Giới thiệu

Logo

GIỚI THIỆU

Bệnh viện Bắc Thăng Long

Bac Thang Long Hospital

Giới thiệu chung

 Biên niên sử bệnh viện Bắc Thăng long

 Đặt vấn đề:

Bệnh viện Bắc Thăng Long ngày nay chính là Bệnh viện công ty xây dựng công nghiệp cách đây 30 năm. Đư­ợc thành lập ngày 20-12-1967 trong thời kỳ vừa sản xuất vừa chiến đấu cùng cả nước thực hiện cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu n­ước. Khi cả nước thống nhất Trung tâm y tế đã không ngừng phấn đấu v­ươn lên hoàn thành nhiệm vụ của mình trong cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung, bao cấp cũng như ­ trong thời kỳ đổi mới hiện nay.

Tên tuổi, cũng như hoàn cảnh địa lý và nhiệm vụ chính trị của Bệnh viện cũng không ngừng biến đổi với những khó khăn, thuận lợi và sự trưởng thành của công ty nói riêng và toàn Ngành nói chung. Nhiệm vụ chủ yếu là khám chữa bệnh, chăm sóc quản lý sức khỏe cho CBCNV trong công ty, trong Bộ và nhân dân địa phương.

 

Phần I:

Đặc điểm tình hình của trung tâm y tế:

( Lý do hoàn cảnh ra đời các tên gọi, địa lý, địa chất, nhiệm vụ và vai trò của trung tâm, khó khăn, thuận lợi …):

Từ năm 1965 giặc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại ra Miền Bắc nước ta. Năm 1966 đã đánh phá thành phố Thái Nguyên và Khu công nghiệp Gang thép Thái nguyên. Trước tình hình đó Khu gang thép thực hiện chủ trương của Chính phủ tạm ngừng xây dựng. Các công trường xây dựng được tách ra thành lập Công ty xây dựng công nghiệp đi xây dựng công nghiệp và xây dựng quốc phòng ở các địa phương khắp Miền Bắc.

Về y tế thì phòng Y tế và bệnh viện gang thép Thái nguyên cũng tách ra một bộ phận để đi theo phục vụ nhiệm vụ chính trị nêu trên, lúc đó gọi là Phòng Y tế Công ty xây dựng công nghiệp ( Tháng 6 năm 1966).

Địa điểm đóng tại thôn Vân D ương xã Đồng Tiến huyện Phổ Yên tỉnh Bắc Thái, với biên chế 14 CBCNV.

Đến ngày 15/8/1966 do địa điểm bệnh xá gần bãi tên lửa và gần khu xăng dầu Lương Sơn không được an toàn nên lại được di chuyển về thôn Xuân Trù xã Đại Xuân huyện Phổ Yên tỉnh Bắc Thái.

Cơ sở lúc đó gồm:

– 6 gian nhà tranh làm phòng khám đa khoa.

– 4 gian nhà tranh làm văn phòng.

– Mua 1 khu nhà dân làm nhà ăn và nơi điều trị bệnh nhân.

Tổng cộng khoảng gần 20 gian nhà tranh tre nứa nằm rải rác d­ới các dãy tre làng. Còn lại hoàn toàn ở nhà dân.

Biên chế 50 giường bệnh và hơn 30 CBCNV vừa làm chuyên môn vừa lao động xây dựng cơ sở.

* Nhiệm vụ chuyên môn:

– Chỉ đạo công tác y tế các đơn vị cơ sở.

– Cung cấp toàn bộ các thiết bị y tế , thuốc men cho cơ sở.

– Quản lý sức khỏe và điều trị bệnh nhân ốm đau khi các đơn vị gửi về.

* Địa bàn phục vụ lúc đó (các đơn vị công ty):

1- CBCNV xí nghiệp xây lò (Tổng đội xây lò) ở Kỳ Sơn- Hòa bình

2- Tổng đội 3 xây dựng quốc phòng ở Bình Gia tỉnh Lạng Sơn.

3- Tổng đội 28- tổng đội 64 xây dựng quốc phòng ở Hữu Lũng- Lạng Sơn.

4- XN Nông cụ I, II ( Tiền thân là XN sản xuất cơ khí) ở Tân Cư ­ơng- Đồng Hỷ- Bắc Thái.

5- Xí nghiệp vận tải ở Lư ­ơng Sơn- Bắc Thái.

6- Xí nghiệp kết cấu kim loại ở Phú Bình- Bắc Thái.

7- Xí nghiệp lắp máy.

8- Khối cung ứng vật t­ ở Phổ Yên- Bắc Thái.

9- Xí nghiệp đ­ư ờng ống ở Đồng Hỷ.

10- Xí nghiệp đ­ờng dây và trạm ở Bắc Ninh- Hà Bắc và một bộ phận ở Thái Bình.

Hàng tháng cán bộ của Phòng y tế và bệnh xá xuống các cơ sở hoàn toàn đi bằng xe đạp (có khi còn đèo nhau). Các cơ sở lên lấy thuốc dụng cụ trên bệnh xá cũng bằng xe đạp. Sinh hoạt và mọi hoạt động là bao cấp 100%.

Đến tháng 4/1967 vừa xây dựng phương án thành lập bệnh viện vừa tiếp tục xây dựng cơ sở ra nơi sơ tán dọc bãi soi ven sông Cầu, chạy dài khoảng 2,5km cũng bằng nhà tranh tre, nứa lá rải rác d­ới các lùm cây trám và bãi tre thuộc các thôn Thùa Lâm, Yên Chung, Nguyễn Hậu (xã Tiền phong) huyện Phổ yên. Thôn Hà Trạch (xã Hà châu) huyện Phú Bình.

Đến ngày 20/12/1967 Bộ Công nghiệp nặng ra quyết định thành lập bệnh viện 100 giừơng ( Thứ trưởng Bùi đình Đổng ký) Từ đó mở ra giai đoạn mới. Bệnh viện chính thức đi vào hoạt động tại địa điểm ven sông Cầu thuộc xã Tiền phong huyện Phổ Yên tỉnh Bắc Thái với tên gọi:

(1) Bệnh viện Công ty xây dựng Công nghiệp.

Đến cuối năm 1968 đầu năm 1970 Bộ Công nghiệp lại tách ra:

– Bộ Cơ khí luyện kim

– Bộ Điện và Than

– Tổng cục hóa chất.

Lúc đó bệnh viện lại tách ra một bộ phận sang phục vụ Bộ Cơ khí luyện kim. Công ty xây dựng Công nghiệp chuyển thành Công ty xây dựng Điện và Than nên tên bệnh viện được Giám đốc Công ty quyết định đổi thành:

(2) Bệnh viện công ty xây dựng Điện và Than.

( Thường gọi tắt là bệnh viện Điện Than)

Địa bàn và đối t­ợng phục vụ của bệnh viện lúc này gồm 19 đơn vị thuộc Công ty tập trung phần lớn về vùng mỏ Quảng Ninh.

Cụ thể là:

– XN xây lắp 4 ở Mạo Khê.

– XN xây lắp 5 ở Vàng Danh

– XN xây lắp 8 ở Cẩm Phả.

– XN xây lắp 6 ở Mông Dương.

– XN xây lắp 3 ở Cọc 6.

– XN Đá vôi ở Yên lập Quảng ninh.

– XN cơ khí thi công ở Uông Bí.

– XN cơ giới thi công ở Quảng Ninh.

– XN Xây lắp 1 làm các công trình điện ở khu vực Hà Nội

– XN Xây lắp 2 làm các công trình điện ở khu vực Bắc Thái.

– XN bê tông, XN gỗ ở Đa Phúc.

– XN vận tải ở Cổ Loa Đông Anh

– XN kết cấu kim loại ở Yên Viên- Hà Nội

– XN xây lắp 7 ở Cầu Giành tỉnh Nam Định.

Giai đoạn này để phục vụ, chăm sóc sức khỏe cho công nhân được thuận tiện bệnh viện đã thành lập một phòng khám 2 tại Thị xã Cẩm Phả để giải quyết cấp cứu và điều trị các bệnh tật thông thường cho công nhân ở khu vực Quảng Ninh.

Với đặc điểm ở ven sông nên hàng năm bệnh viện đều ngập lụt. Đặc biệt là năm 1971-1972 bệnh viện trải qua 2 trận lụt lớn 3/4 cơ sở của bệnh viện bị h­ hỏng. Công ty đã cấp kinh phí, bệnh viện huy động lực l­ợng CBCNV vừa làm tốt chuyên môn, vừa lao động xây dựng cơ sở, vừa tổ chức học tập, nghiên cứu khoa học, tự xây dựng lại nhà cửa với sự giúp đỡ tận tình của địa phương từ các cụ phụ lão, chị em phụ nữ, đoàn thanh niên địa phương đem người, đem của đến khắc phục hậu quả lũ lụt sửa chữa lại bệnh viện cụ thể là:

– Nhân dân, đoàn thể xã Tiên phong- Phổ Yên.

– Nhân dân, đoàn thể xã Hà Châu- Phú bình.

– Nhân dân xã Quyết tiến- Hiệp Hoà- Hà Bắc đã ủng hộ hàng nghìn cây tre.

– Nhân dân xã Trung hòa- Hà Bắc đem người, gạo tiền đến làm hộ hàng nghìn ngày công. Tổng cộng tre vầu, nứa ủng hộ đến 4000 cây… nên chỉ trong thời gian ngắn bệnh viện lại hoạt động bình thường.

Nh ưng không thể khắc phục với lũ lụt mãi được nên cuối năm 1972 lại xây dựng khu bệnh viện vào phía trong đê. Địa điểm này cách quốc lộ 3 khoảng 10km. Hàng tuần có lịch bố trí xe đ­a bệnh nhân ra viện đến bến tàu xe Phổ Yên và đón bệnh nhân vào viện nếu có.

Và cũng năm 1972 Bộ Điện và Than lại tách ra thành Bộ Điện lực, Bộ Mỏ và Than. Bệnh viện thuộc Bộ Than nên lại được đổi tên thành:

(3) Bệnh viện công ty xây dựng Mỏ Than.

Đến năm 1976 sau khi giải phóng Miền Nam, chiến tranh chống Mỹ cứu nước chấm dứt bệnh viện được Bộ Y tế, Bộ chủ quản và Công ty cho phép xây dựng bệnh viện bán kiên cố tại xã Đồng Tiến huyện Phổ Yên tỉnh Bắc Thái (cách quốc lộ 3 là 2km). Đến năm 1978 hoàn chỉnh và bệnh viện được chuyển từ nơi sơ tán ra.

Đồng thời cũng từ cuối năm 1977 đầu năm 1978 Bộ Mỏ và Than tách chia Công ty xây dựng mỏ than thành:

– Công ty xây lắp I ở Đông Anh

– Công ty xây lắp Cẩm Phả.

– 1 bộ phận sáp nhập vào Công ty Uông Bí.

Bệnh viện được giao cho Công ty xây lắp I quản lý nên tên của bệnh viện được đổi thành:

(4) Bệnh viện công ty xây lắp I.

Địa điểm vẫn đóng tại Phổ yên bắc Thái.

Địa bàn phục vụ của bệnh viện chủ yếu khu vực Đông Anh và Bắc Thái.

Đến năm 1980 Bộ thành lập Công ty than III, bệnh viện được giao cho Công ty than III quản lý nên tên của bệnh viện lại đổi thành:

(5) Bệnh viện công ty than III.

Nhiệm vụ là quản lý sức khỏe, khám chữa bệnh cho CBCNV thuộc Công ty than III nằm rải rác ở các tỉnh Bắc Thái, Lạng sơn, Nghệ an, Đà Nẵng…

Đến ngày 16/04/1990 để sắp xếp lại sản xuất hợp lý của Công ty Than III. Bộ trưởng Bộ Năng Lượng quyết định thành lập: Trung tâm y tế công ty than III.

Trên cơ sở nhiệm vụ và biên chế của Bệnh viện + Viện điều dưỡng + Bộ phận y tế của cơ quan công ty.

Địa điểm của Trung tâm đặt tại địa điểm của bệnh viện tại Phổ Yên- Bắc Thái nên tên gọi chuyển thành:

(6) Trung tâm y tế công ty than III.

(QĐ số 189 NL/TCCB-LĐ ngày 16/04/1990 Bộ trưởng Vũ Ngọc Hải ký).

Đến tháng 5/1992 Bộ Năng Lượng có văn bản số 992 NL/TCCB-LĐ cho phép Trung tâm chuyển cơ sở từ Phổ yên Bắc Thái về Đông Anh- Hà Nội và Giám đốc công ty than III có quyết định số 312 CTT3/TCCB-LĐ cho phép Trung tâm chuyển địa điểm đến và sử dụng trụ sở của Công ty than III ( gồm 1 nhà 5 tầng và 40 gian nhà cấp 4) để làm cơ sở của Trung tâm. Chỉ trong một thời gian rất ngắn với sự cố gắng của tập thể CBCNV cùng với sự giúp đỡ của công ty, của các đơn vị bạn, Trung tâm đã di chuyển, cải tạo các phòng kỹ thuật, sắp xếp ổn định các khoa phòng và đến ngày 27/08/1992 Trung tâm lại hoạt động bình thuờng ở cơ sở mới tại Đông Anh- Hà Nội.

Giai đoạn này cũng là bước ngoặt lịch sử của Trung tâm.

Do nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho công nhân toàn ngành ngày càng cao hơn ngoài việc phục vụ cho CBCNV thuộc Công ty than III, Trung tâm còn giúp Bộ hướng dẫn chuyên môn kỹ thuật y tế lao động trong toàn ngành là đầu mối thực hiện BHYT và các chương trình y tế quốc gia của ngành… Nên đến ngày 06/01/1993 Bộ trưởng Bộ Năng L­ ư ợng đã quyết định đổi tên Trung tâm y tế Công ty than III thành:

(7) Trung tâm y tế lao động Năng L ư ­ợng.

(QĐ số 22 NL/TCCB-LĐ ngày 06/01/1993 Bộ trưởng Thái Phụng Nê ký)

Trụ sở Bệnh viện (ảnh bên)

Do Bộ Năng L­ ư ợng thành lập 2 Tổng công ty Than Việt Nam và Điện Việt Nam. Trung tâm y tế lao động Năng Lượng lại thuộc Tổng công ty than Việt Nam quản lý nên đến ngày 04/03/1995 Bộ trưởng Bộ Năng Lượng lại quyết định đổi tên Trung tâm y tế lao động Năng Lượng thành:

(8) Trung tâm y tế lao động Ngành Than.

(QĐ số 129 NL/TCCB-LĐ ngày 04/03/1995. Bộ trưởng Thái Phụng Nê ký) đổi tên Trung tâm y tế Lao động Năng Lượng thành “Trung tâm y tế Lao động ngành Than” và chuyển về trực thuộc Tổng công ty Than Việt Nam

(9) Bệnh viện Bắc Thăng Long.

(Lễ kỷ niệm 1 năm ngày thành lập bệnh viện (ảnh bên)

Năm chuyển giao thiên niên kỷ cũng là bước ngoặt lịch sử của bệnh viện Bắc Thăng Long. Với trên 30 năm phục vụ trong ngành Công Nghiệp, Ngày 12/5/2000 Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định số 47/QĐUB tiếp nhận và bàn giao bệnh viện từ Tổng Công ty than Việt Nam về Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội và giao cho Sở Y tế Hà Nội quản lý. Bệnh viện vẫn được gọi tên “Trung tâm y tế dự phòng than Khu vực Nội Địa”

Ngày 03/7/2000 Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội đã ban hành quyết định số 67/QĐ-UB về việc đổi tên “Trung tâm y tế dự phòng than Khu vực Nội Địa” thành “Bệnh viện Bắc Thăng Long” Từ đây Bệnh viện đã trực thuộc Sở Y tế Hà Nội và hoạt động theo đúng ngành dọc của mình

Phần II:

Những chặng đư­ờng đã qua

I/ Nhiệm vụ:

1/ Nhiệm vụ của Trung tâm y tế Ngành:

– Giúp Bộ h­ ư ớng dẫn chuyên môn kỹ thuật về y tế lao động và y tế cơ sở trong toàn ngành, là đầu mối thực hiện BHYT và các chương trình y tế quốc gia ở ngành.

– Giám sát môi trường lao động, nghiên cứu các biện pháp cải thiện điều kiện lao động, bệnh nghề nghiệp, phục hồi chức năng cho người mắc bệnh nghề nghiệp và tai nạn lao động, cũng nh­ các công tác y học lao động dự phòng khác.

– Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn phân hạng điều kiện lao động theo nghề và tham gia đề xuất các chính sách chế độ cho người lao đôngj.

– Hướng dẫn và tham gia thanh tra vệ sinh lao động, thanh tra y tế, kết hợp thực hiện bảo hộ lao động theo pháp lệnh quy định.

2/ Nhiệm vụ của bệnh viện

:

(Hình ảnh khám TMH và điện não đồ cho bệnh nhân)

– Tổ chức khám chữa bệnh cho CBCNV trong toàn Công ty và các tuyến khu vực thuộc Bộ.

– Chỉ đạo tuyến trước (các cơ sở y tế của Công ty) phòng chống dịch bệnh và quản lý sức khỏe cho CBCNV.

Huấn luyện bồi dưỡng cán bộ chuyên môn của bệnh viện và tuyến cơ sở.

– Nghiên cứu khoa học: Các đề tài cấp cơ sở, cấp công ty, ngành và quốc gia.

– Khám chữa bệnh cho nhân dân khu vực đóng quân và làm tốt công tác y tế cộng đồng theo yêu cầu cuả Bộ Y tế.

3/ Đảm nhiệm phần xây dựng cơ sở vật chất của đơn vị để phục vụ việc hoàn thành kế hoạch qua từng giai đoạn.

II/ Nguồn vốn:

Chủ yếu là vốn sự nghiệp được Nhà nước và Bộ cấp theo chỉ tiêu gi­ ư ờng bệnh hàng năm.

Hiện nay kế hoạch giường bệnh là 200 gi ư ­ờng. Nhà nước cấp kinh phí 160 giường còn 40 giường Trung tâm bổ sung vốn bằng nguồn thu viện phí, dịch vụ y tế BHYT theo chế độ quy định của Nhà nước và Bộ Y tế cùng với sự hỗ trợ của Tổng công ty và Công ty chủ quản.

III/ Tổ chức:

(1) Tổ chức các khoa phòng:

Là Trung tâm y tế chuyên ngành trong đó có bệnh viện hoàn chỉnh với tổ chức các khoa phòng theo đúng mô hình tổ chức Bộ Y tế quy định. Gồm:

– Phòng Y học lao động và môi trường.

– Khoa phục hồi chức năng.

– Phòng khám bệnh đa khoa (Trong đó có giường bệnh điều trị các bệnh chuyên khoa TMH, RHM, Mắt… ).

– Khoa Hồi sức cấp cứu.

– Khoa Nội- Nhi.

– Khoa Ngoại sản.

– Khoa truyền nhiễm.

– Khoa xét nghiệm.

– Khoa Điện quang.

– Khoa Dư­ợc.

– Khoa Dinh dưỡng (nhà ăn).

 Các phòng:

– Phòng Kế hoạch ( Y vụ).

– Phòng Tổ chức cán bộ.

– Phòng Tài chính kế toán.

– Phòng hành chính quản trị.

Ban giám đốc:

– 1967 đến năm 1973 : Giám đốc 1, Phó giám đốc 1.

– 1974 đến năm 1985 : Giám đốc 1, Phó giám đốc 2.

– Tữ 1986 đến nay: Giám đốc 1, Phó giám đốc 3.

+ 1 Giám đốc phụ trách chung.

+ 1 Phó giám đốc kỹ thuật.

+ 1 Phó giám đốc chỉ đạo tuyến cơ sở.

+ 1 Phó giám đốc hậu cần đời sống.

(2) Quy mô giường bệnh

Tăng giảm theo nhiệm vụ từng giai đoạn.

Năm 1967 mới thành lập quy mô 100 giường.
Năm 1970 150 giường.
Năm 1979 200 giường.
Năm 1981 250 giường.
Năm 1988 giảm đi 50 giường còn 200 giường.
Năm 1995 200 giường kế hoạch
Nhưng ngân sách Nhà nước cấp 160 giường.

Hàng năm bệnh viện đều thực hiện v­ợt và đạt kế hoạch giường bệnh được giao.

(3) Cơ cấu CBCNV:

1) Giai đoạn từ tháng 6/1966 đến 12/1967 là hoạt động bệnh xá chuẩn bị cho thành lập bệnh viện.

– Quy mô giường bệnh: 50 giường.

– Biên chế gồm 30 CBCNV. Trong đó:

+ Bác sĩ 1 Đ/C bệnh xá trưởng.

+ D­ợc sĩ cao cấp 1 Đ/C phụ trách d­ợc.

+ Y sỉ điều trị 2 Đ/C.

+ Y tá mới ra trường 10 Đ/C.

+ D­ợc tá 2 Đ/C.

+ Nhân viên khác 14 Đ/C.

+ Xét nghiệm viên 1 Đ/C.

– Vốn ban đầu trị giá: 19.785,16đ.

Trong đó:+ Thuốc = 16.480,86đ.

+ Dụng cụ y tế = 3.304,30đ.

2) Giai đoạn từ 1968 đến năm 1996 (28 năm):

Bảng 1: Tổng số và chất lượng  CBCVN:

Năm T.Số CBCNV Trình độ đại học C/khoa Cấp I,II Trung học Sơ học CBNV # nghiệp vụ
1968
1973 147 6 0 23 51
1974 155 10 0 28 53
1975 167 17 0 31 56
1985 217 25 6 51 52
1986 218 26 6 56 53
1987 213 28 7 41 53
1988 154 29 7 44 21
1989 158 30 8 44 27
1990 155 35 8 44 18
1991 145 33 8 37 22
1992 140 37 7 29 5
1993 144 45 6 39 17
1994 135 43 6 35 4
1995 174 51 9 52 21
1996 173 52 15 55 14

 

Bảng 2: Nếu tính về tuổi đời của CBCNV ở 2 thời điểm cách nhau 20 năm:

Phân theo lứa tuổi Năm 1975 Năm 1985
 Tổng số
– Tổng số CBCNV 167 174
– Số CBCNV nữ/TS 118= 70,65% 108= 62,06%
– Phân theo lứa tuổi:
< 30 tuổi 91= 54,4% 66= 37,9%
< 35 tuổi 34= 20,35% 51= 29,3%
< 40 tuổi 25 24
< 45 tuổi 10 15
< 50 tuổi 3 15
> 50 tuổi 4 3

 

Bảng 3: Kết quả thực hiện các chỉ tiêu chuyên môn:

( Số liệu lấy trong 10 năm)

Năm TSBN Khám TSBN ĐT Nội trú Số lần P/thuật Số lần X/nghiệm Số lần X/quang Ghi chú
1985 15.439 5.760 1.135 46.691 10.612
1986 20.006 6.114 1.006 59.035 10.812
1987 19.452 6.270 1.023 46.546 10.358
1988 29.273 6.067 1.602 55.488 10.919 Giảm 50
1989 14.326 5.281 1.164 43.863 11.187 Giường bệnh
1990 15.714 4.680 1.227 39.028 9.686
1991 10.967 5.124 1.148 41.166 8.279 CBị di chuyển C.Sở
1992 8.868 4.281 1.191 36.484 5.256 Di chuyển C.Sở
1993 19.950 4.780 2.558 57.001 6.710 Về Đông anh.
1994 24.475 6.494 3.149 59.713 8.308
1995 26.260 7.415 3.361 63.155 12.447

 

III/ Những hướng đi và biện pháp để đảm bảo thực hiện hoàn thành nhiệm vụ:

1/ Trung tâm y tế ngành đã xác định một yếu tố quan trọng nhất để hoàn thành mọi nhiệm vụ là có đội ngũ CBCNV đủ mạnh, có tinh thần trách nhiệm, có trình độ năng lực chuyên môn, văn hóa, có sự đoàn kết thươngyêu giúp đỡ nhau cùng tiến bộ… Do vậy ngay từ khi mới thành lập cũng nh­ suốt quá trình hoạt động Trung tâm luôn chú trọng công tác bồi dưỡng, đào tạo cán bộ nhân viên nh­:

– Đào tạo bồi dưỡng đội ngũ y tá các chuyên khoa, y tá điều dưỡng để thực hiện nhiệm vụ chăm sóc bệnh nhân toàn diện.

– Bồi dưỡng cán bộ có trình độ văn hóa và chuyên môn thấp nâng lên trình độ cao hơn nh­ (giai đoạn 1967-1975).

+ CBCNV có trình độ văn hoá cấp I,II cho học bổ túc lên hết cấp II, III.

+ CBCNV có trình độ chuyên môn sơ học, trung học thì cho đi bồi dưỡng ôn luyện thi vào các trường trung học, đại học, sau khi tốt nghiệp lại trở về tiếp tục công tác tại Trung tâm.

– Các bác sĩ có trình độ đa khoa thì cho đi học các chuyên khoa sơ bộ ở mọi lĩnh vực: Nội tim mạch, cơ xương khớp, hồi sức cấp cứu, Y học lao động vệ sinh môi trường, đông y châm cứu… Hệ ngoại nh­: Ngoại ổ bụng, chấn thươngchỉnh hình, ngoại tiết niệu, gây mê hồi sức. Học các chuyên khoa sâu nh­ Xquang, xét nghiệm, TMH, RHM, Mắt.

Học về thăm dò chức năng: Điện tim đồ, điện não đồ, siêu âm…

– Cử và tạo điều kiện cho các bác sĩ có đủ điều kiện và trình độ đi thi học chuyên khoa cấp I, cấp II, cao học…

Có nh­ vậy đội ngũ CBCNV của Trung tâm mới đáp ứng kịp với yêu cầu của xã hội (Thể hiện qua bảng 1 chất l­ợng cán bộ).

2/ Nâng cao chất l­ợng và hiệu quả chuyên môn bằng nhiều phương pháp liên kết với các cơ sở y tế tuyến Trung ­ơng, địa phương, quân đội, các chuyên khoa đầu ngành, mời các giáo s­, chuyên gia giỏi về Trung tâm giảng dạy, hư­ớng dẫn, hội chẩn, hoặc đ­a lên tuyến trên hội chẩn với những bệnh nhân nặng, khó… nên tất cả những bệnh nhân đã đến viện đều được cứu chữa. Cụ thể nh­ư:

* Giai đoạn 1968-1974 do điều kiện cán bộ kỹ thuật của Trung tâm còn non yếu về trình độ thì bệnh viện đã kết hợp với các giáo s­, bác sĩ của Trường đại học Y Bắc Thái (về hướng dẫn sinh viên thực tập tại bệnh viện) nên tất cả các bệnh nhân nặng, cần phải phẫu thuật đều được cứu chữa (không có trường hợp nào phải gửi lên tuyến trên).

Ghi chú tên các bác sĩ:

– BS ái
– BS Kim Ngoại
– BS Sơn

– BS Châu Băng (gây mê hồi sức).

– GS Phạm Hãn (Sản).

– BS Hiền (Nội).

– BS Linh (nhi).

Trong giai đoạn này cán bộ chuyên môn của bệnh viện đã được nâng cao nhiều về trình độ.

* Giai đoạn 1976-1986:

– Đi đúng đư­ờng lối của Đảng và Nhà nước xây dựng nền y học dân tộc Việt Nam. Thực hiện chủ trư­ơng của Bộ Y tế tăng c­ờng công tác kết hợp y học cố truyền dân tộc với y học hiện đại. Bệnh viện đã kết hợp với Viện Đông Y trung ­ Ương được Giáo s­ư  Viện trưởng Hoàng Bảo Châu và một số bác sĩ khác về bệnh viện hư­ớng dẫn lý thuyết và thực hành thực tế cho bệnh nhân đang điều trị của viện bằng các phương pháp y học dân tộc. Bệnh viện tự trồng và bào chế thuốc đông y với tỷ lệ phục vụ 70% giá trị tiền thuốc sử dụng bằng thuốc đông y cho 20 giường khoa đông y châm cứu và đạt tỷ lệ 30% tổng giá trị tiền thuốc trong toàn viện.

Những bệnh nhân mắc các bệnh kinh niên mãn tính, cũng nh­ một số benẹh cấp tính được điều trị bằng thuốc đông y tại bệnh viện về dạ dày, khớp, viêm gan, lỵ… kết quả rất tốt (qua số liệu của các đề tài nghiên cứu tổng hợp).

– Bệnh viện cũng đã phối hợp với Viện châm cứu trung ­ơng được Giáo s­ Nguyễn Tài Thu và một số chuyên viên của Viện về giảng dạy và hướng dẫn kỹ thuật châm cứu trong điều trị, châm tê trong phẫu thuật cho những bệnh nhân già yếu hoặc sức yếu không chịu đựng được tác hại của các liệu trình thuốc gây mê khi phải phẫu thuật.

Với tính hiếu học và tình thươngyêu người bệnh với bàn tay khéo léo của một số y bác sĩ của bệnh viện nên kết quả châm tê trong phẫu thuật trung, đại phẫu ổ bụng, phẫu thuật chuyên khoa đạt kết quả tốt đã được Bộ Y tế, Sở Y tế Bắc Thái khen ngợi, bệnh nhân tin t­ưởng.

+ Người thực hiện chính là: Bác sĩ Phạm Xuân Thịnh- phẫu thuật viên chính, Y sĩ Đoàn Văn An châm tê chính.

Với những kết quả đó bệnh viện đã được tham gia vào các buổi hội thảo trong nước và quốc tế về y học cổ truyền. Đư­ợc Bộ Y tế chọn làm điểm tham quan, học tập về đông y kết hợp cho các bệnh viện khác.

– Phối hợp với Quân y viện 109, Quân y viện 91 về phẫu thuật chấn thươngchỉnh hình được Giáo s­ư Nguyễn Văn Nhân về h­ướng dẫn thực hành tại bệnh viện.

– Liên hệ với Viện tim mạch trung Ư­ơng được Giáo sư ­ Đặng Văn Chung, Giáo sư ­ Trần Đỗ Trinh về hội chẩn và hướng dẫn cho cán bộ nhân viên về phương pháp điều trị, cấp cứu bệnh nhân bị bệnh tim mạch.

* Từ 1990 đến nay Trung tâm vẫn duy trì kết hợp với các bệnh viện và Viện trung ­ơng nh­:

– Kết hợp với Viện Y học lao động trung ­ơng được Giáo s­ Lê Trung-Viện trưởng và các bác sĩ có kinh nghiệm về truyền đạt cho đội ngũ cán bộ kỹ thuật về 16 bệnh nghề nghiệp, phương pháp xác định, phân loại và điều trị phục hồi cho bệnh nhân.

– Đ­ợc Giáo s­ Phạm Gia Khải- Viện trưởng Viện tim mạch và một số bác sĩ của viện về truyền đạt, hướng dẫn kỹ thuật đo, đọc điệm tim đồ và xử trí cấp cứu các trường hợp về bệnh tim mạch.

– Đ­ợc Giáo s­ Vũ Văn Đính đầu ngành về HSCC ở A9 Bệnh viện Bạch Mai về dạy các phương pháp xử trí HSCC.

– Đ­ợc Giáo s­ Quê đầu ngành về tiết niệu bệnh viện Việt đức về mổ thường xuyên và hướng dẫn kỹ thuật cho bác sĩ ngoại khoa của bệnh viện mổ tiết niệu.

– Giáo s­ Mỹ- Viện bảo vệ bà mẹ trẻ em trung ­ơng về hướng dẫn kỹ thuật mổ sản cho bác sĩ sản…

– Giáo s­ Trần Tấn Thành – bệnh viện Bạch Mai giảng cho bác sĩ về đơn SI.

– Giáo s­ Hoàng Tích Huyền- Viện kiểm nghiệm thuốc về giảng bài theo dõi tác dụng không mong muốn của thuốc trong điều trị cho cán bộ y tế toàn trung tâm.

– Đ­ợc Hội trưởng hội Y tá Việt nam bà Vi Nguyệt Hồ và các chuyên viên điều dưỡng Bộ Y tế về huấn luyện cho y tá điều dưỡng.

Đồng thời năm nào Trung tâm cũng cử một số bác sĩ, kỹ thuật viên về các bệnh vienẹ trung ­ơng, các Viện, các khoa đầu ngành trung ­ơng để học tập các kỹ thuật chuyên ngành về các lĩnh vực: Chẩn đoán bệnh, xử trí cấp cứu (Nội, Ngoại, Sản) thăm dò chức năng chăm sóc toàn diện.

Sự hợp tác XHCN trong học tập và giúp đỡ lẫn nhau với các cơ sở y tế khác đã đóng góp phần quan trọng vào việc hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn của Trung tâm và nâng cao trình độ kỹ thuật, năng lực cán bộ.

3/ Thực hiện các chế độ chuyên môn: Theo đúng chế độ, chức trách ngành y tế đã ban hành. Đồng thời không ngừng nâng cao ý thức tổ chức kỷ luatạ trong chuyên môn, tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ, tâm lý tiếp xúc với người bệnh…

Nên đã được Bộ Y tế chọn làm bệnh viện mẫu cho các lớp chuyên khoa cấp U y xã hội học trường cán bộ quản lý y tế đến tham quan học tập (năm 1984, 1985, 1986) và ng­ợc lại bệnh viện cũng thường xuyên tổ chức cho các cán bộ chủ chốt các khoa phòng ban đi tham quan học tập các cơ sở y tế tốt khác nh­:

– Tham quan bệnh viện Vân Đình (Về công tác tổ chức quản lý, năm 1970).

– Tham quan bệnh viện Việt Tiệp- Hải Phòng.

– Tham quan bệnh viện Đ­ờng Sắt- Bộ Giao thông vận tải về phương pháp quản lý hồ sơ sức khỏe cho CBCNV hàng năm.

– Tham quan Quân y viện 177 về tổ chức khai thác tự túc nguồn d­ợc liệu, kỹ thuật bào chế thuốc nam (năm 1986).

– Tham quan khoa đông y phục hồi chức năng Quân Y viện 108.

Từ đó tạo cho đội ngũ CBCNV của Trung tâm có được kiến thức vững vàng.

4/ Đối với người bệnh:

a- Bệnh viện luôn lấy tiêu chuẩn an toàn tuyệt đối cho người bệnh làm mục tiêu phấn đấu cho mọi hành động và việc làm của người thầy thuốc và nhân viên y tế.

Năm 1980- 1981 bệnh viện thực hiện có hiệu quả cao cuộc vận động của Bộ Y tế về hợp lý an toàn về thuốc trong mọi lĩnh vực.

– Đối với CBNV d­ợc phải đảm bảo an toàn tuyệt đối từ khâu quản lý d­ợc liệu, hoá chất pha chế đúng chất l­ợng, nồng độ. Bảo quản đúng, cấp phát đúng, quy chế nhãn thuốc đúng.

– Đối với các bác sĩ: Phải cho thuốc đúng bệnh, hàm l­ợng, liều l­ợng với từng loại thuốc độc A,B, kháng sinh… phải ghi trong y lện bệnh án rõ ràng chính xác và đánh số thứ tự ngày dùng, đặc biệt đối với các thuocó gây độc, gây nghiện.

– Với y tá thực hiện nghiêm chỉnh chế độ 5 kiểm tra 3 đối chiếu Trước khi dùng thuocó cho bệnh nhân và phaỉ đảm bảo được tự y tá cho bệnh nhân tiêm, uống thuốc đến tận dạ dày… số lần, số l­ợng theo đúng y lệnh trong bệnh án.

Bệnh viện đã được Bộ Y tế, Sở Y tế Bắc Thái nhiều lần kiểm tra chấm điểm và công nhận là đơn vị hợp lý an toàn về thuốc. Đ­ợc UBND tỉnh Bắc Thái tặng bằng khen (giai đoạn 1980-1985).

Một yếu tố cũng vô cùng quan trọng với người bệnh là công tác vô trùng với các dụng cụ y tế, với các phòng kỹ thuật (phòng pha thuốc, phòng mổ, phòng làm các thủ thuật, phòng hậu phẫu…) cũng nh­ các buồng bệnh nhân phải sạch. Thì kết quả điều trị tốt, giảm chi phí thuốc kháng sinh.

Cụ thể: Bệnh viện đã mạnh dạn áp dụng không dùng thuocó kháng sinh trong các trường hợp mổ: Mổ đẻ, mổ triệt sản, mổ cắt 2/3 dạ dày, mổ VRT cấp chưa vỡ, mổ các loại khối u… Sau mổ không dùng bất kỳ một lọai kháng sinh nào, nhưng phải đảm bảo vô trùng trong tất cả các khâu. Từ chuẩn bị dụng cụ cho đến khi phẫu thuật và khâu chăm sóc sau mổ.

Kết quả tất cả các bệnh nhân đó đều không bị nhiễm trùng vết mổ sau mổ.

Việc làm này được bệnh nhân rất phấn khởi (năm 1982-1983-1985).

b- Đối với bệnh nhân sau điều trị sức khỏe còn yếu và những CBCNV ở các đơn vị có sức khỏe loại 3, 4 sau các đợt khám sức khỏe định kỳ. Bệnh viện đã tổ chức điều dưỡng để phục hồi sức khỏe bằng phương pháp tập dưỡng sinh+ vật lý trị liệu, cho ăn chế độ đảm bảo đủ định l­ợng Kalo cần thiết. Tổ chức cho điều dưỡng viên đi tham quan du lịch kết hợp ở Sầm Sơn, Núi Cốc… nên bệnh nhân yên tâm phấn khởi, sức khỏe chóng hồi phục trở về với sản xuất.

(Giai đoạn năm 1973-1974-1975 Bệnh viện có 50 giường điều dưỡng tại viện).

– Năm 1990-1991-1992 có 100 giường điều dưỡng, trong đó 50 giường tổ chức điều dưỡng tại viện, 50 giường tổ chức từng đợt tại nơi nghỉ mát Hồ Núi Cốc- Bắc Thái.

c- Hàng năm bệnh viện đều tổ chức các đoàn cán bộ y tế có đủ trình độ và phương tiện đi xuống các cơ sở xí nghiệp trực thuộc Công ty và ngành ở xa Trung tâm viện nh­ khu vực tỉnh Quảng Ninh, Nghệ An, Quảng Nam đà Nẵng, Lạng Sơn, Bắc Thái… để khám sức khỏe định kỳ, điều trị tại chỗ các bệnh nội khoa thông thường, các bệnh chuyên khoa và sinh đẻ kế hoạch cho công nhân. Đồng thời để kết hợp giúp đỡ các cơ sở chấn chỉnh công tác y tế (trang bị thuốc men, phương tiện y tế và kỹ thuật).

– Năm 1970-1971 Tổ chức phòng khám 2 tại Thị xã Cẩm Phả với 40 CBCNV và phương tiện xe cứu th­ơng, máy XQ nửa sóng để khám điều trị cho bệnh nhân ở khu vực Quảng Ninh.

– Đã cùng với trạm xá mỏ Na D­ương (Lạng Sơn) củng cố cơ sở và triển khai được các phẫu thuật trung, đại phẫu tại bệnh xá để bệnh nhân không phải đến bệnh viện xa.

– Các thủ thuật nhỏ thuộc các chuyên khoa đều giải quyết chủ yếu ở các bệnh xá của xí các nghiệp.

– Năm 1991-1992-1993 Trung tâm đã thành lập đội cán bộ y tế làm nhiệm vụ khảo sát và phòng chống sốt rét cho công nhân dọc tuyến đ­ờng dây 500 KW Bắc Nam.

– Tổ chức các đội đi cấp cứu và phòng chống dịch khi có lệnh:

+ Chống dịch tả năm 1980.

+ Chống dịch sởi năm 1981.

+ Chống dịch viêm gan siêu vi trùng năm 1983.

+ Chống dịch sốt rét năm

+ Dịch sốt xuất huyết năm 1984.

đã được Sở Y tế bắc Thái và Công ty khen ngợi.

5/ Vệ sinh môi trường và bệnh nghề nghiệp:

Là một Trung tâm y tế ngành nên những yếu tố và điều kiện lao động có ảnh h­ởng đến sức khỏe người lao động đều được Trung tâm nghiên cứu nh­: Đi kiểm tra và xác định vi khí hậu, độ rung, tiếng ồn, độ bụi, ánh sáng, nguồn nước sinh hoạt… ở nơi công nhân sản xuất cũng nh­ nơi ở… Những nơi tiêu chuẩn kiểm tra v­ợt quá giới hạn cho phép ảnh h­ởng đến sức khỏe người lao động, Trung tâm đều có kiến nghị và biện pháp với các đơn vị khắc phục.

Những công nhân sau khi xác định và giám định bị mắc bệnh nghề nghiệp thì Trung tâm tổ chức điều trị phục hồi tại trung tâm.

– Năm 1988 tổ chức 2 đợt cho số bệnh nhân khu vực Quảng Ninh.

– Năm 1990 tổ chức 2 đợt mỗi đợt 2 tháng.

– Năm 1991 tổ chức 2 đợt mỗi đợt 2 tháng.

– Năm 1994-1995 tiếp tục khảo sát giám định.

– Năm 1996 đang điều trị phục hồi số bệnh nhân bụi phổi thuộc các mỏ và Công ty than Nội Địa.

6/ Nghiên cứu khoa học:

Các đề tài nghiên cứu khoa học đã được sơ tổng kết và đánh giá kết quả:

– Kết quả điều trị bệnh viêm loét dạ dày bằng thuốc nam bệnh viện tự sản xuất.

– Điều trị bệnh viêm khớp mãn tính bằng thuốc nam.

– Điều trị bệnh viêm san SVT bằng thuốc nam.

– Kết quả bước đầu áp dụng phương pháp không dùng kháng sinh dự phòng trong các trường hợp mổ ổ bụng nh­: cắt 2/3 dạ dày, Viêm ruột thừa cấp, chửa vỡ, mổ đẻ…

– áp dụng phương pháp châm tê trong phẫu thuật.

– Bệnh viện phế quản mãn trong công nhân.

– Bệnh tim mạch trong cộng đồng.

– Bữa ăn công nghiệp cho công nhân Ngành Than.

– Khảo sát điều kiện lao động nữ ngành Năng Lượng.

– Bệnh bụi phổi Silic trong công nhân Ngành Than.

– Thường xuyên cử cán bộ đi nghe các báo cáo khoa học và báo cáo chuyên đề tại các bệnh viện trung ­ơng để nâng cao kiến thức.

– Luôn cải tiến hợp lý hóa trong các khâu phục vụ của y tá, hộ lý, kỹ thuật viên.

7/ Thực hiện chế độ chính sách, góp công sức tham gia chống chiến tranh phá hoại và bảo vệ tổ quốc.

– Trong giai đoạn chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Trung tâm đã thành lập 3 đội phục vụ cấp cứu khi có lệnh:

1 Sơ cứu tuyến 1 tại nơi có chiến sự.

1 Đội vận chuyển nạn nhân.

1 Đội phẫu thuật và điều trị.

Kèm theo đủ thuốc và phương tiện cần thiết.

– Giai đoạn năm 1979 khi xảy ra chiến tranh ở 6 tỉnh biên giới phía Bắc, Trung tâm đã chủ động tham gia cứu chữa thương binh ngay từ ngày đầu.

+ Ngày 22/2/1979 Trung tâm đã cử đội cấp cứu gồm người, xe ô tô, phương tiện lên Bắc Cạn, Ngân Sơn tỉnh Cao Bằng để cấp cứu phân loại nạn nhân và chuyển về tuyến sau:

+ Cử 1 đội phẫu thuật:

1 Đội điều trị.

1 Đội hậu cần.

Sang phối hợp với Quân y viện 91 cứu chữa thương binh trong thời gian 3 tháng.

+ Tại trung tâm đã giành riêng 50 giường bệnh để điều trị, chăm sóc nạn nhân chiến tranh.

Trung tâm đã được tỉnh Bắc Thái đề nghị Chính phủ tặng bằng khen. Quân khu I tặng cờ đơn vị quyết thắng, 6 cá nhân được tặng danh hiệu chiến sĩ quyết thắng( Đ/C BS Thịnh, BS Tân, BS Khảo, Y sĩ Đặng Hoa Lợi, Đ/C Đinh văn Kh­ương, Đ/C Bùi đình Băng lái xe).

– Hàng năm con em CBCNV đến tuổi nghĩa vụ quân sự đều được động viên hăng hái lên đ­ường làm nhiệm vụ (không phân biệt là con cán bộ chủ chốt hoặc con nhân viên).

– Trung đội tự vệ của Trung tâm hàng năm đều được tập luyện theo đúng chương trình và kế hoạch của quân sự địa phương.

Phong trào 3 bảo vệ được duy trì:

+ Bảo vệ trị an.

+ Bảo vệ an toàn cho bệnh nhân.

+ Bảo vệ tài sản XHCN.

Qua kiểm tra đánh giá của quân sự địa phương, Trung tâm đều đạt danh hiệu đơn vị quyết thắng (được tặng cờ và bằng khen).

Có 3 năm không đạt đơn vị quyết thắng vì lý do còn để xảy ra mất trộm tài sản tuy giá trị không nhiều:

– Năm 1980 bị mất trộm kho d­ợc.

– Năm 1983 bị cậy cửa Phòng tài vụ.

– Năm bị cậy cửa kho lẻ khoa D­ợc nhưng chưa bị mất thuốc.

– Năm 1993 bị cậy cửa khoa xét nghiệm lấy mất 2 kính hiển vi đã cũ và 1 kính hiển vi hỏng.

8/ Đơn vị chăm lo đời sống CBCNV và bệnh nhân:

  1. a) Đối với bệnh nhân:

Từ khi thành lập đến nay vẫn duy trì chế độ phục vụ tại chỗ (cho bệnh nhân m­ợn) chăn màn, quần áo và một số đồ dùng sinh hoạt khác.

Cho bệnh nhân ăn theo chế độ bệnh lý, và theo chế độ tiêu chuẩn từng đối t­ợng bệnh nhân.

– Thộời kỳ còn bao cấp phục vụ đủ tiêu chuẩn định l­ợng Nhà nước cấp cho giường bệnh đường, sữa, thịt, đậu và thực phẩm khác…)

– Thời kỳ hết bao cấp Trung tâm phải đến các cơ sở xí nghiệp trong Ngành, trong Công ty để xin hỗ trợ bổ xung thêm vào bữa ăn cho bệnh nhân. Ví dụ: Xin than để nấu thức ăn, nước uống cho bệnh nhân không tính tiền vào định l­ợng bữa ăn của bệnh nhân.

– Hiện nay: Ngoài chế độ phục vụ theo bệnh lý. Nhà ăn phục vụ theo yêu cầu của bệnh nhân và người nhà bệnh nhân cả về số l­ợng, chất l­ợng. Mọi chế độ phục vụ khác theo yêu cầu chủa chỉ thị 11 Bộ Y tế quy định.

  1. b) Đối với CBCNV:

Từ khi thành lập đến nay đã 4 lần di chuyển toàn bộ cơ sở đoá là chưa kể đến những lần lụt bão và gió xoáy làm ngập, tốc mái 2/3 cơ sở nhà ở của CBCNV và khu bệnh nhân nên đời sống CBCNV của trung tâm không ít khó khăn, không CBCNV nào có nhà riêng mà hầu hết ở nhà tập thể.

– Giai đoạn 1967-1978 100% CBNV ở nhà tranh tre nứa lá, không có điện l­ưới mà mỗi tối chỉ có 4 tiếng có điện bằng máy phát điện của đơn vị để sinh hoạt.

Mọi sinh hoạt thường ngày của mỗi gia đình đều dựa vào lươngtháng + với tăng gia chăn nuôi.

– Giai đoạn 1978-1991 dần dần 100% CBCNV được ở nhà cấp 4 lợp ngói, sinh hoạt văn hóa xã hội được nâng lên do có điện quốc gia nhưng sinh hoạt cũng quá thiếu thốn vì nền kinh tế ở thời kỳ suy thoái, mọi chế độ bao cấp đều thiếu thốn.

Để đảm bảo được đời sống CBCNV yên tâm hoàn thành nhiệm vụ, Trung tâm đã tổ chức và đảm nhiệm toàn bộ việc đi mua các hàng hóa lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm… theo tiêu chuẩn về phân phối lại tại chỗ cho anh em. Lo toàn bộ các thủ tục chuyển, nhập khẩu, khai sinh, xin học cho các cháu… để giảm bớt các thủ tục phiền hà dành nhiều thời gian để CBCNV làm việc tập thể và gia đình.

– Khuyến khích phong trào tăng gia chăn nuôi tập thể gia đình nh­: đi liên hệ xin đất của đại phương để cấy lúa, trồng khoa sắn, đỗ lạc, cho vay vốn để mua giống lợn, gà chăn nuôi.

Ví dụ: Năm 1981 toàn đơn vị và cá nhân tăng gia được 1878kg thóc, 2623kg thịt lợn, 741kg gà vịt, 2550kg sắn khoai.

Việc tăng gia tập thể và tăng gia gia đình đã góp phần quan trọng trong thu nhập và cải thiện sinh hoạt của CBCNV.

– Giai đoạn 1992 cho đến nay do hoàn cảnh Trung tâm chuyển cơ sở từ Bắc Thái về Đông Anh- Hà Nội. Toàn bộ cơ sở vật chất nhà cửa, hệ thống đ­ường điện, nước (khu bệnh viện và khu tập thể) đều giao lại cho địa phương tỉnh Bắc Thái theo phương thức tă­ng vốn đại phương, giảm vốn của ngành. Trong điều kiện hiện nay không còn chế độ bao cấp, Nhà nước cấp vốn để đơn vị làm nhà ở tập thể, mà Nhà nước đã đ­a chế độ tiền nhà vào trong lươngnên CBCNV phải tự lo lấy nhà ở.

Đây là một khó khăn lớn về đời sống sinh hoạt của CBCNV hiện nay, vì số lươngcủa CBCNV sự nghiệp y tế quá thấp không có khả năng tích luỹ mua đất, mua nhà.

Cụ thể:

Lươngvà phụ cấp lương bình quân/1CBCNV:

– Năm 1992

– Năm 1993

– Năm 1994 là 275.015đ/người/tháng.

– Năm 1995 là 276.918đ/người/tháng.

– Năm 1996

Và mức tính tiền nhà trong lươngbình quân/tháng.

Vậy hiện nay còn 70% CBCNV vẫn đang phải ở nhà m­ợn tạm của Công ty xây lắp điện 4 (nhà cấp 4 đã xuống cấp tới mức báo động) và Công ty điện 4 cũng đang đòi.

Một số còn lại ở nhà thuê của Nhà nước và trả tiền nhà hàng tháng (nhà cũng quá xuống cấp không được sửa).

Trung tâm đã xây dựng một số biện pháp:

– Xin vốn hỗ trợ của Nhà nước, của Bộ và Công ty chủ quản.

– Phương án xin vay không tính lãi hoặc lãi xuất thấp để CBCNV trả dần…

Nhưng cũng chưa được giải quyết.

Để ổn định được mức sống CBCNV hiện nay vẫn đang được duy trì bằng các nguồn:

+ Bộ và Công ty chủ quản hỗ trợ thêm vào các ngày lễ tết.

+ Nguồn lương và phụ cấp lương theo cấp bậc, kỹ thuật, chức vụ.

+ Nguồn thu dịch vụ y tế.

Nên Tổng thu nhập bình quân/tháng mỗi CBCNV là: 388.398đ(năm 1994).

Còn phát triển tăng gia, chăn nuôi, làm kinh tế gia đình từ năm 1991 đến nay không thực hiện được (vì nơi ở chật chội tạm bợ).

9/ Hoạt động của tổ chức đoàn thể:

Giai đoạn 1968 đến 1975:

  1. a) Tổ chức đoàn thanh niên đã luôn đi đầu trong mọi phong trào thi đua của đơn vị nh­ xây dựng và thực hiện thành công các công trình do Đoàn thanh niên đảm nhiệm.

+ Phong trào xây dựng ngoài giờ vào các ngày chủ nhật tất cả các công trình nhà tắm, nhà vệ sinh phục vụ bệnh nhân và ở các khu tập thể CBCNV (năm 1969-1970).

+ Nhận đảm nhiệm các buồng bệnh thanh niên làm theo lới Bác, các cặp bệnh án thanh niên, v­ờn rau xanh thanh niên cung cấp cho nhà ăn, các v­ờn hoa thanh niên.

Năm 1972 Đoàn thanh niên đã thực sự đi đầu và thực hiện phong trào dành cơ Nguyễn Văn Trỗi do Trung ­ơng đoàn phát động, kết quả Đoàn thanh niên Bệnh viện đã được Trung ­ơng Đoàn

Giai đoạn 1980 trở lại đây phong trào đoàn ngày càng lắng chỉ khi nào phát thì động chứ không được duy trì một cách tự giác.

  1. b) Tổ chức Công đoàn: Đã thực sự đi vào việc chăm lo đến quyền lợi của CBCNV cùng với Đoàn thanh niên từng thời kỳ tham gia sôi nổi các phong trào văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao và tăng gia cải thiện đời sống.

– Giai đoạn 1968-1975 còn bao cấp văn hóa xã ghội chưa phát triển, Công đoàn đã xây dựng được nhà ăn tập thể 5 tốt. Phong trào học bổ túc văn hoá phổ cập hết cấp 1, cấp 2, cấp 3 đối với từng đối t­ợng CBCNV.

Phong trào văn nghệ, thể dục thể thao hàng năm vào các ngày lễ 1/5, 19/5, 2/9 … đều tổ chức biểu diễn văn nghệ với các bài hát múa, thơ, tấu tự biên tự diễn. Mời các độ bóng của địa phương, quân đội về đấu giao hữu. Mỗi tháng liên hệ mời đội chiếu phim l­u động về phục vụ CBCNV và bệnh nhân 1 lần (Công đoàn và Đoàn thanh niên tổ chức bán vé và quản lý trật tự an ninh).

– Khi nền kinh tế của thời kỳ cuối bao cấp khó khăn đời sống CBCNV quá thiếu thốn (1976-1986) Công đoàn đã đứng ra để tổ chức các lao động tập thể nh­:

– Tổ chức chăn nuôi lợn tập thể.

– Xin đất để cấy lúa, trồng khoai sắn tập thể.

– Đi lao động tận thu than phụ phẩm ở các bãi thải một số mỏ vùng Quảng Ninh, Bắc Thái…

– Tổ chức các dịch vụ căng tin, trông xe đạp… đối với số nhân viên dôi d­ khi thực hiện chỉ thị 176 của Chính phủ.

– Thường xuyên quan tâm đến xây dựng nhà trẻ, mẫu giáo tiên tiến, việc học hành của con em CBCNV, giúp đỡ những CBCNV khi gặp khó khăn hoạn nạn… Do vậy tổ chức Công Đoàn đã cùng với chính quyền Trung tâm giữ được sự ổn định và phát triển của đơn vị trong từng giai đoạn.

Tổ chức Công đoàn đã được Công đoàn (Liên đoàn tỉnh Bắc Thái, huyện Phổ Yên cũng nh­ Công đoàn Ngành, Công ty chủ quản nhiều lần cấp bằng khen, giấy khen, hiện vật cho tập thể).

Cá nhân có 2 đồng chí được Tổng kiên đoàn lao động Việt Nam tặng huy chương vì sự nghiệp xây dựng tổ chức Công đoàn. Quyết định năm 1993.

– Đ/C Nguyễn thị Thanh Tâm.

– Đ/C Đinh văn Kh­ơng.

  1. c) Phong trào nữ CNVC:

Một đặc điểm của Trung tâm từ khi thành lập đến nay, năm nào tỷ lệ nữ cũng chiếm 60-70% với tổng số. Có nhiều khoa phòng 100% là nữ, chị em luôn bền bỉ chịu đựng mọi khó khăn khi chồng con đi chiến đấu ngoài chín trường.

Có 6 chị là vợ liệt sĩ.

4 chị chồng chết do tai nạn trong lúc làm việc và đi làm nhiệm vụ.

Các phong trào Trung ­ơng hội phát động nh­:

– Phong trào phụ nữ 3 đảm đang ( Thời kỳ còn chiến tranh).

– Phong trào giỏi việc nước đảm việc nhà (khi hòa bình).

– Phong trào xây dựng nếp sống văn minh gia đình hạnh phúc.

– Phong trào nuôi con khỏe dạy con ngoan.

– Phong trào sinh đẻ kế hoạch (kế hoạch hóa gia đình).

Đã 10 năm nay không có chị em nào sinh con thứ ba.

– Nhiều chị đạt các danh hiệu chiến sĩ thi đua cấp cơ sở, cấp công ty, ngành và nhiều bằng khen của địa phương cũng nh­ của Bộ, công ty các thời kỳ. Có chị được Trung ­ơng Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam tặng huy chương vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ. Quyết định năm 1995 chị Nguyễn Thị Thanh Tâm.

Với tấm lòng thươngyêu người bệnh nh­ người ruột thịt của mình. Khắc phục mọi khó khăn, toàn tâm toàn ý vì người bệnh. Trong suốt 29 năm Trung tâm luôn được nhân dân và CBCNV trong ngành tin yêu, Bộ Y tế tin t­ởng.

Nhiều cán bộ chuyên môn được suy tôn danh hiệu chiến sĩ thi đua qua các năm.

đặc biệt năm 1995 bác sĩ Phạm Xuân Thịnh- Giám đốc Trung tâm được Chính phủ phong tặng danh hiệu Thầy thuốc ­u tú.

Phần III:

Những thuận lợi- khó khăn và thành tích trong quá trình phát triển của đơn vị

I/ Thuận lợi:

– Tập thể CBCNV cả quá trình từ khi thành lập đến nay đều ở nhà tập thể gần đơn vị nên mọi tổ chức hoạt động được thuận lợi.

– ý thức tổ chức kỷ luật và chấp hành chính sách tốt. Ham học hỏi và nâng cao trình độ.

– Cán bộ chủ chốt của Viện cũng nh­ các khoa phòng đều được bồi dưỡng đào tạo tại đơn vị người sau thay thế người Trước khi đến tuổi nghỉ h­u.

– Đơn vị luôn được sự quan tâm, giúp đỡ của Bộ, của Công ty chủ quản, quan tâm giúp đỡ của chính quyền địa phương nơi đơn vị đóng quân qua từng thời kỳ.

– Đ­ợc sự chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ của Bộ Y tế, Sở Y tế địa phương.

– Đ­ợc sự quan tâm của các benẹh viện, viện Trung ­ơng và sự hợp tác tốt với các cơ sở y tế khác.

II/ Khó khăn:

– Do đặc điểm của ngành liên tục tách nhập nên việc chỉ đạo của Bộ, công ty chủ quản không được liên tục.

– Cơ sở vật chất thiếu thốn, không ổn định bình quân 7 năm di chuyển địa điểm cơ sở một lần nên ảnh h­ởng rất lớn đến đời sôngs CBCNV.

– Cơ sở: Hấu hết các phòng kỹ thuật không đúng và không phù hợp với yêu cầu chuyên môn phải tu sửa cải taọ nhiều.

– Trang bị phương tiện phục vụ chuyên môn thiếu thốn, cũ, hỏng không có kinh phí sửa chữa thay thế kịp thời kéo dài 15 năm đến 20 năm bổ xung không được là bao, mãi đến năm 1995 mới được trang bị một số máy móc có giá trị giúp cho chẩn đoán và điều trị.

Nh­: Máy gây mê, máy thở, dao điện, siêu âm, điện não…

Có những máy nh­: XQ D300 đã 29 năm nay chưa được thay thế.

Khoa Hồi sức cấp cứu cũng chưa có đủ điều kiện cần thiết để phục vụ cấp cứu.

III/ Những thành tích đã đạt được:

Tập thể:

– Đ­ợc Chính phủ tặng Huân chương lao động hạng II năm 1982.

– Đ­ợc Quân khu I tặng cờ đơn vị Quyết thắng, năm 1982.

– Nhiều năm đạt danh hiệu đơn vị Quyết thắng về phong trào dân quân tự vệ.

– Đ­ợc nhiều bằng khen của Bộ chủ quản, của Bộ Y tế, Sở Y tế tặng về thành tích khắc phục khó khăn hoàn thành nhiệm vụ.

– 19 tổ đạt danh hiệu Tổ lao động XHCN qua các năm.

– Đoàn thanh niên được Trung ­ơng Đoàn tặng cờ Nguyễn Văn Trỗi.

Cá nhân:

– 1 Đ/C Giám đốc được Chính phủ phong tặng danh hiệu “Thầy thuốc ­u tú”.

( Bác sĩ Phạm Xuân Thịnh)

– 13 Đ/C được Bộ Y tế phong tặng huy chương vì sức khỏe nhân dân.

– 15 Đ/C đạt danh hiệu chiến sĩ thi đua cấp cơ sở, cấp Công ty và Ngành.

– 8 Đ/C được tặng danh hiệu chiến sĩ quyết thắng.

– 45 Đ/C được Bộ chủ quản tặng danh hiệu Thợ mỏ vẻ vang hạng nhất, nhì.

– 2 Đ/C được Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam tặng huy chương vì sự nghiệp xây dựng tổ chức Công đoàn.

– 1 Đ/C được Trung ­ương Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam tặng Huy chương vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ./.

Chức năng - Nhiệm vụ

Cấp cứu – Khám bệnh – Chữa bệnh:
  • Tiếp nhận mọi trường hợp người bệnh thuộc chuyên khoa của bệnh viện để khám bệnh, chữa bệnh nội trú hoặc ngoại trú.
  • Giải quyết hầu hết các bệnh thuộc chuyên khoa ở địa phương.
  • Tham gia khám giám định sức khỏe và khám giám định pháp y khi Hội đồng giám định y khoa Thành phố hoặc cơ quan bảo vệ pháp luật trưng cầu.
Đào tạo cán bộ:
  • Bệnh viện là cơ sở thực hành để đào tạo cán bộ y tế chuyên khoa ở bậc đại học và trung học, đồng thời tham gia giảng dạy chuyên khoa ở bậc đại học và trung học.
  • Tổ chức đào tạo liên tục cho cán bộ viên chức y tế trong bệnh viện và tuyến dưới để nâng cao trình độ chuyên khoa.
Nghiên cứu khoa học về y học:
  • Tổ chức thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật về chuyên khoa ở cấp Nhà nước, cấp Bộ và cấp Cơ sở, chú trọng nghiên cứu y học cổ truyền kết hợp với y học hiện đại và các phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc.
  • Nghiên cứu, triển khai dịch tễ học cộng đồng thuộc lĩnh vực chuyên khoa để phục vụ công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu.
Phòng bệnh:
  • Phối hợp với các cơ sở y tế dự phòng và thực hiện thường xuyên công tác phòng bệnh, phòng dịch.
Hợp tác quốc tế:
  • Hợp tác với các tổ chức hoặc cá nhân ngoài nước theo quy định của Nhà nước.
Chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn kỹ thuật:
  • Lập kế hoạch và tổ chức thực hiện việc chỉ đạo chuyên khoa tuyến dưới và những người hành nghề tư về chuyên khoa trong địa bàn được Sở Y tế phân công để phát triển kỹ thuật chuyên khoa và nâng cao chất lượng cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh chuyên khoa.
  • Kết hợp với các cơ sở y tế thực hiện chương trình và kế hoạch chăm sóc sức khỏe ban đầu và các chương trình hoạt động chuyên khoa tại cộng đồng trong khu vực được phân công.
Quản lý kinh tế y tế:
  • Có kế hoạch sử dụng hiệu quả cao ngân sách Nhà nước cấp.
  • Thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của Nhà nước về thu chi ngân sách của bệnh viện. Từng bước hạch toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh.
  • Tạo thêm nguồn kinh phí từ các dịch vụ y tế: Viện phí, bảo hiểm y tế, đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế khác.

Lịch sử phát triển

1997
Quá trình hoạt động

bắc thăng long

2000
Quá trình hoạt động

bắc thăng long

2003
Quá trình hoạt động

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipisicing elitie

2007
Quá trình hoạt động

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipisicing elitie

2010
Quá trình hoạt động

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipisicing elitie

2015
Quá trình hoạt động

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipisicing elitie

2017
Quá trình hoạt động

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipisicing elitie

2020
Quá trình hoạt động

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipisicing elitie

Cơ cấu tổ chức

Vũ Thành Chung

Giám đốc

Ông Trần Xuân Thăng

Giám đốc

Bà Ngô Thị Tuyết Lan

Phó Giám đốc

Ông Nguyễn Văn Thành

Trưởng phòng Kế hoạch tổng hợp

Ông Phạm Thái Anh

Trưởng phòng Tổ chức cán bộ

Bà Hoàng Thị Bích Quyên

Trưởng phòng Tài chính kế toán

Bà Đoàn Thị Phương Như

Trưởng phòng Hành chính quản trị