
Ngày 03/7/2000 Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội đã ban hành quyết định số 67/QĐ-UB về việc đổi tên “Trung tâm y tế dự phòng than Khu vực Nội Địa” thành “Bệnh viện Bắc Thăng Long” Từ đây Bệnh viện đã trực thuộc Sở Y tế Hà Nội và hoạt động theo đúng ngành dọc của mình. Trụ sở đóng tại: Tổ 18, thị trấn Đông Anh, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.
Bệnh viện Bắc Thăng Long ngày nay với quy mô 420 giường bệnh, 28 khoa, phòng chức năng và 2 bộ phận…

Phó giám đốc Bệnh viện

Phó giám đốc Bệnh viện

Phó giám đốc Bệnh viện

Ngày Thế giới Phòng, Chống bệnh Ung thư được tổ chức vào ngày 4 tháng 2 hằng năm do Liên Minh Kiểm soát Ung thư Quốc tế (UICC) dẫn đầu nhằm cách nâng cao nhận thức, dự phòng, phát hiện sớm, điều trị tốt hơn bệnh ung thư. Đồng thời, hướng tới mục tiêu cung cấp dịch vụ chăm sóc, điều trị bệnh ung thư công bằng cho tất cả mọi người và hợp tác với các chính phủ để hành động. Ung thư là vấn đề sức khỏe quan trọng nhất, không chỉ Việt Nam mà hầu hết các quốc gia trên thế giới đang phải đối mặt. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ung thư là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ hai trên toàn thế giới với khoảng 20 triệu ca mới mắc và gần 10 triệu người tử vong hằng năm. Xu hướng này sẽ ngày càng tăng lên trong nhiều năm tiếp theo. Tuy nhiên, hơn 40% số ca tử vong liên quan đến ung thư có thể phòng ngừa bằng cách giảm với các yếu tố nguy cơ như thuốc lá, béo phì, lười vận động, rượu bia, nhiễm trùng, ô nhiễm môi trường, ánh nắng mặt trời, chất gây ung thư nghề nghiệp và bức xạ. https://moh.gov.vn/tin-tong-hop/-/asset_publisher/k206Q9qkZOqn/content/ngay-the-gioi-phong-chong-ung-thu-4-2-cac-bien-phap-phong-tranh-va-giam-nguy-co-mac-ung-thu?inheritRedirect=false&redirect=https%3A%2F%2Fmoh.gov.vn%3A443%2Ftin-tong-hop%3Fp_p_id%3D101_INSTANCE_k206Q9qkZOqn%26p_p_lifecycle%3D0%26p_p_state%3Dnormal%26p_p_mode%3Dview%26p_p_col_id%3Drow-3-column-2%26p_p_col_pos%3D1%26p_p_col_count%3D2

Sở Y tế Hà Nội vừa công bố danh sách số điện thoại đường dây nóng của thủ trưởng các đơn vị trực thuộc nhằm tiếp nhận phản hồi, kịp thời chấn chỉnh thái độ phục vụ và nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân. Đây là động thái quyết liệt nhằm tăng cường tính minh bạch, sự giám sát của cộng đồng đối với hoạt động của các bệnh viện, trung tâm y tế trên địa bàn Thủ đô. Danh sách số điện thoại đường dây nóng của thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Sở Y tế Hà Nội. Nguồn: SYT Hà Nội Thông qua việc công khai này, người dân khi gặp các vấn đề về quy trình thủ tục, tinh thần thái độ phục vụ của nhân viên y tế hoặc các sự cố liên quan đến chuyên môn có thể gọi điện trực tiếp đến người đứng đầu đơn vị để được giải đáp và xử lý kịp thời. Sở Y tế Hà Nội yêu cầu các lãnh đạo đơn vị phải đảm bảo việc tiếp nhận thông tin từ người dân một cách thông suốt, không được né tránh hoặc phản hồi chậm trễ đối với các kiến nghị chính đáng. https://plo.vn/ha-noi-cong-khai-so-dien-thoai-lanh-dao-tat-ca-cac-benh-vien-post894638.html

Dù máy móc hiện đại chỉ mất vài giây để chụp X-quang, cơ quan Bảo hiểm xã hội vẫn yêu cầu quy trình phải kéo dài đủ 6 phút mới thanh toán, khiến nhiều bệnh viện bị xuất toán chi phí. Tại hội nghị triển khai công tác khám chữa bệnh năm 2026 ngày 2/2, nhiều bệnh viện phản ánh tình trạng bị cơ quan Bảo hiểm xã hội (BHXH) từ chối thanh toán (xuất toán) chi phí chẩn đoán hình ảnh vì “thời gian thực hiện nhanh hơn định mức”. Cục trưởng Quản lý khám chữa bệnh Hà Anh Đức cho biết quy trình này do Cục xây dựng trước đây nhưng khi áp dụng thực tế lại nảy sinh vấn đề. “Một ca chụp X-quang phải đủ 6 phút, siêu âm phải đủ 30 phút, nhanh hơn thời gian này bảo hiểm y tế không thanh toán. Cục ‘đẻ’ ra quy trình thế đấy, giờ phải làm thế nào cho tốt”, ông Đức đặt vấn đề. Làm rõ nguyên nhân tranh cãi, ông Nguyễn Trọng Khoa, Phó cục trưởng Cục Quản lý Khám chữa bệnh, cho biết mốc thời gian 6 phút hay 30 phút thực chất là định mức kinh tế – kỹ thuật để xây dựng giá dịch vụ y tế, dựa trên nền tảng công nghệ cũ trước đây. Tuy nhiên, vướng mắc nảy sinh khi cơ quan bảo hiểm sử dụng định mức trung bình này làm “thước đo cứng” để giám định. Cụ thể, nếu bệnh viện thực hiện ca chụp nhanh hơn 6 phút – điều rất bình thường với các dòng máy kỹ thuật số hiện đại – hệ thống sẽ cảnh báo sai quy trình và từ chối thanh toán. “Không có lý gì chụp X-quang 6 phút lại chỉ tính thời gian trên máy”, ông Khoa phản biện. Thực tế, quy trình một ca chụp không chỉ là vài giây máy phát tia, mà bao gồm toàn bộ chuỗi thao tác, từ lúc tiếp nhận bệnh nhân, chuẩn bị tư thế, thực hiện kỹ thuật, cho đến khi xử lý hình ảnh, đọc và trả kết quả. Lãnh đạo Cục Quản lý Khám chữa bệnh nhấn mạnh việc áp dụng quy tắc giám định này là không đúng bản chất chuyên môn. Thời gian thực hiện phụ thuộc vào tay nghề bác sĩ và độ khó của từng ca bệnh. Ca dễ chỉ một phút là xác định được, nhưng ca khó thì 15-20 phút mới xong một ca siêu âm, vì vậy “không thể cứng nhắc bắt buộc tất cả phải giống nhau”. Để tháo gỡ tình trạng “bác sĩ ngồi chờ đủ giờ”, Bộ Y tế đã họp với Hội Điện quang và Y học hạt nhân, đồng thời khảo sát thực tế toàn quốc. Cục Quản lý Khám chữa bệnh đang dự thảo văn bản gửi Bộ Tài chính và BHXH Việt Nam đề nghị xem xét lại quy tắc giám định này. Quan điểm của cơ quan chuyên môn là thời gian định mức chỉ nên dùng làm căn cứ tính giá (định mức kinh tế), không phải điều kiện thanh toán. Bộ Y tế đề xuất điều chỉnh theo hướng đưa ra khoảng thời gian trung bình với biên độ dao động nới rộng để phù hợp thực tiễn. Việc giám định cần tập trung vào tính hợp lý của chỉ định và hiệu quả điều trị thay vì bắt bẻ thời gian kỹ thuật. “Việc giám định cần tập trung vào chỉ định có đúng yêu cầu không, có lãng phí không, thay vì bắt bẻ về thời gian kỹ thuật”, ông Khoa nêu quan điểm. Cũng tại hội nghị, vấn đề nợ đọng thanh toán bảo hiểm y tế được nhiều đơn vị quan tâm. Ông Hoàng Trung Tuấn, Phó vụ trưởng Vụ Bảo hiểm Y tế, cho biết tổng số tiền vướng mắc chưa được thanh toán giữa cơ sở khám chữa bệnh và cơ quan bảo hiểm hiện lên tới gần 23.000 tỷ đồng. Trong đó, hơn 10.000 tỷ đồng là các khoản tồn đọng từ năm 2023 trở về trước đang được Bộ Y tế trình Chính phủ xử lý. Riêng năm 2024, số tiền vượt dự kiến chi vào khoảng hơn 8.000 tỷ đồng. Bộ Y tế đề nghị các địa phương gấp rút rà soát để giải quyết dứt điểm trong đợt này. https://vnexpress.net/chup-x-quang-chi-vai-giay-vi-sao-phai-du-6-phut-moi-duoc-thanh-toan-5013281.html

Cục Quản lý Khám chữa bệnh – Bộ Y tế hoả tốc đề nghị các cơ sở khám, chữa bệnh tăng cường thực hiện, kiểm tra, giám sát thực hiện kiểm soát nhiễm khuẩn tại các cơ sở khám, chữa bệnh, thực hiện cách ly nghiêm ngặt tất cả các trường hợp nghi ngờ hoặc xác định mắc virus Nipah tại cơ sở điều trị. Bệnh do virus Nipah là bệnh truyền nhiễm nhóm A, có tỉ lệ tử vong được ghi nhận dao động từ 40-75%, hiện chưa có vắc xin và thuốc điều trị đặc hiệu. Cục quản lý Khám chữa bệnh – Bộ Y tế tối 27/1 đã có văn bản hoả tốc gửi các Bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế; Y tế các Bộ, ngành; Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc chủ động phòng chống bệnh do virus Nipah. Bệnh do virus Nipah là bệnh truyền nhiễm nhóm A, có tỉ lệ tử vong được ghi nhận dao động từ 40-75%, hiện chưa có vắc xin và thuốc điều trị đặc hiệu. Theo Cục Quản lý Khám chữa bệnh, virus lây truyền chủ yếu từ động vật sang người, hoặc tiếp xúc với vật phẩm, thực phẩm bị nhiễm virus và cũng có thể lây truyền từ người sang người (qua tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết, dịch bài tiết của bệnh nhân); thời gian ủ bệnh trong khoảng 4-14 ngày, người nhiễm virus có thể có các triệu chứng: đau đầu, đau cơ, nôn mửa và đau họng, sau đó có thể xuất hiện chóng mặt, buồn ngủ, rối loạn ý thức và các dấu hiệu thần kinh cho thấy viêm não cấp tính. Theo hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm, từ ngày 27/12/2025 – 26/1/2026, Ấn Độ ghi nhận 5 trường hợp nghi ngờ mắc bệnh do virus Nipah, trong đó có 2 trường hợp được xét nghiệm khẳng định, tại một bệnh viện thuộc bang Tây Bengal. Trước nguy cơ bệnh do virus Nipah xâm nhập vào Việt Nam, thực hiện chỉ đạo của lãnh đạo Bộ Y tế, để chủ động phòng chống bệnh do virus Nipah, Cục Quản lý Khám, chữa bệnh đề nghị các cơ sở khám bệnh chữa bệnh trực thuộc Bộ Y tế, Y tế các Bộ, ngành và Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trực thuộc thực hiện các nội dung, cụ thể: Tăng cường công tác phòng, chống dịch bệnh, thực hiện các biện pháp phòng hộ cá nhân đối với nhân viên y tế và người tiếp xúc gần với các trường hợp nghi ngờ hoặc xác định mắc bệnh trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, đặc biệt lưu ý các trường hợp mới đến nước đã hoặc đang có dịch trong vòng 14 ngày. TIN LIÊN QUAN Tăng cường thực hiện, kiểm tra, giám sát thực hiện kiểm soát nhiễm khuẩn tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, thực hiện cách ly nghiêm ngặt tất cả các trường hợp nghi ngờ hoặc xác định mắc virus Nipah tại cơ sở điều trị. Thường xuyên theo dõi, cập nhật thông tin về tình hình dịch bệnh trên thế giới, truyền thông về tình hình dịch bệnh để người dân không hoang mang lo lắng và thực hiện tốt các biện pháp phòng bệnh. Phát hiện sớm các trường hợp nghi ngờ mắc bệnh để cách ly, chẩn đoán, điều trị và kiểm soát. Để chủ động, phòng chống dịch bệnh do virus Nipah, Bộ Y tế đã khuyến cáo người dân thực hiện tốt các biện pháp sau: 1. Hạn chế đến khu vực có dịch bệnh do virus Nipah nếu không thực sự cần thiết. 2. Tự theo dõi sức khỏe, trong vòng 14 ngày kể từ khi về từ vùng dịch, nếu có các triệu chứng như: đau đầu, đau cơ, nôn mửa và đau họng, chóng mặt, buồn ngủ, lú lẫn, co giật cần liên hệ ngay với cơ sở y tế gần nhất, hạn chế tiếp xúc với người khác, thông báo rõ tiền sử dịch tễ cho nhân viên y tế. 3. Đảm bảo vệ sinh thực phẩm: thực hiện “Ăn chín, uống sôi”, rửa sạch và gọt vỏ trái cây trước khi ăn, không ăn, uống các loại trái cây có dấu hiệu bị động vật (dơi, chim) cắn hoặc gặm nhấm; tránh uống nước nhựa cây (như nhựa cây thốt nốt, nhựa dừa sống hoặc chưa qua chế biến). 4. Không tiếp xúc gần với động vật có khả năng lây truyền cao như là dơi ăn quả; thường xuyên rửa tay bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn sau khi giết mổ, tiếp xúc với động vật. 5. Hạn chế tiếp xúc trực tiếp với người bệnh, vật phẩm ô nhiễm từ người bệnh; cần sử dụng khẩu trang, găng tay và đồ bảo hộ cá nhân khi chăm sóc, điều trị người nghi ngờ, mắc bệnh, sau đó rửa tay bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn. https://moh.gov.vn/thong-tin-chi-dao-dieu-hanh/-/asset_publisher/DOHhlnDN87WZ/content/bo-y-te-hoa-toc-nhac-cac-co-so-kham-chua-benh-chu-ong-phong-chong-benh-do-virus-nipah?inheritRedirect=false&redirect=https%3A%2F%2Fmoh.gov.vn%3A443%2Fthong-tin-chi-dao-dieu-hanh%3Fp_p_id%3D101_INSTANCE_DOHhlnDN87WZ%26p_p_lifecycle%3D0%26p_p_state%3Dnormal%26p_p_mode%3Dview%26p_p_col_id%3Drow-3-column-3%26p_p_col_count%3D2 Đọc thêm: [Infographic] – 5 điều cần lưu ý để phòng bệnh do virus Nipah Bộ Y tế: Việt Nam chưa ghi nhận trường hợp mắc bệnh do virus Nipah Chuyên gia khuyến cáo chủ động phòng tránh dịch bệnh do virus Nipah

Tên cơ sở hướng dẫn thực hành khám bệnh, chữa bệnh: Bệnh viện Bắc Thăng Long Địa chỉ: Tổ 18 xã Thư Lâm, TP Hà Nội Xem chi tiết tại đây

Ngày 24/01, Bệnh viện Bắc Thăng Long đã tổ chức chương trình khám sức khoẻ định kỳ cho cán bộ xã Thư Lâm, mục đích nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe ban đầu, phát hiện sớm và phòng ngừa các bệnh lý thường gặp. Việc khám sức khoẻ định kỳ cho cán bộ còn là cơ sở để đánh giá, phân loại sức khỏe cán bộ theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế. Nội dung khám bao gồm: khám lâm sàng tổng quát (Nội, Ngoại, Sản, Mắt, Tai mũi họng, Răng hàm mặt…); cận lâm sàng: xét nghiệm, siêu âm…; tư vấn sức khỏe, tư vấn dinh dưỡng, vận động. Hoạt động không chỉ góp phần chăm sóc sức khỏe thể chất mà còn nâng cao nhận thức về phòng bệnh, tự theo dõi và bảo vệ sức khỏe cho đội ngũ cán bộ xã. Dưới đây là một số hình ảnh hoạt động: Phòng CTXH

Xem chi tiết Thông báo 78 tại đây

Ngày 19/01/2026, Giám đốc bệnh viện Bắc Thăng Long đã ký Quyết định số 18/QĐ-BVBTL về việc công nhận kết quả tuyển dụng viên chức năm 2025 Kỳ thi tuyển dụng viên chức năm 2025 là một phần trong kế hoạch phát triển nhân lực giai đoạn mới của Bệnh viện Bắc Thăng Long, hướng tới mục tiêu xây dựng đội ngũ y tế chuyên nghiệp, tận tâm, vững chuyên môn, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của người dân. Công tác tổ chức thi tuyển được chuẩn bị chu đáo từ cơ sở vật chất, trang thiết bị đến quy trình coi thi và chấm thi. Hội đồng tuyển dụng đã huy động đội ngũ cán bộ có kinh nghiệm, phối hợp cùng các khoa/phòng chức năng để đảm bảo kỳ thi diễn ra nghiêm túc, đúng quy định, không để xảy ra sai sót. Sau 1 tuần làm việc khẩn trương, nghiêm túc, công tâm và trách nhiệm. Hội đồng tuyển dụng đã lựa chọn được những người có năng lực, chuyên môn, phẩm chất tốt và tinh thần trách nhiệm cao, sẵn sàng cống hiến lâu dài cho bệnh viện và sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân. Xem chi tiết Quyết định 18 tại đây

Thời gian qua, liên quan đến việc tổ chức, thực hiện và thanh toán các dịch vụ kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh trong khám bệnh, chữa bệnh BHYT, BHXH Việt Nam cung cấp một số thông tin nhằm làm rõ căn cứ pháp lý và nguyên tắc thực hiện công tác giám định, thanh toán trong khám chữa bệnh BHYT theo quy định hiện hành. Căn cứ pháp lý trong giám định, thanh toán dịch vụ kỹ thuật y tế Việc giám định và thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT được cơ quan BHXH thực hiện trên cơ sở tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh và pháp luật về BHYT. Luật Khám bệnh, chữa bệnh quy định nguyên tắc trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh là thực hiện kịp thời và tuân thủ quy định về chuyên môn kỹ thuật, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong việc thực hiện đúng các quy định chuyên môn kỹ thuật và các quy định pháp luật có liên quan. Ảnh minh họa. Khoản 2 Điều 35 Nghị định số 188/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm tuân thủ các hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế và các quy định pháp luật liên quan về mua sắm, đấu thầu, nhằm bảo đảm cung ứng thuốc, dịch vụ kỹ thuật y tế có chất lượng, hiệu quả và sử dụng quỹ BHYT tiết kiệm, đúng quy định. Thông tư số 35/2016/TT-BYT của Bộ Y tế quy định rõ, dịch vụ kỹ thuật y tế được quỹ BHYT thanh toán khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện, cụ thể như sau: – Được cấp có thẩm quyền phê duyệt thực hiện tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; – Được thực hiện theo quy trình chuyên môn kỹ thuật do cấp có thẩm quyền ban hành; – Được cấp có thẩm quyền phê duyệt giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh BHYT. Quy định về thời gian thực hiện quy trình kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh Quyết định số 2775/QĐ-BYT và Quyết định số 2776/QĐ-BYT ngày 29/8/2025 của Bộ Y tế ban hành hướng dẫn quy trình kỹ thuật trong lĩnh vực chẩn đoán hình ảnh và điện quang can thiệp, trong đó quy định thời gian thực hiện kỹ thuật được xây dựng trên cơ sở tính phổ biến, thường quy tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Theo các hướng dẫn này, thời gian thực hiện một quy trình kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh được tính từ khi người bệnh bắt đầu được thực hiện kỹ thuật đến khi có kết quả chẩn đoán, bao gồm các bước: thời gian chuẩn bị người bệnh, thời gian chụp, đọc phim, kết luận chẩn đoán. Ví dụ, thời gian tham chiếu đối với: – Chụp X-quang xương khớp hoặc chụp phổi, bụng thường quy: khoảng 6 – 12 phút; – Chụp X-quang dạ dày, đại tràng:khoảng 20 – 30 phút; – Siêu âm ổ bụng, tuyến giáp: khoảng 6 – 15 phút. Các mốc thời gian nêu trong hướng dẫn có ý nghĩa tham chiếu chuyên môn, phục vụ tổ chức thực hiện và xây dựng định mức kinh tế – kỹ thuật; trong thực tế triển khai, căn cứ diễn biến lâm sàng, tình trạng người bệnh và điều kiện thực tế của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, thời gian thực hiện kỹ thuật có thể được điều chỉnh tăng hoặc giảm theo hướng dẫn của Bộ Y tế. Giám định, thanh toán BHYT đảm bảo đúng quy định của pháp luật Cơ quan BHXH thực hiện giám định và thanh toán chi phí các dịch vụ kỹ thuật y tế trên cơ sở hồ sơ, quy trình chuyên môn và thực tế triển khai tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, bảo đảm đúng quy định của pháp luật. BHXH Việt Nam không ban hành thêm quy định ngoài các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, đồng thời không yêu cầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh kéo dài thời gian thực hiện kỹ thuật một cách hình thức. Việc hiểu hoặc áp dụng quy định theo hướng yêu cầu bác sĩ, kỹ thuật viên “chờ đủ thời gian” mới tiếp tục thực hiện ca kỹ thuật tiếp theo là chưa phù hợp với bản chất của hướng dẫn chuyên môn, có thể ảnh hưởng đến thời gian chờ đợi và quyền lợi của người bệnh BHYT. Để bảo đảm thống nhất trong nhận thức và tổ chức thực hiện, BHXH Việt Nam kiến nghị Bộ Y tế tiếp tục rà soát, hoàn thiện các hướng dẫn chuyên môn kỹ thuật, bảo đảm phù hợp với thực tiễn triển khai và sự phát triển của khoa học công nghệ y tế, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong quá trình thực hiện, qua đó bảo đảm đầy đủ quyền lợi của người tham gia BHYT./. https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/linh-vuc-bao-hiem-y-te.aspx?ItemID=26151&CateID=169

Bộ Y tế cho biết đang thí điểm mô hình mới theo hướng cho phép một người đăng ký bảo lãnh viện phí với ngân hàng cho cả gia đình, tạo điều kiện để cơ sở y tế thực hiện “chữa bệnh trước, thanh toán sau”. Thông tin được Bộ Y tế công bố tại Hội nghị triển khai công tác khám, chữa bệnh năm 2026, tổ chức ngày 02/02. Tại Hội nghị, Bộ Y tế chính thức vận hành Cổng bảo lãnh thanh toán viện phí. Bệnh viện Đa khoa Hà Đông (Hà Nội) là đơn vị đầu tiên trong 15 cơ sở y tế thí điểm hoàn tất kết nối và đưa vào sử dụng. Ngành y tế sẽ sớm triển khai tại Bệnh viện Đa khoa Nông nghiệp và mở rộng 13 bệnh viện còn lại trong thời gian tới. Các đại biểu bấm nút khai trương Cổng bảo lãnh thanh toán viện phí ngày 2/2. Phát biểu tại Hội nghị, Tiến sĩ Nguyễn Huy Lương, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh cho biết, những năm qua, ngành Y tế đã phát triển mạnh mẽ, đặc biệt trong ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số. Nhiều kỹ thuật y học hiện đại như mổ robot, xạ trị proton, can thiệp tim mạch… đang được triển khai tại Việt Nam. Tuy nhiên, một nghịch lý tồn tại, trong khi chuyên môn y tế không ngừng được nâng cao thì quy trình thu viện phí tại nhiều cơ sở khám chữa bệnh vẫn còn lạc hậu. Hiện nay, hầu hết các bệnh viện, từ công lập đến tư nhân, từ tuyến tỉnh đến tuyến trung ương, người bệnh vẫn phải tạm ứng viện phí trước khi điều trị. Điều này xảy ra ngay cả với người có thẻ BHYT, dù đã có nhiều chỉ đạo yêu cầu không thu tạm ứng và cắt giảm thủ tục hành chính trong khám chữa bệnh. Đối với bệnh nhân nội trú, một đợt điều trị thường kéo dài và phát sinh nhiều khoản chi phí. Người bệnh phải liên tục chờ đợi làm xét nghiệm, thực hiện kỹ thuật rồi tiếp tục chờ nộp thêm viện phí. Với những ca điều trị chi phí lớn như phẫu thuật, can thiệp tim mạch, đặt stent, số tiền có thể lên tới hàng trăm triệu đồng. “Không ít trường hợp dù có tiền trong tài khoản ngân hàng nhưng khi đang nằm viện, người bệnh không đủ điều kiện về sức khỏe hoặc thủ tục để tự thực hiện giao dịch thanh toán”, ông Nguyễn Huy Lương chia sẻ. Trước đó, Bộ Y tế đã ban hành Bộ tiêu chí chất lượng bệnh viện, trong đó quy định việc thu viện phí phải thuận tiện, công khai, minh bạch; người bệnh có thể được cấp tài khoản thanh toán ảo, nộp viện phí một lần khi ra viện, thậm chí được tín chấp bằng thẻ tín dụng. Tuy nhiên, trên thực tế, các quy định này vẫn chưa được triển khai rộng rãi. Từ thực tiễn trên, ông Nguyễn Huy Lương cho rằng, cổng bảo lãnh viện phí là giải pháp nhân văn và phù hợp. Mô hình này giúp người bệnh yên tâm nhập viện, không lo thiếu tiền điều trị, không phải tạm ứng hay hoàn ứng nhiều lần, đồng thời chủ động hơn về tài chính, kể cả với những ca bệnh có chi phí lớn. Một điểm đáng chú ý của mô hình bảo lãnh viện phí là tính linh hoạt và cộng đồng. Một người có thể bảo lãnh cho nhiều người khác; ngược lại, một bệnh nhân cũng có thể được nhiều người cùng bảo lãnh. Chỉ cần mỗi người bảo lãnh một khoản nhỏ, khi cộng lại có thể đủ để chi trả cho những ca điều trị tốn kém, qua đó chia sẻ rủi ro và hỗ trợ lẫn nhau trong cộng đồng. Tại Hà Nội, Bệnh viện Đa khoa Hà Đông đã thử nghiệm mô hình này. Ông Nguyễn Thành Vinh, Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Hà Đông cho biết, kết quả triển khai ban đầu có khoảng 70% bệnh nhân khám dịch vụ sử dụng bảo lãnh viện phí. Thời gian xử lý tại bộ phận tiếp đón và thu ngân giảm khoảng 30%, đặc biệt rút ngắn đáng kể thời gian tạm ứng và hoàn ứng. Việc áp dụng mô hình không ảnh hưởng đến quy trình hoạt động chung của bệnh viện. Tỷ lệ hài lòng của người bệnh và người nhà đạt 100% theo khảo sát thực tế. Đa số người bệnh đánh giá cao sự tiện lợi khi không phải xếp hàng chờ tạm ứng, nộp tiền nhiều lần. Người nhà bệnh nhân cảm thấy yên tâm hơn khi đã chủ động đăng ký bảo lãnh; người bệnh khi đi khám chỉ cần sử dụng bảo lãnh để làm thủ tục./. https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/linh-vuc-bao-hiem-y-te.aspx?ItemID=26154&CateID=169

Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Thông tư 59/2025/TT-BKHCN quy định về bảo đảm an toàn bức xạ và ứng phó sự cố bức xạ và hạt nhân, trong đó quy định về bảo đảm an toàn bức xạ trong y tế. Yêu cầu chung về bảo đảm an toàn đối với thiết bị bức xạ, thiết bị sử dụng trong y học hạt nhân Thông tư nêu rõ các yêu cầu chung về bảo đảm an toàn đối với thiết bị bức xạ, thiết bị sử dụng trong y học hạt nhân: Thiết bị bức xạ sử dụng cho chẩn đoán, điều trị bệnh và thiết bị được sử dụng trong y học hạt nhân phải có chứng chỉ chất lượng thể hiện việc đáp ứng các yêu cầu về bảo đảm an toàn theo tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. Trường hợp không có tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia thì áp dụng tiêu chuẩn quốc tế tương đương của Ủy ban Kỹ thuật điện quốc tế (IEC), Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO). Có tài liệu kèm theo thiết bị, bao gồm tài liệu về thông số kỹ thuật của thiết bị, hướng dẫn vận hành và bảo trì, hướng dẫn an toàn. Tài liệu hướng dẫn vận hành, hướng dẫn an toàn phải được dịch ra tiếng Việt. Chỉ dẫn vận hành, ký hiệu viết tắt và giá trị vận hành trên bảng điều khiển của thiết bị bức xạ phải bằng tiếng Việt hoặc bằng ngôn ngữ phù hợp với ngôn ngữ mà người vận hành máy sử dụng. Thiết bị bức xạ phải có cơ cấu kiểm soát chùm tia bức xạ, bảo đảm chỉ thị rõ ràng và tin cậy trạng thái chùm tia đang “ngắt” hay “mở”. Thiết bị bức xạ phải có cơ cấu để khu trú chùm tia cho mục đích kiểm soát chùm tia chỉ vào vùng cơ thể người bệnh cần chẩn đoán hoặc điều trị. Trường bức xạ phát ra trong vùng để chẩn đoán hay điều trị trên người bệnh phải đồng đều; mức độ không đồng đều của trường bức xạ phải được nhà cung cấp chỉ rõ trong tài liệu kỹ thuật của thiết bị. Yêu cầu an toàn đối với thiết bị X-quang chẩn đoán dùng trong y tế Theo Thông tư, thiết bị X-quang chẩn đoán dùng trong y tế ngoài việc thực hiện các yêu cầu chung về bảo đảm an toàn đối với thiết bị bức xạ, thiết bị sử dụng trong y học hạt nhân còn phải bảo đảm các yêu cầu sau: Mức bức xạ rò của đầu bóng phát tia X không vượt quá 1 mGy/giờ tại khoảng cách 1m từ vỏ đầu bóng phát tia X lấy trung bình trên diện tích không vượt quá 100 cm2 cho mọi chế độ làm việc của thiết bị được nhà sản xuất khuyến cáo; giá trị lọc cố định của hệ đầu bóng phát X-quang trong đơn vị milimét nhôm tương đương (mm Al) phải ghi rõ trên vỏ hộp chứa bóng. Có hệ kiểm tra kích thước chùm tia bằng nguồn sáng, trừ thiết bị X- quang chụp răng sử dụng phim đặt sau huyệt ổ răng và thiết bị X-quang chụp vú; các thông số điện áp phát (kV), dòng bóng phát (mA), thời gian phát tia (s) hoặc hàng số phát tia (mAs) phải được hiển thị trên tủ điều khiển khi đặt chế độ làm việc và khi chụp. Đối với thiết bị X-quang có chế độ chụp, việc phát tia phải được chấm dứt sau khi đạt được giá trị đặt trước như: thời gian hoặc giá trị mAs hoặc giá trị liều chiếu xạ. Đối với thiết bị X-quang có chế độ chiếu, chụp phải có bộ kiểm soát chế độ phát tia tự động (AEC) hoặc công tắc điều khiển phát tia dạng bấm và giữ, bảo đảm thiết bị chỉ phát tia nếu công tắc được bấm, giữ chặt và ngừng phát tia khi thả công tắc. Thiết bị X-quang di động phải có cáp nối đủ dài để bảo đảm khoảng cách giữa người vận hành thiết bị và bóng phát tối thiểu 2 mét. Đối với thiết bị bức xạ khác, khoảng cách này tối thiểu là 3m. Thiết bị X-quang tăng sáng truyền hình dùng trong can thiệp phải có các tấm che chắn cao su chì lắp tại bàn người bệnh để che chắn các tia bức xạ ảnh hưởng đến nhân viên và hệ che chắn treo trên trần để sử dụng cho mục đích bảo vệ mắt và tuyến giáp của nhân viên khi theo dõi người bệnh. Các tấm che chắn cao su chì phải bảo đảm có chiều dày che chắn không nhỏ hơn 0,5 milimét chì tương đương. Ngoài ra, Thông tư còn quy định các yêu cầu an toàn đối với thiết bị xạ trị; yêu cầu an toàn đối với nguồn phóng xạ kín và thuốc phóng xạ; yêu cầu an toàn đối với thiết bị đo bức xạ, thiết bị và dụng cụ bảo vệ an toàn bức xạ… Xem chi tiết Thông tư tại đây https://baochinhphu.vn/quy-dinh-bao-dam-an-toan-buc-xa-trong-y-te-102260122105314144.htm

Theo Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng, truyền thông chính sách cần được coi là quy trình bắt buộc trong xây dựng và thi hành pháp luật, thực hiện sớm, bài bản và đồng bộ, nhằm nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận xã hội và bảo đảm hiệu lực thực thi pháp luật. Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng chủ trì Phiên họp của Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật Trung ương – Ảnh: Báo Chính phủ Sáng 15.1, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng, Ủy viên Trung ương Đảng, chủ trì Phiên họp của Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật Trung ương đánh giá kết quả triển khai nhiệm vụ năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026. Phiên họp có sự tham dự của đại diện các bộ, cơ quan ngang bộ cùng các cơ quan báo chí chủ lực như Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam. Đổi mới mạnh mẽ phổ biến, giáo dục pháp luật trong giai đoạn mới Theo Bộ Tư pháp, năm 2025, Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật Trung ương và Bộ Tư pháp – Cơ quan thường trực của Hội đồng – đã chủ động ban hành theo thẩm quyền hoặc tham mưu trình Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Hội đồng ban hành 48 văn bản để triển khai các nhiệm vụ. Đồng thời, đôn đốc, chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương kịp thời tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) đối với các luật, nghị quyết được Quốc hội thông qua tại các kỳ họp thứ 8, 9, 10 và kỳ họp bất thường thứ 9. Trong năm 2025, cả nước đã tổ chức hơn 216.000 hoạt động PBGDPL trực tiếp, thu hút trên 23 triệu lượt người tham dự; tổ chức gần 5.000 cuộc thi tìm hiểu pháp luật với hơn 2 triệu lượt người tham gia. Nhiều bộ, ngành, địa phương triển khai tích cực như Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Tài chính và các tỉnh: Tuyên Quang, Đồng Nai, Tây Ninh, Vĩnh Long, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Thanh Hóa… Cơ quan Thường trực Hội đồng đã tổng hợp, phân loại hàng trăm mô hình PBGDPL hiệu quả, đồng thời chỉ đạo nhân rộng, đặc biệt là các mô hình ứng dụng công nghệ số. Trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, Bộ Tư pháp đã phối hợp các bộ, ngành nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung Nghị định số 55/2019/NĐ-CP; phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức hội thảo nhận diện các điểm nghẽn trong lĩnh vực đất đai; tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Đồng thời, Bộ Tư pháp đã trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình “Hỗ trợ pháp lý liên ngành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh giai đoạn 2026–2030”. Cơ quan Thường trực Hội đồng cũng đã tổ chức các đoàn công tác làm việc với các cơ quan báo chí, truyền thông chủ lực để nắm bắt tình hình triển khai công tác truyền thông chính sách, PBGDPL. Nhân rộng mô hình hiệu quả, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số Các cơ quan báo chí trung ương đã chủ động tham gia sâu vào truyền thông chính sách. Đài Truyền hình Việt Nam xây dựng chuyên mục “Tiêu điểm chính sách” về các chính sách có tác động lớn đến xã hội, được người dân và doanh nghiệp ghi nhận, đánh giá cao. Nhiều bộ, ngành, cơ quan trung ương như Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Y tế, Bộ Tư pháp cùng các cơ quan báo chí chủ lực đã lồng ghép các chuyên mục, chuyên trang, dòng sự kiện về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả truyền thông chính sách. Thứ trưởng Bộ Tư pháp khẳng định, năm 2025, Hội đồng các cấp đã triển khai nhiệm vụ kịp thời, đa dạng về hình thức, chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số. Kết quả hoạt động của Hội đồng góp phần nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành về vai trò của công tác PBGDPL, trợ giúp pháp lý; bảo đảm quyền được thông tin pháp luật của người dân và doanh nghiệp. Đại diện Bộ Công an cho biết, Bộ đã triển khai nhiều mô hình PBGDPL thiết thực như phối hợp tuyên truyền pháp luật cho phạm nhân tại các trại giam; tổ chức các cuộc thi viết, cấp phát hàng nghìn đầu sách pháp luật, tủ sách pháp luật. Đồng thời, đổi mới hình thức tuyên truyền pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa, gắn nội dung pháp luật với đời sống thực tiễn. Truyền thông chính sách phải đồng bộ, bài bản Phát biểu kết luận phiên họp, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ghi nhận và đánh giá cao những nỗ lực, kết quả đạt được của Hội đồng trong năm 2025, góp phần nâng cao hiệu quả công tác PBGDPL, trợ giúp pháp lý và hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Tuy nhiên, Phó Thủ tướng cũng chỉ rõ một số tồn tại, hạn chế như tiến độ thực hiện một số nhiệm vụ còn chậm, phối hợp liên ngành chưa chặt chẽ; truyền thông chính sách chưa thực sự hiệu quả, việc bố trí và sử dụng kinh phí còn vướng mắc. Nhấn mạnh nhiệm vụ năm 2026, Phó Thủ tướng

Chỉ trong chưa đầy 30 phút, ê-kíp Bệnh viện Từ Dũ và Nhi Đồng 1 (TP.HCM) đã can thiệp thông tim bào thai thành công, lập dấu mốc ca thực hiện nhanh nhất Việt Nam. Lúc 10h ngày 30/12, ê-kíp bác sĩ chuyên khoa Sản – Can thiệp bào thai – Tim mạch can thiệp của Bệnh viện Từ Dũ phối hợp cùng Bệnh viện Nhi đồng 1 đã thực hiện thành công ca can thiệp thông tim bào thai cho một thai nhi mắc tim bẩm sinh phức tạp. Với thời gian thực hiện dưới 30 phút, đây được xem là ca thông tim bào thai nhanh nhất từ trước đến nay tại Việt Nam, đánh dấu bước tiến nổi bật của y học bào thai trong nước. Thai nhi được chẩn đoán hẹp van động mạch phổi nặng kèm thiểu sản thất phải tiến triển, một dạng tim bẩm sinh phức tạp, có nguy cơ cao diễn tiến thành tim một thất sau sinh nếu không được can thiệp kịp thời. Thai phụ là chị N.T.T.T. (26 tuổi, ngụ TP.HCM), mang thai lần hai, thai kỳ tự nhiên. Chồng của thai phụ là người Malaysia, luôn đồng hành và phối hợp chặt chẽ cùng gia đình và đội ngũ y tế trong suốt quá trình theo dõi, hội chẩn và quyết định can thiệp. Theo hồ sơ theo dõi, ở tam cá nguyệt thứ nhất, các lần khám thai chưa ghi nhận bất thường. Xét nghiệm sàng lọc trước sinh NIPT cho kết quả nguy cơ thấp. Tuy nhiên, đến khoảng tuần thai 22-24, qua siêu âm tim thai chuyên sâu, các bác sĩ phát hiện bất thường tim bẩm sinh gồm hẹp van động mạch phổi nặng kèm hở van ba lá. Thai phụ sau đó được chuyển đến theo dõi và hội chẩn tại Bệnh viện Từ Dũ và Bệnh viện Nhi đồng 1. Kết quả chọc ối phân tích nhiễm sắc thể cho thấy thai nhi có bộ nhiễm sắc thể bình thường, tạo cơ sở quan trọng để các bác sĩ cân nhắc chỉ định can thiệp. Trong quá trình theo dõi tiếp theo, bệnh lý tim thai tiến triển nhanh, thất phải ngày càng thiểu sản cả về hình thái lẫn chức năng, làm gia tăng nguy cơ phải điều trị theo lộ trình tim một thất sau sinh. Sau nhiều buổi hội chẩn liên viện, các bác sĩ thống nhất chỉ định can thiệp thông tim bào thai, nhằm cải thiện dòng máu qua van động mạch phổi, tạo điều kiện cho thất phải tiếp tục phát triển trong tử cung. Mục tiêu là mở rộng cơ hội bảo tồn chiến lược tim hai thất hoặc 1,5 thất sau sinh, tránh cho trẻ phải đi theo lộ trình điều trị tim một thất phức tạp và kéo dài. Thực tế can thiệp gặp không ít thách thức. Tại thời điểm làm thủ thuật, thai nhi ở tư thế ngôi đầu, nghiêng trái, bánh nhau mặt trước, làm gia tăng mức độ khó. Đặc biệt, cánh tay thai nhi vắt ngang trước ngực, che khuất hoàn toàn đường vào buồng tim. Trước tình huống này, ê-kíp đã linh hoạt thực hiện một thủ thuật hỗ trợ nhỏ để di chuyển chi thai, nhanh chóng tạo điều kiện tiếp cận tim thai an toàn. Sau khi tối ưu tư thế, quá trình xuyên kim qua thành bụng mẹ – tử cung – lồng ngực thai nhi và bơm bóng nong van động mạch phổi được thực hiện thuận lợi. Ca can thiệp thành công ngay lần xuyên kim đầu tiên, giúp rút ngắn tối đa thời gian thủ thuật, hạn chế nguy cơ cho cả mẹ và thai nhi. Vợ chồng sản phụ hạnh phúc vì con ổn định sau phẫu thuật. Ảnh: Nguyễn Thuận. Trao đổi với báo chí sáng 31/12, bác sĩ chuyên khoa II Trần Ngọc Hải, Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ, cho biết ca can thiệp đã được chuẩn bị rất kỹ lưỡng với tổng cộng 5 ê-kíp, mỗi ê-kíp từ 3 đến 5 người, nâng tổng số nhân lực tham gia lên khoảng 20-25 người. “Trước đây, có những ca rất nặng phải làm kéo dài nhiều giờ, thậm chí phải can thiệp hai lần. Có trường hợp lần đầu mất 4 tiếng, lần thứ hai mất thêm 2 tiếng. Còn với ca này, chúng tôi thực hiện trong dưới 30 phút”, bác sĩ Hải chia sẻ. Theo lãnh đạo Bệnh viện Từ Dũ, Bộ Y tế xếp kỹ thuật thông tim bào thai vào danh mục phẫu thuật đặc biệt, đồng thời đánh giá đây là dấu mốc của một bước tiến rất lớn của y học Việt Nam. Bởi đây là kỹ thuật rất mới, rất hiếm và chỉ có rất ít trung tâm trên thế giới thực hiện được. Bác sĩ Hải thông tin mỗi ca can thiệp cần khoảng 50 thiết bị y tế, gần 25 nhân viên y tế, đồng thời phải chuẩn bị song song hai phòng can thiệp với đầy đủ hệ thống. Chi phí vì vậy cao hơn gần gấp đôi so với can thiệp tim mạch thông thường ở người lớn, nhưng vẫn nằm trong khung giá nhà nước quy định và được bảo hiểm y tế chi trả phần lớn. https://znews.vn/ca-thong-tim-xuyen-qua-bao-thai-nhanh-nhat-viet-nam-post1615623.html

Vỡ phế quản gốc hai bên – tổn thương cực hiếm với nguy cơ tử vong cao, đã được các bác sĩ Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức xử lý thành công trong một ca cấp cứu khẩn cấp, cứu sống cô gái 18 tuổi sau tai nạn giao thông nghiêm trọng. Ngày 08/4, em P.T.T.N (18 tuổi, trú tại Hưng Yên) được chuyển đến Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức trong tình trạng nguy kịch sau vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng giữa xe máy và ô tô. Nạn nhân bị bánh ô tô cán trực tiếp qua vùng ngực, gây chấn thương nặng. Trước đó, em đã được sơ cứu tại Bệnh viện Đa khoa Hưng Hà, được đặt ống nội khí quản, dẫn lưu màng phổi hai bên trước khi chuyển khẩn cấp lên tuyến trên. Tại thời điểm tiếp nhận, em N. đang được an thần và thở máy, mạch nhanh, toàn bộ vùng ngực xây xát nặng, tràn khí dưới da lan rộng vùng đầu, mặt, cổ và ngực. Dẫn lưu màng phổi hai bên liên tục có khí thoát ra cho thấy nghi ngờ có tổn thương nghiêm trọng đường thở trên bệnh nhân bị các chấn thương khác phối hợp. Đồng thời, bệnh nhân còn bị nghi ngờ chấn thương sọ não, hàm mặt biến dạng, gãy xương hàm dưới, chấn thương tạng trong ổ bụng. Ngay lập tức, các bác sĩ đã tiến hành cấp cứu thăm khám lâm sàng, cận lâm sàng và đặc biệt là nội soi khí phế quản cấp cứu. Kết quả cuối cùng về chấn thương ngực cho thấy người bệnh bị vỡ phế quản gốc hai bên. Đây là một tổn thương rất nghiêm trọng và hiếm gặp với tỷ lệ tử vong cực cao, đe dọa trực tiếp đến tính mạng do rối loạn hô hấp và huyết động nặng nề. Bệnh nhân còn bị kèm theo chấn thương sọ não, hàm mặt biến dạng, gãy xương hàm dưới, chấn thương gan và lách độ 2. PGS.TS Phạm Hữu Lư, Phó Trưởng khoa Ngoại Tim mạch – Lồng ngực, Trung tâm Tim mạch và Lồng ngực, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức cho biết, trước diễn biến nguy kịch, bệnh viện đã nhanh chóng hội chẩn và quyết định xử trí khẩn cấp. Người bệnh được chuyển sang phòng mổ chuyên khoa tim mạch – lồng ngực với đầy đủ thiết bị chuyên sâu. Ê-kíp phẫu thuật lồng ngực đã mở xương ức để bộc lộ phế quản gốc hai bên, đồng thời sử dụng kỹ thuật ECMO (tim phổi nhân tạo) để đảm bảo duy trì bão hoà oxy máu và huyết động trong suốt quá trình mổ và hỗ trợ phổi sau mổ. Nữ bệnh nhân hiện đã ổn định được PGS.TS Phạm Hoa Lư khám lại. Ảnh: Bệnh viện cung cấp Kỳ tích của y khoa Việt Nam Theo các chuyên gia, đây là ca vỡ phế quản gốc hai bên đầu tiên được ghi nhận tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức và Việt Nam đồng thời là một trong những trường hợp cực hiếm trong y văn, với tỷ lệ gặp chưa đến 1% trong các ca đa chấn thương nặng. Sau khi xử trí lập lại lưu thông đường thở hai bên, tình trạng bệnh nhân ổn định lại (bão hoà oxy máu động mạch 98 – 99%, huyết động ổn định) được chuyển về phòng hồi sức tích cực điều trị tiếp. Qua hai tuần điều trị tích cực, tình trạng bệnh nhân dần hồi phục trở lại, bệnh nhân tỉnh táo, được rút ống nội khí quản và chuyển về khoa Ngoại Tim mạch – Lồng ngực, Trung tâm Tim mạch và Lồng ngực, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức để tiếp tục theo dõi. Sau đó, người bệnh được điều trị phục hồi vùng hàm mặt (kết hợp xương hàm dưới bằng nẹp vít). Hiện tại, bệnh nhân đã được xuất viện với thể trạng ổn định. Khám lại sau 1 tháng xuất viện, người bệnh phục hồi gần như hoàn toàn với thể trạng vui tươi, tinh thần lạc quan, kết quả soi khí – phế quản sau sửa chữa thông tốt, không hẹp. Các cơ quan bộ phận khác phục hồi tốt trong niềm vui phấn khởi của gia đình và nhân viên y tế tham gia cấp cứu và điều trị cho cháu. https://daibieunhandan.vn/ky-tich-y-khoa-ca-vo-phe-quan-goc-hai-ben-dau-tien-duoc-cuu-song-tai-viet-nam-10375820.html

Khi đang làm nhiệm vụ trên tàu viễn dương, anh D là thủy thủ tàu viễn dương đã gặp tai nạn nghiêm trọng, ngón trỏ tay phải đứt rời… Bão số 12 đổ bộ khiến con tàu chao đảo mạnh vào thời điểm anh D đang sửa chữa thiết bị. Cú va đập bất ngờ khiến anh bị đứt rời ngón trỏ tay phải. Rất may, các thuyền viên trên tàu đã nhanh chóng sơ cứu và bảo quản phần chi thể đứt rời được đặt vào bình giữ nhiệt, đưa anh lên bờ và tiếp cận cơ sở y tế gần nhất tại miền Trung. Lúc này bão gió to, việc đưa anh D vào bờ thực sự rất khó khăn và cần sự hỗ trợ rất lớn của cơ quan tìm kiếm cứu hộ cứu nạn quốc gia. Trong tình huống khẩn cấp, sau khi được nhân viên y tế hỗ trợ xử trí cấp cứu, anh D mong muốn được nối lại phần chi thể đứt rời, vì vậy anh và gia đình quyết định đón chuyến bay sớm nhất từ Đà Nẵng ra Hà Nội ngay rạng sáng hôm sau đến Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. Tổng thời gian thiếu máu lên tới 25 giờ. Kíp mổ thực hiện vi phẫu nối lại ngón tay cho người bệnh với kính hiển vi. Ảnh: BVCC Hai kíp phẫu thuật song song quyết tâm ‘cứu’ ngón tay đứt rời của thủy thủ Tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, các chuyên gia đã đánh giá phần chi thể đứt rời và ghi nhận: phần chi thể đứt rời đã được sơ cứu – bảo quản đúng cách, khớp ngón tay còn mềm, cấu trúc mô được bảo toàn tốt. Bệnh viện lập tức hội chẩn đa chuyên khoa gồm phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ, gây mê hồi sức, chấn thương chỉnh hình để đưa ra chiến lược xử trí tối ưu và quyết định thực hiện vi phẫu nối lại ngón tay cho người bệnh. Tại phòng mổ, kíp phẫu thuật cấp cứu được triển khai với sự phối hợp đa chuyên khoa: vi phẫu tạo hình, gây mê hồi sức, chấn thương chỉnh hình… Hai kíp phẫu thuật được triển khai song song, một kíp làm sạch và chuẩn bị phần ngón đứt rời, kíp còn lại chuẩn bị phần mỏm cụt. Xương ngón được định vị và cố định bằng kim chuyên dụng để tạo trục vững, hệ thống gân và dây chằng được phục hồi. Đặc biệt là thần kinh và các mạch máu nhỏ li ti chỉ khoảng 0,8 – 1mm được phục hồi với độ chính xác cao dưới kính hiển vi phẫu thuật với dụng cụ đặc biệt nhằm đảm bảo phục hồi lưu thông tưới máu cho phần đứt rời. Đây là kỹ thuật đòi hỏi sự tinh vi ở mức cao nhất, bởi chỉ cần một mối nối mạch máu không thông, dòng máu không thể nuôi được đầu ngón và phần chi sẽ hoại tử. Với trường hợp thiếu máu kỷ lục kéo dài 25 giờ, từ lượng máu tưới đến nhiệt độ của ngón tay, kiểm soát nguy cơ co thắt mạch và giám sát tuần hoàn ngoại vi sau mổ để đảm bảo ngón tay được hồi sinh trọn vẹn. Trường hợp nối chi thể có nhiều điều đặc biệt… TS.BS Vũ Trung Trực – Phó Trưởng khoa Phẫu thuật Hàm mặt, Tạo hình và Thẩm mỹ, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, người trực tiếp thực hiện ca phẫu thuật, chia sẻ, đây là trường hợp cực kỳ đặc biệt. Trong những ca nối chi thể, thời gian thiếu máu kéo dài thường là rào cản rất lớn. Trước phẫu thuật, người bệnh và phần cơ thể đứt rời cần được đánh giá bởi đội ngũ các bác sĩ đa chuyên khoa nhiều kinh nghiệm. “Trường hợp này, nhờ bảo quản phần chi thể đứt rời đúng cách ngay từ hiện trường, khớp ngón tay không bị cứng nhờ được bảo quản ở nhiệt độ phù hợp. Một yếu tố nữa, cấu trúc ngón tay (bao gồm: xương, da, dây thần kinh, mạch máu) có khả năng chịu thiếu máu tốt hơn so với phần chi thể có nhiều cơ nên phần ngón tay bị thiếu máu 25 giờ nhưng vẫn có thể được nối lại. Đồng thời, đội ngũ y bác sĩ giàu kinh nghiệm và sự phối hợp tốt giữa các chuyên khoa cũng là thế mạnh của bệnh viện. Đây chính là những điểm quyết định lớn đến thành công của ca phẫu thuật”- TS.BS Vũ Trung Trực nói. Sau phẫu thuật, vết thương đã liền, ngón tay hồng, sống hoàn toàn, người bệnh đã có thể cắt chỉ và rút kim cố định. Người bệnh đang được tập phục hồi chức năng để lấy lại khả năng vận động và cảm giác của ngón tay. Tai nạn đứt rời ngón tay, bàn tay hay các phần cơ thể có thể xảy ra bất cứ lúc nào, từ lao động sản xuất, tai nạn sinh hoạt cho đến tai nạn trên biển như trường hợp của bệnh nhân D. TS.BS Vũ Trung Trực – Phó Trưởng khoa Phẫu thuật Hàm mặt, Tạo hình và Thẩm mỹ thăm khám sau phẫu thuật cho người bệnh. Ảnh:BVCC Vì vậy, chuyên gia khuyến cáo người dân cần trang bị kiến thức sơ cứu đúng cách, bởi đây là yếu tố quyết định khả năng cứu sống chi thể: Không rửa, không ngâm chi thể đứt rời vào bất kỳ dung dịch nào. Trong trường hợp phần đứt rời trong môi trường bẩn nhiều dị vật, có thể rửa dưới vòi nước sạch, tốt hơn là nước uống tinh khiết hoặc nước đun sôi để nguội. Bọc phần chi thể bằng gạc/khăn sạch, cho vào túi nylon và buộc kín (tránh tiếp xúc trực tiếp với đá lạnh). Đặt túi đựng chi thể vào một

Bệnh nhân suy tim ho ra cục máu đông có hình dạng như một cây phế quản nguyên vẹn, trở thành một trong những hình ảnh y học ấn tượng nhất thế kỷ 21. Năm 2018, Tạp chí Y học New England (The New England Journal of Medicine) đăng tải hình ảnh một cấu trúc kỳ lạ, có màu đỏ anh đào và hình dạng giống cành cây. Thoạt nhìn, nhiều người có thể lầm tưởng đó là một phần của hệ thống rễ cây hoặc một mảnh san hô. Tuy nhiên, đây là một cục máu đông hoàn chỉnh, dài 15,24 cm, có hình dạng gần như giống hệt cây phế quản phải của con người – một trong hai mạng lưới ống dẫn khí vào và ra khỏi phổi. Điều đáng kinh ngạc là nó được ho ra nguyên vẹn. Bệnh nhân là một người đàn ông 36 tuổi ở California. Hình ảnh cục máu đông vừa đẹp mắt vừa đáng sợ đến nay vẫn được các chuyên gia coi là một trong những hình ảnh y học ấn tượng nhất thế kỷ 21 cho đến nay. Nhiều người hoang mang, lo ngại rằng đó có thể là một lá phổi bị ho ra, nhưng điều này gần như không thể xảy ra. Ngay cả các bác sĩ điều trị cũng không thể giải thích chính xác cách cục máu đông này đi qua đường thở mà không bị vỡ. Tiến sĩ Georg Wieselthaler, bác sĩ phẫu thuật phổi và ghép tạng tại Đại học California, San Francisco (UCSF), cho biết bệnh nhân nhập viện trong tình trạng suy tim giai đoạn cuối. Anh được kết nối với một máy bơm hỗ trợ tâm thất để tối đa hóa lưu lượng máu, nhưng thiết bị này cũng làm tăng nguy cơ hình thành cục máu đông. “Dòng chảy rối bên trong máy bơm có thể dẫn đến hiện tượng này, vì vậy tất cả bệnh nhân sử dụng thiết bị đều phải dùng thuốc chống đông máu”, tiến sĩ Wieselthaler giải thích. Tuy nhiên, thuốc chống đông máu cũng mang đến rủi ro. Ở người khỏe mạnh, máu thiếu oxy rời khỏi tim, đi qua mạng lưới mao mạch phức tạp trong phổi để nhận oxy từ đường thở. Nếu các mạch này xuất hiện vết nứt nhỏ, cơ thể sẽ tự vá lại bằng cơ chế đông máu. Nhưng với bệnh nhân dùng thuốc chống đông, khả năng tự vá bị suy giảm, khiến các tổn thương có thể trở nên nghiêm trọng. Trong trường hợp này, máu từ mạng lưới mao mạch phổi của bệnh nhân đã tràn vào phổi phải, di chuyển đến cây phế quản. Sau nhiều ngày ho ra các cục máu đông nhỏ hơn, nam bệnh nhân đã ho mạnh và tống ra ngoài một cục máu đông lớn với hình dạng kỳ lạ. Khi tiến sĩ Wieselthaler cùng đồng nghiệp cẩn thận mở cục máu đông, họ phát hiện cấu trúc đường thở vẫn nguyên vẹn đến mức có thể xác định đó là cây phế quản phải chỉ bằng cách quan sát số lượng nhánh và cách sắp xếp của chúng. “Chúng tôi rất ngạc nhiên. Đây là một trường hợp cực kỳ hiếm gặp”, ông nói. Mặc dù hiếm, trường hợp này không phải chưa từng có tiền lệ. Một nghiên cứu năm 1926 trên Tạp chí Hiệp hội Y khoa Mỹ (The Journal of the American Medical Association) ghi nhận một phụ nữ 34 tuổi nhập viện vì nhiễm trùng đường hô hấp và ho ra “một mảnh màng lớn” – một lớp tế bào và chất nhầy tích tụ do nhiễm trùng – có hình dạng đúc của khí quản, hai phế quản và một số tiểu phế quản. Năm 2005, Tạp chí Phẫu thuật Tim-Lồng ngực châu Âu (European Journal of Cardio-Thoracic Surgery) công bố ảnh chụp một hình đúc cây phế quản nhỏ hơn, do một phụ nữ mang thai 25 tuổi bị rối loạn đông máu ho ra. Cô đã hồi phục và sinh con khỏe mạnh. Tuy nhiên, người phụ nữ bị nhiễm trùng đường hô hấp trong nghiên cứu năm 1926 đã không qua khỏi. Viêm phế quản nhựa, một bệnh lý chủ yếu ảnh hưởng đến trẻ em, thường đi kèm với rối loạn dòng bạch huyết và các bệnh tim, phổi khác. Bệnh này có thể khiến dịch bạch huyết tích tụ trong đường thở, dần trở nên cứng và bị ho ra nguyên vẹn. Đối với bệnh nhân hen suyễn, chất nhầy cũng có thể cứng lại trong đường thở do co thắt phế quản và mất nước, từ đó bị ho ra trong các cơn hen. Tuy nhiên, trong tất cả các trường hợp đã ghi nhận, chỉ có người phụ nữ mang thai năm 2005 ho ra một cục máu đông, lớn nhất từng được chụp ảnh – cho đến trường hợp của bệnh nhân tại UCSF. Máu đông ít chắc chắn và kém dính hơn bạch huyết hoặc chất nhầy cứng, vậy tại sao cục máu đông này không bị vỡ? Tiến sĩ Wieselthaler cho rằng fibrinogen, một protein huyết tương có vai trò như “keo dán” trong quá trình đông máu, có thể là yếu tố quyết định. Bệnh nhân không chỉ bị suy tim mà còn nhiễm trùng, điều này có thể khiến nồng độ fibrinogen trong máu cao hơn bình thường. Theo ông, sự gia tăng fibrinogen có thể đã khiến cục máu đông có độ đàn hồi bất thường, giúp nó không bị vỡ khi di chuyển qua đường thở. Gavitt Woodard, bác sĩ nội trú khoa phẫu thuật lồng ngực tại UCSF, người đã giúp tiến sĩ Wieselthaler chụp bức ảnh, cho rằng chính kích thước của cục máu đông đã giúp bệnh nhân ho ra được. “Có thể vì nó quá lớn, nên bệnh nhân đã tạo đủ lực từ toàn bộ bên phải lồng ngực để đẩy nó ra ngoài.

Sở Y tế Hà Nội vừa ban hành thông báo về danh sách các cơ sơ bán lẻ trực bán thuốc trong trong dịp tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 trên địa bàn. Thông báo nêu rõ có tổng số 234 cơ sơ bán lẻ thuốc trực bán thuốc trong trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 trong đó có 40 nhà thuốc trong bệnh viện trực thuộc Sở Y tế và 194 nhà thuốc tư nhân trên toàn thành phố. Theo đại diện Sở Y tế Hà Nội, danh sách các nhà thuốc mở trong dịp Tết Bính Ngọ được thông báo cụ thể trên địa bàn xã, phường bao gồm: tên nhà thuốc, dược sĩ phụ trách chuyên môn, địa chỉ, điện thoại, thời gian hoạt động của các nhà thuốc trực bán thuốc. Tết Bính Ngọ, Hà Nội có 234 điểm bán thuốc phục vụ xuyên Tết. Danh sách 40 nhà thuốc trong bệnh viện trực thuộc Sở Y tế Trước đó, ngày 15/1, Sở Y tế Hà Nội đã có văn bản số 470/SYT-NVD về việc đảm bảo cung ứng thuốc trong dịp tết nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, chỉ đạo việc tổ chức trực bán thuốc tại các nhà thuốc bệnh viện trực thuộc Sở Y tế, các cơ sở bán lẻ thuốc của các doanh nghiệp có hệ thống bán lẻ thuốc. https://moh.gov.vn/hoat-dong-cua-dia-phuong/-/asset_publisher/gHbla8vOQDuS/content/ha-noi-cong-bo-234-iem-ban-thuoc-phuc-vu-xuyen-tet-binh-ngo?inheritRedirect=false&redirect=https%3A%2F%2Fmoh.gov.vn%3A443%2Fhoat-dong-cua-dia-phuong%3Fp_p_id%3D101_INSTANCE_gHbla8vOQDuS%26p_p_lifecycle%3D0%26p_p_state%3Dnormal%26p_p_mode%3Dview%26p_p_col_id%3Drow-3-column-3%26p_p_col_pos%3D1%26p_p_col_count%3D2

Các bác sĩ Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu (Bệnh viện Bạch Mai) vừa ghi nhận một trường hợp bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn muộn được điều trị bằng thuốc TKIs thế hệ I từ năm 2017 đến nay với thời gian ổn định bệnh kéo dài tới 6 năm. Hình ảnh cắt lớp vi tính theo dõi trong quá trình điều trị, tổn thương xơ hóa tại vị trí u cũ (mũi tên xanh) và giãn khu trú các nhánh phế quản liền kề (mũi tên vàng). Hiệu quả của thuốc điều trị đích với ung thư phổi Bệnh nhân nữ, 72 tuổi, nhập viện tháng 6/2017 do đau ngực trái âm ỉ kéo dài, sụt cân khoảng 8kg trong vòng 6 tháng. Đáng chú ý, bệnh nhân không ho, không khó thở trong suốt thời gian này. Thời điểm nhập viện, bệnh nhân tỉnh táo, không sốt, huyết động ổn định. Thăm khám tim phổi chưa ghi nhận dấu hiệu bất thường rõ ràng. Các xét nghiệm công thức máu, sinh hóa máu trong giới hạn bình thường, chỉ điểm khối u CEA và Cyfra 21-1 không tăng. Điện tâm đồ và siêu âm tim không phát hiện dấu hiệu thiếu máu cơ tim. Kết quả chụp cắt lớp vi tính (CT) lồng ngực cho thấy khối u thùy trên phổi trái kích thước 20x15mm, bờ tua gai, xâm lấn rãnh liên thùy, kèm theo nhiều nốt mờ rải rác hai phổi, kích thước 5-10mm, phù hợp với tổn thương thứ phát, cùng hạch rốn phổi trái kích thước 10mm. Sinh thiết xuyên thành ngực tổn thương phổi trái cho kết quả mô bệnh học là ung thư biểu mô tuyến. Xét nghiệm đột biến gene phát hiện đột biến EGFR dạng xóa đoạn exon 19. Các thăm dò bổ sung bằng PET/CT và cộng hưởng từ não không phát hiện thêm tổn thương di căn ngoài phổi. Bệnh nhân được chẩn đoán ung thư phổi trái không tế bào nhỏ dạng biểu mô tuyến, giai đoạn T4N1M1 (di căn phổi), có đột biến EGFR. Sau hội chẩn chuyên môn, bệnh nhân được chỉ định điều trị bằng thuốc erlotinib liều 150mg/ngày đường uống. Sau 6 tháng điều trị, triệu chứng đau ngực giảm rõ rệt, bệnh nhân dung nạp thuốc tốt. Tác dụng phụ chủ yếu là ban da dạng chấm và mụn ở vùng đầu, vùng sinh dục – những biểu hiện thường gặp của thuốc và được đánh giá là dấu hiệu dự báo đáp ứng điều trị tốt. Kết quả chụp CT kiểm tra cho thấy khối u đáp ứng điều trị, chuyển thành tổn thương xơ hóa, giảm ngấm thuốc sau tiêm. Bệnh nhân tiếp tục được theo dõi và điều trị duy trì bằng erlotinib. Đến thời điểm đánh giá lại vào tháng 5/2023, sau 6 năm điều trị liên tục, bệnh nhân vẫn trong tình trạng ổn định: Không đau ngực, không khó thở, các chỉ điểm khối u CEA và Cyfra 21-1 duy trì trong giới hạn bình thường. Kết quả chụp CT ngực-bụng và cộng hưởng từ sọ não không ghi nhận thêm tổn thương mới. Tại vị trí u cũ, tổn thương xơ hóa gây co kéo rãnh liên thùy và giãn khu trú các nhánh phế quản lân cận, song không ảnh hưởng đến chức năng hô hấp và không gây triệu chứng lâm sàng. Theo các bác sĩ, đây là trường hợp đáp ứng kéo dài hiếm gặp với thuốc điều trị đích thế hệ I, cho thấy vai trò bền vững của nhóm thuốc này trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ có đột biến EGFR, ngay cả ở giai đoạn muộn. Các liệu pháp miễn dịch đang phát huy tác dụng trong điều trị các bệnh ung thư Tại Việt Nam, ung thư phổi phổ biến sau ung thư vú và ung thư gan, hàng năm phát hiện khoảng gần 25 nghìn ca mắc mới ung thư phổi, trong đó có khoảng hơn 22 ngàn ca tử vong mỗi năm. Ung thư phổi thường gặp ở người lớn tuổi từ 55 tuổi trở lên, độ tuổi trung bình mắc bệnh là 70 tuổi, tỷ lệ mắc bệnh và tử vong ở nam giới nhiều hơn nữ giới. Ung thư phổi đang để lại gánh nặng bệnh tật cho người bệnh và ngành y vì đại đa số các trường hợp ung thư phổi được phát hiện đã ở giai đoạn muộn. Nếu bệnh nhân được phát hiện sớm thì tỷ lệ sống thêm từ 5 năm trở lên lên tới hơn 90%. Tuy nhiên việc sàng lọc, phát hiện, chẩn đoán và điều trị còn không ít thách thức. Những năm gần đây, điều trị ung thư phổi giai đoạn muộn đã có nhiều bước tiến quan trọng với sự ra đời của các liệu pháp miễn dịch và điều trị đích nhắm vào các đột biến gene như EGFR, ALK, ROS1… Liệu pháp miễn dịch là phương pháp mới, ít tác dụng phụ, hiệu quả cao, kéo dài thời gian sống và nâng cao chất lượng sống cho người bệnh ung thư phổi không tế bào nhỏ, ung thư dạ dày…Liệu pháp miễn dịch giúp tăng cường hệ thống miễn dịch, giúp hệ thống miễn dịch truy vết, tiêu diệt các tế bào ung thư. Các thuốc điều trị đích ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong ung thư phổi ở cả giai đoạn sớm và giai đoạn muộn, góp phần kéo dài thời gian sống cũng như cải thiện đáng kể chất lượng cuộc sống cho người bệnh. Các thuốc ức chế tyrosine kinase (TKIs) thế hệ I, dù đã được đưa vào sử dụng từ năm 2005, đến nay vẫn giữ vai trò nhất định trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ. https://moh.gov.vn/hoat-dong-cua-dia-phuong/-/asset_publisher/gHbla8vOQDuS/content/thuoc-ieu-tri-ich-giup-benh-nhan-ung-thu-phoi-giai-oan-muon-on-inh-benh-suot-6-nam?inheritRedirect=false&redirect=https%3A%2F%2Fmoh.gov.vn%3A443%2Fhoat-dong-cua-dia-phuong%3Fp_p_id%3D101_INSTANCE_gHbla8vOQDuS%26p_p_lifecycle%3D0%26p_p_state%3Dnormal%26p_p_mode%3Dview%26p_p_col_id%3Drow-3-column-3%26p_p_col_pos%3D1%26p_p_col_count%3D2

Bác sĩ Trương Hữu Khanh, chuyên gia về bệnh truyền nhiễm, đánh giá virus Nipah lây qua tiếp xúc dịch tiết động vật hoặc người bệnh, không lây lan mạnh qua đường hô hấp nên khó bùng phát diện rộng. Bác sĩ Khanh, Phó Chủ tịch Hội Truyền nhiễm TP HCM, nguyên trưởng khoa Nhiễm – Thần kinh Bệnh viện Nhi đồng 1, đưa ra nhận định trên ngày 27/1, trước bối cảnh dư luận hoang mang về ổ dịch Nipah mới tại bang Tây Bengal (Ấn Độ). Tính từ cuối năm 2025 đến ngày 26/1, khu vực này phát hiện 5 trường hợp nghi ngờ, trong đó hai nhân viên y tế có kết quả dương tính. Dù giới chức y tế sở tại xác định đây là ổ dịch nhỏ, chưa lây lan rộng, thông tin vẫn gây xao động tâm lý người dân nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Trước lo ngại này, bác sĩ Khanh cho rằng việc đánh đồng mức độ nguy hiểm giữa Nipah và Covid-19 là khập khiễng. SARS-CoV-2 gây Covid-19 là chủng virus mới, lây lan cực nhanh qua giọt bắn hô hấp và liên tục đột biến. Trong khi đó, Nipah là dòng virus “cổ điển”, cơ chế xâm nhập hoàn toàn khác biệt. “Khả năng mầm bệnh Nipah lây trực tiếp từ người sang người qua không khí để tạo thành đại dịch gần như bằng không”, bác sĩ Khanh nói. Lý giải về chùm ca bệnh tại Ấn Độ, chuyên gia cho rằng nguồn lây xuất phát từ hoàn cảnh tiếp xúc đặc biệt. Kết quả điều tra dịch tễ sơ bộ trùng khớp với nhận định này khi nữ điều dưỡng nhiễm bệnh đầu tiên tại Bệnh viện Narayana Multispeciality từng uống mật chà là tươi nghi nhiễm dịch tiết của dơi. Người này sau đó lây cho đồng nghiệp qua tiếp xúc gần trong quá trình chăm sóc mà thiếu biện pháp bảo hộ chuẩn. Theo bác sĩ Khanh, vật chủ chính của virus là loài dơi ăn quả. Mầm bệnh tồn tại trong nước bọt, nước tiểu của loài này. Con người nhiễm bệnh chủ yếu do chạm trực tiếp vào dịch tiết hoặc ăn trái cây dơi cắn dở. Nếu không có tiếp xúc rất gần hoặc tiêu thụ thực phẩm nhiễm khuẩn, nguy cơ virus vượt biên giới bùng phát tại Việt Nam rất thấp. Các đợt dịch Nipah trong lịch sử đều khu trú ở phạm vi hẹp và tự chấm dứt khi cơ quan chức năng kiểm soát tốt nguồn lây động vật. Đồng quan điểm, PGS.TS Lê Quốc Hùng, Trưởng Khoa Bệnh Nhiệt đới, Bệnh viện Chợ Rẫy, đánh giá tính chất lây nhiễm của Nipah rất hạn chế, khác hoàn toàn các bệnh lý đường hô hấp cấp tính. Tuy nhiên, ông lưu ý Nipah vẫn là bệnh nguy hiểm đối với cá nhân mắc phải do tấn công trực tiếp vào não. Bệnh cảnh chính là viêm não với các triệu chứng sốt cao, đau đầu, co giật, diễn tiến nhanh tới hôn mê. Tỷ lệ tử vong của bệnh rất cao, có thể trên 50% do thế giới chưa tìm ra thuốc đặc trị hay vaccine phòng ngừa. Các biện pháp y tế hiện tại chỉ dừng lại ở điều trị triệu chứng và hồi sức tích cực. Sáng 27/1, trước diễn biến dịch tại nước bạn, Bộ Y tế yêu cầu các đơn vị kiểm dịch biên giới và y tế dự phòng tăng cường giám sát tại cửa khẩu và cộng đồng. Đến nay, Việt Nam chưa ghi nhận ca mắc Nipah nào. Thế giới phát hiện virus này lần đầu năm 1999 tại Malaysia và Singapore, khiến hơn 100 người tử vong, buộc tiêu hủy hàng triệu con lợn. Kể từ đó, dịch xuất hiện định kỳ tại Nam Á, chủ yếu ở Bangladesh và Ấn Độ. Để phòng bệnh, các chuyên gia khuyến cáo người dân thực hiện “ăn chín, uống sôi”. Đặc biệt, tuyệt đối không ăn các loại trái cây có dấu hiệu bị cắn dở, vết răng động vật hoặc trái cây rụng không rõ nguyên nhân. Khi du lịch đến các vùng có dịch, cần hạn chế tiếp xúc với động vật hoang dã, đặc biệt là dơi. https://vnexpress.net/bac-si-truong-huu-khanh-virus-nipah-kho-gay-dai-dich-nhu-covid-19-5010670.html

Viêm phổi là bệnh thường gặp và là một trong những nguyên nhân chính gây tử vong ở trẻ em. Trẻ càng nhỏ tỷ lệ tử vong do viêm phổi càng cao. Mùa đông, các bệnh cảm lạnh cũng gia tăng làm cho virus, vi khuẩn nhân cơ hội xâm nhập mũi họng và xuống phổi gây viêm phổi. Trẻ mắc viêm phổi có biểu hiện gì? Khi mắc viêm phổi, trẻ sẽ có các biểu hiện: Giai đoạn sớm: có thể chỉ có sốt nhẹ, ho húng hắng, chảy nước mắt và nước mũi, khò khè, ăn kém, bỏ bú, quấy khóc… Giai đoạn sau: trẻ không được điều trị đúng và theo dõi sát có thể diễn biến nặng hơn với biểu hiện sốt cao, ho tăng lên, có đờm, khó thở, thở nhanh, rút lõm lồng ngực, bỏ bú hoặc bú kém, tím môi, tím đầu chi … Trẻ mắc viêm phổi nặng có triệu chứng: trẻ ho hoặc khó thở và có ít nhất một trong các triệu chứng chính là: co rút lồng ngực, phập phồng cánh mũi; thở rên (ở trẻ dưới 2 tháng)… Trẻ mắc viêm phổi rất nặng sẽ có các biểu hiện: trẻ có ho hoặc khó thở cộng với ít nhất một trong các triệu chứng chính là: tím tái, co giật, lơ mơ hoặc hôn mê; không uống được hoặc bỏ bú hoặc nôn ra tất cả mọi thứ; suy hô hấp nặng với biểu hiện đầu gật gù theo nhịp thở và co kéo cơ hô hấp phụ. Ngoài ra, có thể có thêm một số triệu chứng khác gồm: thở nhanh, phập phồng cánh mũi, thở rên, co rút lồng ngực. Lưu ý: Để xác định trẻ có thở nhanh hay không bằng cách đếm nhịp thở của trẻ trong đủ 1 phút. Trẻ được coi là thở nhanh nếu: Trẻ < 2 tháng tuổi, nhịp thở > 60 lần/phút. Trẻ 2 – 11 tháng tuổi, nhịp thở > 50 lần/phút. Trẻ 12 – 60 tháng tuổi, nhịp thở > 40 lần/phút. Cha mẹ không tự ý cho con uống kháng sinh Khi trẻ mắc viêm phổi, cha mẹ cần cho trẻ đi khám và điều trị theo chỉ dẫn của bác sĩ. Cha mẹ tuyệt đối không tự ý mua thuốc kháng sinh, thuốc giảm ho điều trị cho con tại nhà. Thuốc kháng sinh sẽ không có tác dụng trong trường hợp trẻ bị viêm phổi do virus. Ho là phản xạ tốt để tống xuất chất đờm ra khỏi đường thở, làm thông thoáng đường thở nên không cho trẻ uống thuốc giảm ho khi chưa có chỉ định của bác sĩ. Cách phòng bệnh viêm phổi cho trẻ trong mùa lạnh Mùa đông các bệnh cảm lạnh cũng gia tăng làm cho virus, vi khuẩn nhân cơ hội xâm nhập mũi họng và xuống phổi gây viêm phổi. Muốn phòng bệnh viêm phổi cho trẻ em cần thực hiện các biện pháp như sau: Giữ ấm đường thở: Khi thời tiết trở lạnh, cha mẹ cần lưu ý giữ ấm cho trẻ bằng cách cho trẻ ăn mặc đủ ấm phù hợp với mức độ lạnh bên ngoài: mặc thêm áo ấm, nón len, mang thêm bao tay, tất, khăn, đeo khẩu trang khi ra đường, đội mũi kín tai, sử dụng nước ấm,… Bổ sung đủ dinh dưỡng cho trẻ: Trẻ em cần được ăn uống đầy đủ các chất dinh dưỡng để tăng cường miễn dịch, nhất là những trẻ còn trong độ tuổi bú mẹ. Với các trẻ biếng ăn, cha mẹ nhất thiết nên bổ sung từ các nguồn thực phẩm bổ sung, các công thức thuốc bổ tổng hợp và các chế phẩm thảo dược chuẩn hóa có tác dụng chống biếng ăn cho trẻ. Cho trẻ uống đủ nước, trẻ nhỏ cho bú nhiều lần trong ngày. Không hút thuốc, đun nấu trong phòng có trẻ nhỏ. Cách ly trẻ với người bị bệnh để tránh lây lan thành dịch. Nơi ở đủ ánh sáng, lưu thông không khí tốt. Thường xuyên lau nền nhà, tay nắm cửa và bề mặt các đồ vật trong nhà bằng các chất tẩy rửa thông thường, như xà phòng và các dung dịch khử khuẩn. Đưa trẻ đi tiêm phòng đầy đủ, đúng lịch các vắc-xin như bạch hầu – ho gà – uốn ván, Hemophilus influenzae typ B (Hib), phế cầu, cúm… Phát hiện sớm các biểu hiện sớm của bệnh viêm đường hô hấp nói chung như: ho, sốt, chảy nước mũi, khó thở… và các rối loạn khác như tiêu chảy, ăn kém, chậm tăng cân… để chăm sóc và điều trị kịp thời. Hàng ngày vệ sinh răng miệng cho trẻ sạch sẽ ngày 2 lần sáng khi ngủ dậy và buổi tối trước khi đi ngủ, sau mỗi bữa ăn cho uống nước súc miệng, tránh để khuẩn đọng lại bằng cách chải răng, lau răng miệng cho trẻ nhỏ.

THƯ MỜI CUNG CẤP BÁO GIÁ DỊCH VỤ CHO THUÊ PHẦN MỀM CHỮ KÝ SỐ PHỤC VỤ BỆNH ÁN ĐIỆNTỬ Chi tiết: xem tại đây!

CUNG CẤP PIPET (BAO GỒM THIẾT BỊ ĐÃ ĐƯỢC KIỂM ĐỊNH) Chi tiết: xem tại đây!

YÊU CẦU CUNG CẤP CẤU HÌNH, THÔNG SỐ KỸ THUẬT VÀ BÁO GIÁ HỆ THỐNG MÁY CHỤP CỘNG HƯỞNG TỪ ≥ 1,5 TESLA Chi tiết: xem tại đây!

DỊCH VỤ SỬA CHỮA NGUỒN SÁNG XENON CỦA HỆ THỐNG PHẪU THUẬT NỘI SOI TIẾT NIỆU KARLSTORT Chi tiết: xem tại đây!
Để đặt lịch khám vui lòng liên hệ hotline:
Thời gian làm việc:
T2-CN: 7h30 – 11h30 & 13h00 – 17h00
Tổ 18 - Xã Thư Lâm - Thành phố Hà Nội
(84) 889 615 815
Fax: (84-24).3883.2727
Email: bvbtl@hanoi.gov.vn
Coppyright ©2023. All Right Reserved.