, là bác sĩ sản khoa, công tác tại Bệnh viện Đa khoa Phương Bắc, Tuyên Quang. Chị từng không nghĩ rằng, “hành trình cứu người” của mình lại có ngày phải tạm dừng trước một bước ngoặt sinh tử. Sáu năm trước, chị được chẩn đoán mắc bệnh cơ tim giãn – căn bệnh âm thầm bào mòn chức năng tim, đẩy người bệnh đến ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết. Thời gian phát hiện mắc bệnh đúng trong lần chị mang thai đầu tiên. Sau khi sinh con, chị kiên trì điều trị nội khoa, bền bỉ chống chọi với những tháng ngày mệt mỏi kéo dài. Bất ngờ, một cơn suy tim cấp ập đến, tình trạng bệnh trở nên nguy kịch, buộc chị phải chuyển tuyến điều trị. Tại đây, các bác sĩ xác định con đường duy nhất để giữ lại sự sống cho chị là ghép tim. Chồng chị cũng là một bác sĩ chẩn đoán hình ảnh. Hai vợ chồng cùng học tại Đại học Y Thái Bình, sau đó công tác tại Tuyên Quang. Anh là người dân tộc Khơ Mú, ở Điện Biên, còn chị ở Thanh Hóa. Đôi vợ chồng trẻ có một cô con gái – là nguồn động lực lớn nhất giúp chị Nhi bám víu vào sự sống trong những ngày dài trên giường bệnh. Giữa lằn ranh sinh tử, phép màu đã tìm đến chị. Sau 5 năm chống chọi với bệnh cơ tim giãn, chị được hồi sinh nhờ một ca ghép tim từ người hiến chết não. Tháng 1/2025, chị được ghép tim thành công tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. Ba tháng sau ghép, chị đã quay lại công việc hàng ngày, đó là thăm khám và điều trị ngoại trú cho nhiều người bệnh. Đến nay, chị cảm nhận rõ sức khỏe thay đổi từng ngày, khỏe khoắn hơn, tinh thần lạc quan hơn rất nhiều, nhất là khi được quay trở lại công việc phục vụ người dân. Khoác lại chiếc áo blouse trắng với trái tim được hồi sinh, chị Nhi xem đó như một lời tri ân lặng thầm và sâu sắc tới gia đình người hiến tạng, đã trao cho chị không chỉ một trái tim, mà cả một cuộc đời mới. Chị Nhi là 1 trong nhiều người bệnh ở nước ta được hồi sinh từ lằn ranh sinh tử trong những năm trở lại đây, nhờ kỹ thuật ghép tạng đỉnh cao của nhân loại. Ghép tạng là một trong 10 thành tựu y học lớn nhất của nhân loại trong thế kỷ 20. Đây là giải pháp duy nhất mang lại hy vọng sống cuối cùng của người bệnh khi các phương pháp khác không còn hiệu quả. BS Nguyễn Thị Phương Nhi đang công tác tại Tuyên Quang. Từ ước mơ đến tầm nhìn chiến lược… Trên thế giới bắt đầu nghiên cứu ghép tạng từ đầu thế kỷ XX, đến năm 1954 bắt đầu ghép thận thành công; năm 1963 ca ghép gan đầu tiên được tiến hành và đến năm 1967, ca ghép gan đầu tiên thành công. Tại Việt Nam, từ những năm 60 thế kỷ XX, y học Việt Nam còn thiếu thốn về trang thiết bị, cơ sở vật chất, thuốc men và nhân lực. Ghép tạng khi đó chỉ là ước mơ đối với giới y học trong nước và bệnh nhân bị suy tạng cần điều trị thay thế. Tuy nhiên, với tầm nhìn chiến lược về ghép tạng tại Việt Nam từ những năm 1970, Giáo sư, Viện sĩ Tôn Thất Tùng, Cố Giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức đã không ngừng nỗ lực nghiên cứu ghép tạng và đã ghép thành công ở động vật từ năm 1965-1966. Mong muốn của GS Tôn Thất Tùng là thực hiện ghép gan, thận cho người vào những năm 1970. Song, thời gian đó, cả nước phải tập trung nhân lực, vật lực cho kháng chiến nên ý nguyện của Giáo sư không thực hiện được. Mặc dù vậy, với sự kiên định, bản lĩnh, tầm nhìn lớn, GS Tôn Thất Tùng đã gửi các chuyên gia đi học ở nước ngoài với nhiều chuyên ngành khác nhau như nội, ngoại, gây mê hồi sức, chẩn đoán hình ảnh… nhằm chuẩn bị sẵn lực lượng cho ngành ghép tạng nước nhà. AHLĐ.TTND.GS Nguyễn Tiến Quyết, Phó Chủ tịch Hội Ghép tạng Việt Nam – Ảnh: VGP Và những dấu ấn kỳ tích trong đời thực Theo Anh hùng lao động, Thầy thuốc nhân dân, GS Nguyễn Tiến Quyết, Phó Chủ tịch Hội Ghép tạng Việt Nam, chuyên gia đầu ngành về ghép tạng và hơn 40 năm kinh nghiệm về chuyên khoa ngoại tiêu hóa – gan mật tụy, đến năm 2000, khi có đủ cơ sở vật chất, nhân lực, vật lực, chúng ta đã tiến hành ghép tạng trên động vật rất hiệu quả. Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức đã triển khai thành công nghiên cứu ghép gan thực nghiệm trên động vật (lợn). Hoạt động này nằm trong đề tài nghiên cứu cấp nhà nước: “Nghiên cứu một số vấn đề ghép gan để thực hiện ghép gan trên người tại Việt Nam”. Sự kiện đã mở ra một cơ hội lớn cho kỹ thuật ghép gan của Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức nói riêng và cả nước nói chung. Đó cũng

HÒM THƯ GÓP Ý

    Đặt Lịch Khám

      Đặt Lịch Khám