BỆNH VIỆN BẮC THĂNG LONG
BAC THANG LONG HOSPITAL

(84) 889 615 815

Email: thugopy.bvbtl@gmail.com

Tin Tức

Tin Tức - Sự Kiện

Hạ đường huyết nguy hiểm ra sao với người cao tuổi?

Hạ đường huyết là tình trạng thường gặp ở người cao tuổi, đặc biệt ở những người mắc đái tháo đường. Do biểu hiện không điển hình và dễ bị bỏ qua, bệnh có thể dẫn đến nhiều biến chứng nghiêm trọng như tổn thương não, té ngã, rối loạn tim mạch, thậm chí đe dọa tính mạng nếu không được phát hiện và xử trí kịp thời. Hạ đường huyết là một rối loạn chuyển hóa thường gặp, đặc biệt ở người cao tuổi và người mắc đái tháo đường. Tình trạng này xảy ra khi mức đường huyết giảm xuống dưới 70 mg/dL (≈ 3,9 mmol/L), khiến cơ thể – đặc biệt là não bộ – không được cung cấp đủ năng lượng để hoạt động bình thường. Ở người trẻ, hạ đường huyết thường dễ nhận biết và xử trí nhanh chóng. Ngược lại, ở người cao tuổi, các biểu hiện thường âm thầm, không rõ ràng, làm tăng nguy cơ phát hiện muộn và xảy ra biến chứng. Lý do người cao tuổi dễ bị hạ đường huyết? Người cao tuổi có nguy cơ cao do nhiều yếu tố phối hợp: Suy giảm chức năng gan, thận: Làm giảm khả năng dự trữ và điều hòa glucose, cũng như ảnh hưởng đến chuyển hóa thuốc. Ăn uống thất thường: Biếng ăn, quên bữa khiến cơ thể thiếu hụt năng lượng. Tác dụng của thuốc: Insulin và nhóm sulfonylurea có thể gây tụt đường huyết nếu dùng không phù hợp. Bệnh nội tiết đi kèm: Như suy giáp, suy tuyến thượng thận (Addison). Phản xạ thần kinh kém nhạy: Làm các dấu hiệu cảnh báo sớm trở nên mờ nhạt. Hạ đường huyết nguy hiểm như thế nào? Không chỉ gây khó chịu thoáng qua, hạ đường huyết ở người cao tuổi có thể dẫn đến nhiều biến chứng nghiêm trọng: Tổn thương não, tăng nguy cơ sa sút trí tuệ Não bộ phụ thuộc chủ yếu vào glucose để hoạt động. Khi đường huyết giảm sâu và kéo dài, tế bào não có thể bị tổn thương, gây suy giảm trí nhớ, giảm khả năng nhận thức, thậm chí thúc đẩy sa sút trí tuệ. Nguy cơ té ngã và gãy xương Hạ đường huyết gây chóng mặt, mất thăng bằng, dễ dẫn đến té ngã. Với người cao tuổi, đặc biệt người bị loãng xương, hậu quả có thể là gãy xương, ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng vận động và chất lượng cuộc sống. Biến chứng tim mạch, nguy cơ đột tử Khi đường huyết giảm, cơ thể phản ứng bằng cách tăng nhịp tim và tiết hormone stress. Điều này có thể gây rối loạn nhịp tim, tụt huyết áp và trong trường hợp nặng có thể dẫn đến ngừng tim đột ngột. Dễ bị chẩn đoán nhầm Triệu chứng hạ đường huyết ở người cao tuổi đôi khi giống với các bệnh lý thần kinh như đột quỵ nhẹ hoặc sa sút trí tuệ, khiến việc cấp cứu bị chậm trễ, làm tăng nguy cơ biến chứng. Dấu hiệu nhận biết hạ đường huyết ở người cao tuổi Việc nhận biết sớm các dấu hiệu là yếu tố quan trọng giúp xử trí kịp thời. Tuy nhiên, triệu chứng ở người cao tuổi thường không điển hình. Triệu chứng ban đầu: Mệt mỏi, hoa mắt, chóng mặt Cảm giác đói cồn cào Vã mồ hôi Run tay, tim đập nhanh Cáu gắt, lo lắng không rõ nguyên nhân Triệu chứng nặng cần cấp cứu: Lú lẫn, mất định hướng Nói khó, nói lắp Giảm khả năng tập trung, hay quên đột ngột Yếu cơ, đi lại khó khăn Té ngã Co giật hoặc hôn mê Đáng lưu ý, một số người cao tuổi có thể không có dấu hiệu cảnh báo rõ ràng mà đột ngột ngất xỉu. Đây là tình huống nguy hiểm, cần được xử trí ngay. Cách phòng ngừa hạ đường huyết ở người cao tuổi Để giảm nguy cơ hạ đường huyết, người cao tuổi và gia đình cần thực hiện đồng bộ các biện pháp sau: Duy trì chế độ ăn uống hợp lý Ăn đúng bữa, không bỏ bữa Bổ sung đầy đủ tinh bột, đạm và chất xơ Chia nhỏ bữa ăn nếu cần để duy trì đường huyết ổn định Theo dõi đường huyết định kỳ Đối với người mắc đái tháo đường, việc kiểm tra đường huyết thường xuyên giúp phát hiện sớm bất thường và điều chỉnh điều trị kịp thời. Sử dụng thuốc đúng hướng dẫn Không tự ý thay đổi liều insulin hoặc thuốc hạ đường huyết Tuân thủ chỉ định của bác sĩ Thông báo ngay khi có dấu hiệu bất thường Người cao tuổi nên mang theo kẹo, bánh quy hoặc nước ngọt để sử dụng khi xuất hiện dấu hiệu hạ đường huyết. Hạn chế rượu bia Rượu có thể gây hạ đường huyết kéo dài, đặc biệt khi uống lúc đói, vì vậy cần hạn chế hoặc tránh sử dụng. Tập luyện thể dục hợp lý Vận động giúp cải thiện sức khỏe tổng thể, nhưng cần tránh tập luyện quá sức hoặc khi bụng đói để không làm giảm đường huyết đột ngột. Sự hỗ trợ từ gia đình Người cao tuổi có thể không tự nhận biết hoặc xử trí khi bị hạ đường huyết, do đó người thân cần quan sát, nhắc nhở và hỗ trợ kịp thời. Tóm lại, hạ đường huyết ở người cao tuổi là tình trạng không thể xem nhẹ. Nếu không được phát hiện và xử trí kịp thời, bệnh có thể dẫn đến tổn thương não, té ngã, biến chứng tim mạch, thậm chí tử vong. Việc nâng cao nhận thức, theo dõi sức khỏe định kỳ, duy trì chế độ ăn uống hợp lý và tuân thủ điều trị là những yếu tố then chốt giúp phòng ngừa hiệu quả.

Quốc hội chốt danh sách 34 tỉnh thành mới của Việt Nam

Sáng 12/6, với tuyệt đại đa số đại biểu Quốc hội bấm nút tán thành, Quốc hội chính thức thông qua Nghị quyết về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025. Với việc Quốc hội thông qua Nghị quyết về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025, từ hôm nay cả nước còn 34 tỉnh, thành phố thay vì 63 như trước đây. Cụ thể, có 461/465 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết bấm nút tán thành (tương đương 96,44% tổng số đại biểu). Nghị quyết được thông qua với tỷ lệ đồng thuận gần như tuyệt đối. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày được thông qua.  Kể từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành, cả nước có 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 28 tỉnh và 6 thành phố. Có 19 tỉnh, 4 thành phố mới hình thành sau sắp xếp và 11 tỉnh, thành phố giữ nguyên là: Cao Bằng, Điện Biên, Hà Tĩnh, Lai Châu, Lạng Sơn, Nghệ An, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Sơn La và thành phố Hà Nội, thành phố Huế. Theo đó, Quốc hội thống nhất sắp xếp lại 52 trên tổng số 63 tỉnh thành cả nước như sau: 1. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Hà Giang và tỉnh Tuyên Quang thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Tuyên Quang. Sau khi sắp xếp, tỉnh Tuyên Quang có diện tích tự nhiên là 13.795,50km2, quy mô dân số là 1.865.270 người. Tỉnh Tuyên Quang giáp các tỉnh Cao Bằng, Lào Cai, Phú Thọ, Thái Nguyên và nước Trung Quốc. 2. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Yên Bái và tỉnh Lào Cai thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Lào Cai. Sau khi sắp xếp, tỉnh Lào Cai có diện tích tự nhiên là 13.256,92km2, quy mô dân số là 1.778.785 người. Tỉnh Lào Cai giáp các tỉnh Lai Châu, Phú Thọ, Sơn La, Tuyên Quang và nước Trung Quốc. 3. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Bắc Kạn và tỉnh Thái Nguyên thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Thái Nguyên. Sau khi sắp xếp, tỉnh Thái Nguyên có diện tích tự nhiên là 8.375,21km2, quy mô dân số là 1.799.489 người. Tỉnh Thái Nguyên giáp các tỉnh Bắc Ninh, Cao Bằng, Lạng Sơn, Phú Thọ, Tuyên Quang và thành phố Hà Nội. 4. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Vĩnh Phúc, tỉnh Hòa Bình và tỉnh Phú Thọ thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Phú Thọ. Sau khi sắp xếp, tỉnh Phú Thọ có diện tích tự nhiên là 9.361,38km², quy mô dân số là 4.022.638 người. Tỉnh Phú Thọ giáp các tỉnh Lào Cai, Ninh Bình, Sơn La, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Tuyên Quang và thành phố Hà Nội. 5. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Bắc Giang và tỉnh Bắc Ninh thành tỉnh mới có tên gọi là Bắc Ninh. Sau khi sắp xếp, tỉnh Bắc Ninh có diện tích tự nhiên là 4.718,6km2, quy mô dân số là 3.619.433 người. Tỉnh Bắc Ninh giáp các tỉnh Hưng Yên, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Thái Nguyên, thành phố Hải Phòng và thành phố Hà Nội. 6. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Thái Bình và tỉnh Hưng Yên thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Hưng Yên. Sau khi sắp xếp, tỉnh Hưng Yên có diện tích tự nhiên là 2.514,81km2, quy mô dân số là 3.567.943 người. Tỉnh Hưng Yên giáp tỉnh Bắc Ninh, tỉnh Ninh Bình, thành phố Hà Nội, thành phố Hải Phòng và Biển Đông. 7. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của thành phố Hải Phòng và tỉnh Hải Dương thành thành phố mới có tên gọi là thành phố Hải Phòng. Sau khi sắp xếp, thành phố Hải Phòng có diện tích tự nhiên là 3.194,72km2, quy mô dân số là 4.664.124 người. Thành phố Hải Phòng giáp các tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên, Quảng Ninh và Biển Đông. 8. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Hà Nam, tỉnh Nam Định và tỉnh Ninh Bình thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Ninh Bình. Sau khi sắp xếp, tỉnh Ninh Bình có diện tích tự nhiên là 3.942,62km2, quy mô dân số là 4.412.264 người. Tỉnh Ninh Bình giáp các tỉnh Hưng Yên, Phú Thọ, Thanh Hóa, thành phố Hà Nội và Biển Đông. 9. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Quảng Bình và tỉnh Quảng Trị thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Quảng Trị. Sau khi sắp xếp, tỉnh Quảng Trị có diện tích tự nhiên là 12.700km2, quy mô dân số là 1.870.845 người. Tỉnh Quảng Trị giáp tỉnh Hà Tĩnh, thành phố Huế, nước Lào và Biển Đông. 10. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam thành thành phố mới có tên gọi là thành phố Đà Nẵng. Sau khi sắp xếp, thành phố Đà Nẵng có diện tích tự nhiên là 11.859,59km2, quy mô dân số là 3.065.628 người. Thành phố Đà Nẵng giáp tỉnh Quảng Ngãi, thành phố Huế, nước Lào và Biển Đông. 11. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Kon Tum và tỉnh Quảng Ngãi thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Quảng Ngãi. Sau khi sắp xếp, tỉnh Quảng Ngãi có diện tích tự nhiên là 14.832,55km2, quy mô dân số là 2.161.755 người. Tỉnh Quảng Ngãi giáp tỉnh Gia Lai, thành phố Đà Nẵng,

Những quy định mới của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 liên quan đến người sử dụng lao động

Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) năm 2024 đã được Quốc hội thông qua và sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 01/7/2025. So với Luật BHXH năm 2014, luật mới có nhiều điểm sửa đổi, bổ sung quan trọng, trong đó đáng chú ý là những quy định liên quan trực tiếp đến quyền và trách nhiệm của người sử dụng lao động. Bổ sung quyền của người sử dụng lao động Luật BHXH năm 2024 đã luật hóa một số quyền của người sử dụng lao động vốn đang được quy định tại các văn bản dưới luật. Cụ thể, theo Điều 12 người sử dụng lao động được: Tạm dừng đóng BHXH bắt buộc theo quy định của pháp luật trong những trường hợp nhất định; Được cơ quan BHXH hướng dẫn về trình tự, thủ tục thực hiện các chế độ BHXH; Được tiếp cận thông tin, tài liệu tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về BHXH để nâng cao nhận thức và thực hiện đúng quy định. Việc luật hóa những quyền này góp phần đảm bảo tính minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp trong quá trình thực hiện chính sách BHXH. Bổ sung trách nhiệm của người sử dụng lao động Bên cạnh những quyền lợi được mở rộng, Luật BHXH năm 2024 cũng quy định rõ hơn trách nhiệm của người sử dụng lao động, nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động. Theo Điều 13 người sử dụng lao động có trách nhiệm: Bồi thường cho người lao động theo quy định của pháp luật nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm đóng BHXH bắt buộc theo quy định của Luật này mà gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động; Phối hợp, tạo điều kiện để cơ quan BHXH thực hiện thu hồi số tiền BHXH hưởng không đúng quy định của người lao động khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Những quy định mới này thể hiện rõ tinh thần thượng tôn pháp luật, đồng thời tăng cường tính ràng buộc trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc bảo đảm quyền lợi BHXH cho người lao động./. https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/linh-vuc-bao-hiem-xa-hoi.aspx?ItemID=24940&CateID=168

Triển khai hồ sơ bệnh án điện tử tại các bệnh viện chậm nhất vào ngày 30/9/2025

Ngày 6/6/2025, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư 13/2025/TT-BYT hướng dẫn việc triển khai hồ sơ bệnh án điện tử trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Triển khai hồ sơ bệnh án điện tử tại các bệnh viện chậm nhất vào ngày 30/9/2025 (Ảnh minh họa – nguồn internet) Theo khoản 2 Điều 4 Thông tư 13/2025/TT-BYT, lộ trình triển khai hồ sơ bệnh án điện tử được quy định như sau: – Đối với các bệnh viện: Phải hoàn thành việc triển khai hồ sơ bệnh án điện tử chậm nhất vào ngày 30/9/2025. – Đối với các cơ sở khám chữa bệnh khác (có người bệnh điều trị nội trú, điều trị ban ngày, điều trị ngoại trú): Hoàn thành triển khai chậm nhất vào ngày 31/12/2026. Tại Điều 5 Thông tư 13, quy định cụ thể về việc chuyển tiếp như sau: – Trường hợp người bệnh đang điều trị trước ngày Thông tư có hiệu lực (21/7/2025) và ra viện hoặc kết thúc điều trị ngoại trú sau thời điểm đó thì vẫn tiếp tục sử dụng hồ sơ bệnh án giấy đã được lập trước đó, trừ khi cơ sở y tế có thể chuyển đổi sang hồ sơ bệnh án điện tử. – Đối với hồ sơ bệnh án giấy lập trước ngày Thông tư có hiệu lực: Việc chuyển đổi giữa văn bản giấy và thông điệp dữ liệu sẽ do Thủ trưởng cơ sở y tế quyết định căn cứ điều kiện thực tế, đảm bảo tuân thủ Nghị định 137/2024/NĐ-CP của Chính phủ về giao dịch điện tử trong cơ quan nhà nước./. Bệnh án điện tử EMR là như thế nào: xem link tại đây https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/linh-vuc-bao-hiem-y-te.aspx?ItemID=24947&CateID=169

Quy định về phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên

Mới đây, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Quy định số 285-QĐ/TW ngày 22/4/2025 về phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên.   Thay mặt Ban Bí thư Trung ương Đảng, đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư đã ký ban hành Quy định số 285-QĐ/TW về phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên. (Nguồn ảnh: TTXVN) Theo đó, Quy định số 285-QĐ/TW quy định về nguyên tắc, phương pháp, cách thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng và người có thẩm quyền trong phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên; áp dụng đối với cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, tổ chức, cán bộ, đảng viên và tổ chức, cá nhân có liên quan. Quy định này cũng nêu rõ 08 giải pháp phòng ngừa vi phạm; 07 giải pháp phát hiện vi phạm và 06 giải pháp ngăn chặn vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên. Cụ thể: 08 giải pháp phòng ngừa vi phạm Trước tiên, cần xây dựng, hoàn thiện hệ thống quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước bảo đảm thống nhất, đồng bộ, chặt chẽ, khả thi và cơ chế thi hành nghiêm minh; tổ chức, bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống; học tập, nghiên cứu, quán triệt, tuyên truyền, phổ biến kịp thời chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Công khai, minh bạch thông tin về tổ chức, hoạt động, quy chế làm việc, quy định, quy trình, quy tắc ứng xử, chuẩn mực đạo đức, công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan. Thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, chất vấn trong Đảng, quy định về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; kê khai, công khai tài sản, thu nhập của cán bộ, đảng viên. Hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản, thu nhập; quy định, quy trình, hướng dẫn về xác minh tài sản, thu nhập của cán bộ, đảng viên. Điều động, luân chuyển, chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, đảng viên theo quy định. Cung cấp thông tin định kỳ hoặc đột xuất cho báo chí, truyền thông về kết quả kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Phối hợp chặt chẽ giữa Ủy ban kiểm tra với các tổ chức đảng có liên quan trong xây dựng chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ trong công tác lãnh đạo, quản lý; xây dựng và hoàn thiện các nền tảng ứng dụng trực tuyến trong khai thác dữ liệu phục vụ nhiệm vụ, dịch vụ công. Công khai các kênh thông tin tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, tố giác, phản ánh, kiến nghị về hoạt động công vụ. Hoàn thiện phương pháp đánh giá, chấm điểm năng lực, tinh thần trách nhiệm, hiệu quả công việc của tổ chức đảng, đảng viên. Kịp thời bảo vệ, biểu dương, khen thưởng tổ chức đảng, đảng viên dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. 07 biện pháp phát hiện vi phạm Việc phát hiện vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên thông qua thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình trong tổ chức và hoạt động của tổ chức đảng, trong công tác quản lý đảng viên; kiểm điểm và đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên hằng năm; thông tin, dữ liệu và hoạt động kiểm soát, kê khai, công khai, xác minh tài sản, thu nhập; báo cáo, kiến nghị của tổ chức đảng, cơ quan, tổ chức, cá nhân. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao, phân công của tổ chức đảng, đảng viên; thực hiện trách nhiệm nêu gương, tự giác nhận khuyết điểm, vi phạm trong sinh hoạt cấp ủy, chi bộ. Công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án của các cơ quan chức năng; giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội. Nội dung chất vấn tại kỳ họp của cấp ủy, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân; ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân qua hoạt động tiếp xúc, đối thoại của cấp ủy, chính quyền. Giải quyết khiếu nại, tố cáo, tố giác, kiến nghị của tổ chức, cá nhân; thông tin phản ánh của báo chí, các phương tiện thông tin đại chúng. Công tác phối hợp, cung cấp, trao đổi thông tin, hồ sơ, tài liệu giữa các cơ quan chức năng. Các nguồn tài liệu, thông tin, hoạt động khác theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước. 06 biện pháp ngăn chặn vi phạm Quy định số 285-QĐ/TW của Ban Bí thư nêu rõ, cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra các cấp chủ động theo dõi, dự báo, nắm chắc tình hình; xác minh ngay dấu hiệu vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên để có biện pháp

Bệnh viện Bắc Thăng Long: tặng quà các em nhỏ dịp Tết thiếu nhi

Tặng quà là hoạt động được tổ chức hàng năm tại Bệnh viện Bắc Thăng Long vào dịp Tết thiếu nhi (1/6) dành cho các bé đang khám và điều trị tại Bệnh viện. Chương trình có sự phối hợp của Phòng Công tác xã hội, Công đoàn, Đoàn Thanh niên Bệnh viện và các nhà tài trợ, nhà hảo tâm trên mọi miền đất nước. Thay mặt Ban giám đốc bệnh viện, ThS.Bác sĩ Phùng Văn Dũng – Phó Giám đốc Bệnh viện gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Ban lãnh đạo Cty cổ phần sữa Hà Nội, các nhà tài trợ, nhà hảo tâm đã dành nhiều công sức, tâm huyết cùng với Bệnh viện tổ chức các hoạt động thiện nguyện suốt nhiều năm qua. ThS.Bác sĩ Phùng Văn Dũng cho biết: hàng năm vào những dịp như Ngày Quốc tế thiếu nhi, Tết trung thu, dịp cuối năm,…Bệnh viện đều tổ chức các hoạt động tặng quà cho các bé, với mong muốn động viên, chia sẻ, mang đến niềm vui, hạnh phúc giúp các bé chiến thắng bệnh tật, trở về bên gia đình và hoà nhập cộng đồng. Cử nhân Lê Thu Phong – Trưởng phòng CTXH chia sẻ: Hy vọng rằng, thông qua hoạt động các bệnh nhi thực sự có nhiều niềm vui trong Ngày Quốc tế thiếu nhi, từ đó có thêm nghị lực tiếp tục chiến đấu với bệnh tật và chắc chắn trên hành trình nhiều gian khó của các bé sẽ không bao giờ cô đơn vì luôn có y – bác sĩ của bệnh viện, các nhân viên Công tác xã hội và rất nhiều mạnh thường quân luôn sẵn sàng đồng hành mang đến hy vọng, niềm tin yêu cho các bé. Phòng CTXH

Chuyển đổi số trong lĩnh vực BHYT: Tạo thuận lợi tối đa cho người tham gia BHYT

Từ ngày 1/6/2025, BHXH Việt Nam chính thức ngừng cấp thẻ BHYT giấy cho người tham gia BHYT. Thay vào đó, người dân sẽ sử dụng các phương thức điện tử, hiện đại để thay thế thẻ BHYT giấy như ứng dụng VssID – BHXH số, ứng dụng VNeID, hoặc thẻ Căn cước công dân (CCCD) có gắn chíp khi đi khám, chữa bệnh (KCB) BHYT. Đây là một bước tiến quan trọng nhằm giảm các thủ tục hành chính và thúc đẩy chuyển đổi số trong công tác triển khai chính sách BHYT của Đảng, Nhà nước. Theo đó, nắm bắt xu thế chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu, bám sát định hướng, chiến lược chuyển đổi số Quốc gia, cũng như sự chỉ đạo quyết liệt của Đảng, Nhà nước trong kỷ nguyên mới, những năm qua, BHXH Việt Nam đã quyết tâm đầu tư xây dựng hệ thống công nghệ thông tin (CNTT) theo định hướng Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số; tích hợp, tập trung cấp quốc gia, hiện đại đạt tiêu chuẩn quốc tế; với quy trình nghiệp vụ tự động hóa mức độ cao, được vận hành bởi nguồn nhân lực CNTT chất lượng cao; đáp ứng yêu cầu đảm bảo an sinh xã hội quốc gia, phục vụ người dân và doanh nghiệp ngày càng toàn diện hơn. Tính đến đầu năm 2025, cả nước có 95,52 triệu người tham gia BHYT, đạt tỷ lệ 94,2% dân số tham gia BHYT. Với số lượng người tham gia đã đạt độ bao phủ toàn dân, có thể thấy công tác chuyển đổi số trong lĩnh vực BHYT sẽ không chỉ giúp giảm thủ tục hành chính mà còn nâng cao hiệu quả quản lý và tiết kiệm chi phí tổ chức thực hiện KCB BHYT cho các cơ sở KCB BHYT cũng như cho toàn bộ hệ thống BHXH. Ảnh minh họa: Internet Hiện, BHXH Việt Nam đã kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa Cơ sở dữ liệu (CSDL) quốc gia về dân cư với CSDL quốc gia về bảo hiểm, xác thực hơn 100,2 triệu thông tin công dân trong CSDL do BHXH Việt Nam quản lý, trong đó có khoảng 90,9 triệu người đang tham gia, thụ hưởng BHXH, BHYT, BHTN, chiếm 99,2% tổng số người tham gia (không bao gồm lực lượng vũ trang, thân nhân quân đội) với CSDL quốc gia về dân cư. Theo đó, 100% cơ sở KCB BHYT đã triển khai KCB BHYT bằng CCCD gắn chíp với trên 214 triệu lượt tra cứu thành công thông tin thẻ BHYT bằng số định danh cá nhân/CCCD phục vụ làm thủ tục KCB BHYT. Phương thức này đã giúp rút ngắn thời gian làm thủ tục KCB BHYT xuống còn 6-15 giây. Bên cạnh đó, việc kết hợp sử dụng hình ảnh thẻ BHYT trên ứng dụng VssID – BHXH số và ứng dụng VNeID sẽ giúp người dân dễ dàng tra cứu thông tin về thẻ BHYT và không phải mang theo thẻ BHYT giấy, giúp giảm thiểu các thủ tục giấy tờ khi đi KCB BHYT. BHXH Việt Nam cũng đang chủ động phối hợp Bộ Y tế, Bộ Công an và một số cơ quan liên quan thí điểm liên thông dữ liệu KCB BHYT, phục vụ triển khai Sổ Sức khỏe điện tử, giấy chuyển tuyến, giấy hẹn khám lại tích hợp trên ứng dụng VNeID. Cụ thể, về công tác phối hợp triển khai Sổ sức khỏe điện tử, toàn quốc đã có 314.155.645 lượt gửi dữ liệu từ các cơ sở KCB BHYT lên Hệ thống của BHXH Việt Nam. Trong đó, đã có 152.128.607 lượt tra cứu thành công của hồ sơ khám sức khỏe, giấy chuyển tuyến, giấy hẹn khám lại được liên thông sang CSDL quốc gia về dân cư phục vụ tích hợp lên ứng dụng VNeID. Bên cạnh đó, toàn quốc có: 1.363 cơ sở KCB đã gửi dữ liệu giấy khám sức khỏe lái xe với 6.255.215 dữ liệu được gửi; 1.951 cơ sở KCB gửi dữ liệu giấy chứng sinh với 2.361.179 dữ liệu được gửi; 796 cơ sở KCB gửi dữ liệu giấy báo tử với 31.024 dữ liệu được gửi. Với những tiền đề này, thực hiện Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT, từ ngày 1/6/2025, người dân sẽ dùng hình ảnh thẻ BHYT điện tử thay cho thẻ BHYT giấy khi đi KCB. Hình ảnh thẻ BHYT điện tử có tính an toàn cao khi sử dụng công nghệ sinh trắc học để xác thực nhân thân của người có thẻ. Điều này giúp hạn chế được tình trạng lạm dụng, trục lợi từ việc sử dụng thẻ BHYT của người khác. Ngoài ra, hình ảnh thẻ BHYT điện tử cũng được mã hóa và bảo vệ theo các tiêu chuẩn kỹ thuật và quy định của pháp luật. Việc triển khai các quy định mới trong lĩnh vực BHYT không chỉ góp phần bảo vệ quyền lợi người dân mà còn giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống y tế, tạo thuận lợi cho việc KCB BHYT, đồng thời đẩy mạnh tiến trình chuyển đổi số trong công tác an sinh xã hội của hệ thống BHXH nói riêng và của Nhà nước nói chung. Bên cạnh đó, cơ quan BHXH tiếp tục chủ động phối hợp với các cơ sở KCB đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn người dân sử dụng hình ảnh thẻ BHYT trên ứng dụng VssID – BHXH số, ứng dụng VNeID và CCCD gắn chíp khi đi KCB BHYT, bảo đảm mọi người dân đều được hưởng những tiện ích mà chuyển đổi số đem lại, từng bước hướng tới thực hiện mục tiêu công dân số, giúp người tham gia BHYT được thuận lợi và đảm bảo tối đa quyền lợi KCB BHYT./. https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/linh-vuc-bao-hiem-y-te.aspx?ItemID=24852&CateID=169

Các triệu chứng phổ biến của biến thể Covid-19 mới

Biến thể XEC lan nhanh gấp 7 lần cúm, gây ra 5 triệu chứng phổ biến gồm ho, sốt, mệt mỏi, đau họng và mất vị giác hoặc khứu giác. Biến thể XEC, dòng phụ mới của Omicron, đang lan rộng nhanh chóng tại nhiều quốc gia, đặc biệt là Thái Lan. Bên cạnh khả năng truyền nhiễm được cảnh báo nhanh gấp 7 lần cúm, biến thể này cũng gây ra một loạt triệu chứng dễ bị bỏ qua. Các chuyên gia đã chỉ ra 5 triệu chứng phổ biến nhất của biến thể XEC, dựa trên dữ liệu lâm sàng và đánh giá của chuyên gia quốc tế. Ho – dấu hiệu đầu tiên dễ nhận biết Ho là một trong những biểu hiện sớm và phổ biến nhất của XEC. Bệnh nhân thường bị ho khan, dai dẳng và khó kiểm soát, đi kèm cảm giác ngứa rát họng. Theo Assure Covid-19 Lab, Mỹ, hơn 70% ca nhiễm gần đây ghi nhận triệu chứng ho. “Ho do biến chủng XEC có thể kéo dài nhiều ngày, kể cả sau khi các triệu chứng chính khác đã biến mất”, tiến sĩ William Schaffner, chuyên gia bệnh truyền nhiễm tại Đại học Vanderbilt, cho biết. Ông khuyến cáo những người có biểu hiện ho nên tự cách ly và theo dõi tình trạng hô hấp vì đây là triệu chứng có nguy cơ lan truyền cao. Sốt và ớn lạnh – phản ứng của cơ thể với virus Dù không phải bệnh nhân nào cũng bị sốt, đây vẫn là một trong những triệu chứng phổ biến ở những người nhiễm XEC. Sốt thường nhẹ đến trung bình (37,5-38,5 độ C), kèm theo cảm giác ớn lạnh, đau nhức cơ thể. Theo báo cáo của Mayo Clinic, triệu chứng sốt thể hiện phản ứng miễn dịch tự nhiên của cơ thể chống lại sự nhân lên của virus. Bác sĩ Allison Arwady, chuyên gia y tế cộng đồng tại Chicago, cho biết với biến thể XEC, sốt thường không kéo dài quá 2 đến 3 ngày. Tuy nhiên, nếu người bệnh có sẵn bệnh nền, triệu chứng này có thể trở nên nghiêm trọng hơn.                                                 Y tá tiêm vaccine Covid-19 cho bé gái ở thành phố Bandung, tỉnh Tây Java, Indonesia. Ảnh: AFP Mệt mỏi kèm giảm tập trung Một đặc điểm đáng chú ý ở bệnh nhân nhiễm XEC là cảm giác mệt mỏi kéo dài, kể cả khi các triệu chứng khác đã giảm. Theo Johns Hopkins Medicine, hơn 40% người nhiễm Covid-19 có thể tiếp tục cảm thấy kiệt sức nhiều ngày đến vài tuần sau khi khỏi bệnh. Với biến thể XEC, mệt mỏi còn đi kèm giảm khả năng tập trung và mất ngủ nhẹ. “Mệt mỏi không chỉ là triệu chứng cấp tính mà còn là biểu hiện cho thấy virus ảnh hưởng tới hệ thần kinh trung ương”, tiến sĩ Emily Landon, chuyên gia bệnh truyền nhiễm tại Đại học Chicago, cảnh báo. Đau họng ngay từ ngày đầu nhiễm bệnh Đau họng là một trong những biểu hiện dễ bị bỏ qua, nhất là trong mùa cúm. Tuy nhiên, với XEC, tình trạng đau rát họng xuất hiện ở nhiều bệnh nhân ngay từ ngày đầu tiên nhiễm virus. Theo CDC Mỹ, đau họng liên quan đến Covid-19 thường có xu hướng đột ngột và đi kèm cảm giác khô, rát khi nuốt. “Bệnh nhân XEC thường không bị nghẹt mũi hoặc chảy nước mũi rõ rệt như cúm, vì vậy đau họng nên được coi là dấu hiệu cảnh báo”, tiến sĩ Jorge Moreno từ Đại học Yale nhận định. Mất vị giác hoặc khứu giác vẫn là dấu hiệu đặc trưng Dù xuất hiện phổ biến hơn ở các biến thể trước, mất vị giác hoặc khứu giác vẫn được ghi nhận ở nhiều ca nhiễm XEC. Tình trạng này thường xảy ra sau vài ngày nhiễm bệnh, và có thể kéo dài hàng tuần. Theo nghiên cứu được công bố trên Journal of the American Medical Association, việc mất khứu giác có liên quan đến mức độ viêm nhiễm ở vùng mũi, họng. Mất khứu giác, dù ít gặp hơn so với giai đoạn đầu đại dịch, vẫn được coi là chỉ dấu đặc trưng giúp phân biệt Covid-19 với các bệnh đường hô hấp khác, theo nhận định của tiến sĩ Claire Hopkins, chuyên gia tai mũi họng tại Anh. https://vnexpress.net/cac-trieu-chung-pho-bien-cua-bien-the-covid-19-moi-4888734.html

Tăng cường công tác khám, phát hiện, điều trị ca bệnh COVID-19

Cục Quản lý Khám chữa bệnh (Bộ Y tế) ngày 19/5  có văn bản gửi các bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế; Sở Y tế các tỉnh, thành phố; y tế các bộ, ngành về việc tăng cường công tác khám, phát hiện, điều trị ca bệnh COVID-19. Lấy mẫu xét nghiệm tầm soát COVID-19 thời điểm dịch bùng phát năm 2021. Ảnh: VGP Theo ông Hà Anh Đức, Cục trưởng Cục Quản lý Khám chữa bệnh (Bộ Y tế), hiện thế giới ghi nhận số ca mắc COVID-19 gia tăng tại một số quốc gia như Brazil, Anh, Thái Lan… Tại Việt Nam, từ đầu năm 2025 đến nay phát hiện rải rác gần 150 ca tại 27 tỉnh, thành, không có trường hợp tử vong. Để chủ động ứng phó, Cục đề nghị các cơ sở y tế khẩn trương rà soát, cập nhật kế hoạch thu dung, điều trị bệnh nhân theo dự báo tình hình dịch; không để tình trạng ứng phó thụ động, bất ngờ. Các đơn vị cần sẵn sàng cơ sở vật chất, khu cách ly, thiết bị, vật tư y tế để tổ chức cách ly, chẩn đoán, điều trị, kiểm soát nhiễm khuẩn. Đồng thời, tăng cường biện pháp phòng lây nhiễm, đặc biệt qua đường hô hấp, hạn chế tối đa nguy cơ lây lan trong bệnh viện. Có giải pháp bảo vệ nhóm nguy cơ cao như phụ nữ mang thai, người có bệnh nền, người cao tuổi… và các khoa hồi sức tích cực, tim mạch, thận nhân tạo, phẫu thuật. Cục Quản lý Khám chữa bệnh đề nghị các đơn vị báo cáo ca bệnh theo quy định. Trước đó, Bộ Y tế cho biết đã ghi nhận số ca mắc COVID-19 tăng nhẹ trong 3 tuần gần đây, trung bình 20 ca/tuần. Bộ Y tế lưu ý các cơ sở y tế chủ động giám sát, theo dõi dịch, sẵn sàng thu dung, cấp cứu, điều trị, nhất là nhóm nguy cơ cao. Người dân được khuyến cáo đeo khẩu trang nơi công cộng, trên phương tiện giao thông, tại cơ sở y tế; hạn chế tụ tập nơi đông người nếu không cần thiết. Khi có biểu hiện sốt, ho, khó thở, cần đến cơ sở y tế gần nhất để kiểm tra, điều trị kịp thời… Người đến hoặc trở về từ các nước có số ca mắc cao cần chủ động theo dõi sức khỏe để bảo vệ bản thân, gia đình và cộng đồng. Bộ Y tế cho biết sẽ tiếp tục phối hợp với Tổ chức Y tế thế giới theo dõi diễn biến dịch và đưa ra các biện pháp ứng phó phù hợp. https://nld.com.vn/ly-do-bo-y-te-de-nghi-benh-vien-tang-cuong-phong-covid-19-196250519180630701.htm

Bài toán ‘trăm nghìn tỷ’ khi miễn viện phí hơn 100 triệu dân

Các chuyên gia cho rằng triển khai BHYT toàn dân, thuế từ các mặt hàng có hại cho sức khỏe cùng những phương án tài chính mới sẽ giải được bài toán ngân sách khi miễn viện phí. Bộ Y tế đang bắt tay xây dựng đề án này với hai mục tiêu là khám sức khỏe định kỳ miễn phí cho người dân ít nhất mỗi năm một lần và miễn viện phí toàn dân. Thứ trưởng Y tế Trần Văn Thuấn cho biết đã xác định lộ trình hai giai đoạn 2026-2030 và 2031-2035 để từng bước hiện thực hóa hai chủ trương quan trọng trên. Theo tính toán của Bộ Y tế, với 100 triệu dân và chi phí trung bình 250.000 đồng mỗi lần khám, ngân sách cần thiết để bảo đảm mỗi người được khám ít nhất một lần mỗi năm là 25.000 tỷ đồng. Niên giám y tế Việt Nam năm 2020 cũng ghi nhận chi ngân sách nhà nước cho y tế là 124.700 tỷ đồng. Nguồn thu khác cho y tế là từ viện phí, bảo hiểm y tế (BHYT), hoạt động dịch vụ… ước khoảng 147.540 tỷ đồng, trong đó BHYT khoảng 100.000 tỷ. Như vậy, tổng chi cho y tế năm 2020 là 272.240 tỷ đồng. PGS Đào Xuân Cơ, Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, cho rằng khi miễn viện phí thì “nguồn lực tài chính là yếu tố then chốt”. Để giải bài toán chi phí trên cần phát triển BHYT toàn dân, toàn diện, đa dạng hình thức để đảm bảo người dân tiếp cận dịch vụ y tế không gặp rào cản tài chính. “Khác với học phí có mức thu ổn định ở mỗi cấp, chi phí điều trị y tế rất đa dạng, dao động từ một vài triệu đến hàng trăm triệu đồng, thậm chí hơn tỷ đồng cho một ca ghép tạng”, ông Cơ giải thích. Việc Nhà nước hỗ trợ qua BHYT giúp bù đắp chi phí không đồng đều và tháo gỡ nút thắt tài chính cho các bệnh viện, đồng thời tạo điều kiện để cơ sở y tế phát triển chuyên môn và đầu tư công nghệ mới. Còn đại biểu Quốc hội Nguyễn Anh Trí (Hà Nội) cũng cho rằng Nhà nước hỗ trợ người dân thông qua BHYT, bù vào phần chi thêm cho ngành y tế làm việc. Như vậy, các bệnh viện cũng không lo phải quay trở lại thời kỳ bao cấp mà ngược lại vẫn tự chủ và tự chủ một cách thuận lợi, có nguồn lực để đầu tư trang thiết bị y tế, nâng cao trình độ, kỹ thuật. Thực tế, trên thế giới, chính sách BHYT toàn dân là nền tảng bền vững của các hệ thống an sinh xã hội tiên tiến. Tại các nước Bắc Âu, trong suốt hai thập kỷ qua, chính sách miễn phí hoàn toàn khám chữa bệnh đã góp phần giảm tỷ lệ phá sản hộ gia đình do chi phí y tế xuống dưới 1%, so với mức 8% tại các quốc gia thu nhập trung bình. Bác sĩ tại Trung tâm cấp cứu A9, Bệnh viện Bạch Mai, chạy đua giành giật sự sống cho người bệnh. Ảnh: Giang Huy Hiện tỷ lệ bao phủ BHYT tại Việt Nam đạt 94,2% dân số. Luật BHYT sửa đổi năm 2024 đã mang lại một số cải thiện, song các chuyên gia cho rằng những thay đổi này vẫn chưa đủ toàn diện để tạo đột phá. Việc tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng cao, nhất là bệnh nhân nghèo hoặc mắc bệnh nặng, còn hạn chế do phạm vi chi trả của BHYT đối với thuốc, vật tư, kỹ thuật tiên tiến và nguồn thu cho quỹ còn eo hẹp. Đặc biệt, trong lộ trình dài hạn để thực hiện miễn viện phí, trước mắt cần xem xét về việc đảm bảo quyền của người bệnh khi tham gia BHYT, với việc cập nhật thường xuyên hơn danh mục thuốc do BHYT chi trả. Hiện tại lần cập nhật toàn diện gần nhất từ năm 2018. Đồng thuận với các ý kiến trên, Thứ trưởng Thuấn cho hay dự kiến sửa đổi Luật BHYT tiến tới cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh miễn phí cho toàn dân. Việc này nhằm tạo cơ chế cho các nguồn thu mới, như quỹ BHYT bổ sung, từ đó đảm bảo quyền lợi đầy đủ và thực chất hơn cho người bệnh, hướng tới một hệ thống chăm sóc sức khỏe toàn dân bền vững và công bằng. Mức đóng BHYT hiện là 4,5% lương cơ sở, vẫn duy trì được trạng thái tài chính cân đối. Tuy nhiên, khi mở rộng quyền lợi, tăng mức hưởng, tiến tới miễn viện phí thì cần sửa đổi Luật BHYT, tái cơ cấu mức đóng, bảo đảm khả năng chi trả. Các chuyên gia cũng cho rằng nguồn lực tài chính còn cần huy động từ ngân sách nhà nước, xã hội hóa. Tiến sĩ Angela Pratt, Trưởng đại diện Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tại Việt Nam, cho rằng có nhiều lựa chọn khác nhau để tài trợ cho việc này, bao gồm cả việc dành riêng doanh thu từ thuế thuốc lá, rượu bia, đồ uống có đường. Một số nước đã dùng doanh thu từ các mặt hàng này để bù đắp ngân sách chi cho y tế. Ví dụ, ở Thái Lan, 2% thuế rượu và thuốc lá tạo quỹ hơn 120 triệu USD/năm để chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Philippines dành đến 85% thuế thuốc lá cho y tế. Còn ông Cơ đề nghị cân nhắc đưa các phương án tài chính mới với sự tham gia của xã hội, doanh nghiệp vào khung pháp lý rõ ràng để bổ sung nguồn ngân sách cho chăm sóc sức khỏe toàn dân. Ở các nước phát triển, nhiều bệnh viện phi lợi nhuận hoạt động hiệu

Đặt Lịch Khám

    Đặt Lịch Khám