
THƯ MỜI BÁO GIÁ VỆ SINH CÔNG NGHIỆP TẠI BỆNH VIỆN NĂM 2027,2028
THƯ MỜI BÁO GIÁ VỆ SINH CÔNG NGHIỆP TẠI BỆNH VIỆN NĂM 2027,2028 Chi tiết: xem tại đây!

THƯ MỜI BÁO GIÁ VỆ SINH CÔNG NGHIỆP TẠI BỆNH VIỆN NĂM 2027,2028 Chi tiết: xem tại đây!

Chi phí điều trị các bệnh liên quan đến thuốc lá lên tới 8,3 nghìn tỷ đồng năm 2019 và tăng lên 8,7 nghìn tỷ đồng vào năm 2022, chiếm khoảng 7,5% tổng chi từ quỹ BHYT. Khói thuốc lá là nguyên nhân gây ra 28 nhóm bệnh, trong đó điển hình là ung thư, tim mạch, hô hấp… Theo Tổ chức Y tế Thế giới hút thuốc lá gây ra nhiều bệnh mạn tính và nan y và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu mà có thể phòng tránh được. Trong khói thuốc có khoảng 7.000 chất hóa học, trong đó có 69 chất gây ung thư và là nguyên nhân gây ra 28 nhóm bệnh, điển hình như các bệnh ung thư, tim mạch, hô hấp và ảnh hưởng sức khỏe sinh sản của cả nam và nữ giới. Việc sử dụng thuốc lá kéo dài hàng thế kỷ đã gây ra thảm họa y tế công cộng to lớn lẽ ra có thể tránh được. Sử dụng thuốc lá được cho là liên quan mật thiết tới bệnh tật của hầu hết các cơ quan trong cơ thể, làm suy giảm sức khỏe và gây hại cho thai nhi. Phơi nhiễm trước khói thuốc cũng được coi là liên quan mật thiết với ung thư, các bệnh hô hấp và bệnh lý tim mạch, và gây tác hại cho sức khỏe của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Ngoài việc gây bệnh, hút thuốc lá còn gây ra nhiều tác hại cho cơ thể như gây viêm nhiễm và làm suy giảm chức năng miễn dịch. Ước tính cứ 2 người hút thuốc lá thì có 1 người sẽ chết sớm, trong đó 1/2 số ca tử vong xảy ra ở tuổi trung niên, trung bình làm mất đi từ 20 đến 25 năm thời gian làm việc. Báo cáo tổng kết 13 năm thi hành Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá gửi Bộ Tư pháp thẩm định hồ sơ luật của dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại thuốc lá cho biết tại Việt Nam, theo báo cáo của Tổ chức y tế thế giới năm 2021, sử dụng thuốc lá đã và đang gây ra gánh nặng bệnh tật và tử vong sớm tại Việt Nam, với hơn 100.000 ca tử vong do thuốc lá mỗi năm (trong đó 84.500 người tử vong/năm do hút thuốc chủ động và 18.800 người tử vong do tiếp xúc thụ động với khói thuốc). Bên cạnh đó, chi phí y tế và thiệt hại kinh tế do sử dụng thuốc lá rất lớn (108 nghìn tỷ đồng, tương đương 1,14% GDP năm 2022). Việc sử dụng các sản phẩm thuốc lá gây ảnh hưởng tiêu cực đối với phát triển kinh tế và xã hội, khó đạt được các mục tiêu y tế quốc gia của Việt Nam, cũng như cam kết đạt được các mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs) liên quan đến sức khỏe. Thuốc lá cũng là nguyên nhân làm cho rừng bị tàn phá và ô nhiễm môi trường. Hàng năm có khoảng 5% diện tích rừng bị phá để trồng cây thuốc lá cũng như lấy gỗ để sấy thuốc lá. Ước tính mỗi năm cần 18 tỷ cây xanh để làm củi sấy thuốc lá. Việc sử dụng thuốc lá thải ra môi trường mỗi năm khoảng từ 3.000 đến 6.000 tấn formaldehyde, từ 12.000 đến 47.000 tấn nicotine và từ 300 đến 600 triệu kg chất thải độc hại của các mẩu thuốc lá. Riêng đối với quỹ BHYT, chi phí điều trị các bệnh liên quan đến thuốc lá lên tới 8,3 nghìn tỷ đồng năm 2019 và tăng lên 8,7 nghìn tỷ đồng vào năm 2022, chiếm khoảng 7,5% tổng chi từ quỹ. Bên cạnh đó, chi tiêu trực tiếp từ hộ gia đình cũng ở mức cao, với 7,7 nghìn tỷ đồng năm 2019 và 8,1 nghìn tỷ đồng năm 2022. Những con số này cho thấy, tác hại của thuốc lá không chỉ dừng lại ở lĩnh vực y tế mà còn lan rộng, ảnh hưởng đến an sinh xã hội và sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Sự gia tăng nhanh chóng các sản phẩm thuốc lá mới khiến tỷ lệ sử dụng tăng lên Tại Việt Nam, hút thuốc lá vẫn là hình thức sử dụng chủ yếu. Với việc ban hành Luật Phòng chống tác hại của thuốc lá và tổ chức thực hiện khá đồng bộ các giải pháp về Phòng chống tác hại của thuốc lá, tỷ lệ hút thuốc ở người trưởng thành có xu hướng giảm trong hơn một thập kỷ qua. Theo kết quả điều tra và các nghiên cứu quốc gia, tỷ lệ sử dụng thuốc lá điếu ở nam giới trưởng thành giảm trung bình khoảng 0,5% mỗi năm, từ 47,4% năm 2010 xuống còn 38,9% năm 2023. Tỷ lệ hút thuốc ở thanh thiếu niên cũng giảm rõ rệt, từ 5,36% năm 2013 xuống 2,78% năm 2019 ở nhóm 13–17 tuổi, và từ 2,5% năm 2014 xuống 1,9% năm 2022 ở nhóm 13–15 tuổi. Cùng với đó, tỷ lệ phơi nhiễm với khói thuốc lá thụ động đã giảm đáng kể ở tất cả các môi trường, bao gồm hộ gia đình, nơi làm việc và nơi công cộng. Giai đoạn 2010–2024 ghi nhận mức giảm rõ rệt tại nhà (từ 73,1% xuống 44,9%), nơi làm việc (từ 55,9% xuống 22,4%) và trên phương tiện giao thông công cộng (từ 34,4% xuống 22,9%). Những kết quả này phản ánh tác động tích cực của việc triển khai Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá và các văn bản hướng dẫn thi hành. Tuy nhiên, các thành tựu trong kiểm soát thuốc lá điếu truyền thống đang đối mặt với nguy cơ bị suy giảm do sự gia tăng nhanh

Công văn 5766/BYT-BH ngày 03/8/2026 của Bộ Y tế yêu cầu các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (KCB) BHYT thực hiện nghiêm quy định nhằm bảo đảm quyền lợi của người tham gia BHYT. Theo Công văn 5766/BYT-BH, thời gian vừa qua, Bộ Y tế nhận được một số phản ánh của người bệnh BHYT khi đi KCB BHYT đúng trình tự, thủ tục quy định, không đăng ký KCB theo yêu cầu nhưng vẫn phải nộp thêm các chi phí khám bệnh, chữa bệnh ngoài phần cùng chi trả. Bộ Y tế yêu cầu các đơn vị thực hiện nghiêm túc, trong đó người đứng đầu cơ sở KCB BHYT có trách nhiệm bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người tham gia BHYT. Thanh toán chi phí KCB BHYT theo đúng phạm vi quyền lợi, mức hưởng, tỷ lệ hưởng của người bệnh theo quy định. Trường hợp người bệnh không đăng ký dịch vụ KCB theo yêu cầu, chỉ đăng ký KCB BHYT đúng trình tự, thủ tục quy định: Không được yêu cầu người bệnh ký cam kết điều trị và nộp thêm tiền chênh lệch giữa giá dịch vụ KCB BHYT và giá dịch vụ KCB tính đúng, tính đủ các chi phí. Sở Y tế các tỉnh, thành phố rà soát việc phân bổ số lượng thẻ BHYT ban đầu tại các cơ sở KCB BHYT trên địa bàn tỉnh. Trường hợp người bệnh có thẻ BHYT khi đi KCB đúng trình tự, thủ tục quy định, không đăng ký dịch vụ KCB theo yêu cầu mà vẫn phải nộp thêm các chi phí KCB ngoài phần cùng chi trả theo quy định thì đề nghị kiểm tra, xử lý theo quy định và xem xét khả năng đáp ứng quy định của pháp luật về BHYT để điều chỉnh số lượng thẻ đăng ký BHYT ban đầu của cơ sở KCB đó cho phù hợp, đúng quy định, bảo vệ quyền lợi của người bệnh. Đồng thời, Bộ Y tế đề nghị người đứng đầu các đơn vị khẩn trương chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc và chịu trách nhiệm về việc thực hiện tại cơ quan, đơn vị, địa phương mình quản lý./. https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/linh-vuc-bao-hiem-y-te.aspx?ItemID=26895&CateID=169

Luật Thủ đô năm 2026 bổ sung nhiều cơ chế, chính sách đặc thù nhằm tăng cường năng lực của hệ thống y tế Thủ đô, trong đó y tế cơ sở được xác định là nền tảng của công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân. Chính sách đặc thù phát triển hệ thống y tế Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 17-3-2026 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới xác định: Phát triển dịch vụ y tế hiện đại; khuyến khích phát triển y tế tư nhân chất lượng cao; phát triển y tế kỹ thuật cao, chuyên sâu; đẩy mạnh chuyển đổi số trong y tế, quản lý sức khỏe của người dân bằng dữ liệu số; thúc đẩy phát triển du lịch, y tế, kinh tế bạc và các khu phức hợp chăm sóc sức khỏe người cao tuổi. Phát triển hệ thống an sinh xã hội bao trùm, bảo đảm mọi người dân được tiếp cận dịch vụ cơ bản chất lượng cao… Luật Thủ đô năm 2026 đã có quy định để thể chế hóa chủ trương này. Cụ thể, trên cơ sở kế thừa một số quy định còn phù hợp của Luật Thủ đô năm 2024, Luật Thủ đô năm 2026 đã bổ sung những nội dung mới nhằm thể chế hoá mục tiêu và định hướng chiến lược trong các nghị quyết của Đảng về phát triển hệ thống y tế Thủ đô hiện đại, tiên phong trong ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi số, trở thành trung tâm y tế lớn, hạt nhân của Vùng Thủ đô và cả nước. Luật phân quyền toàn diện và triệt để cho chính quyền thành phố Hà Nội để Thủ đô ban hành, tổ chức thực hiện các chính sách, biện pháp đặc thù trong lĩnh vực y tế. Theo đó, Luật trao thẩm quyền cho thành phố quyết định các vấn đề tài chính y tế (Điểm a, b, c Khoản 1 Điều 17). Thành phố được ban hành chính sách hỗ trợ từ ngân sách thành phố để chi trả cho các chi phí khám bệnh, chữa bệnh ngoài phạm vi chi trả của quỹ bảo hiểm y tế theo lộ trình phù hợp; các dịch vụ, giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh lưu động, từ xa, ứng dụng công nghệ số, chính sách phát triển hệ thống cấp cứu ngoại viện, vận chuyển y tế; giá dịch vụ cấp cứu ngoại viện và tỷ lệ đồng chi trả của người bệnh khi sử dụng dịch vụ cấp cứu ngoại viện để làm cơ sở thực hiện việc hỗ trợ thanh toán. Quy định nhằm hỗ trợ tài chính, khuyến khích người dân khám chữa bệnh tại các cơ sở khám chữa bệnh của thành phố khi mà nhiều chất lượng dịch vụ, chất lượng khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế ngày càng được nâng cao. Đồng thời khuyến khích phát triển các hình thức khám bệnh, chữa bệnh lưu động, từ xa và ứng dụng công nghệ số, dịch vụ cấp cứu ngoại viện – những mô hình đang phát triển mạnh trong bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế và nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng đa dạng của người dân phù hợp với điều kiện thực tiễn, bảo đảm người dân được tiếp cận dịch vụ y tế thuận tiện hơn. Xóa các “điểm trắng” về cấp cứu ngoại viện Cụ thể hóa Điểm c, d Khoản 1 Điều 17 Luật Thủ đô năm 2026, ngày 15-6-2026, HĐND thành phố Hà Nội đã ban hành Nghị quyết số 29/2026/NQ-HĐND quy định một số chính sách phát triển hệ thống y tế thành phố. Điều 3 Nghị quyết quy định về chính sách phát triển hệ thống cấp cứu ngoại viện, vận chuyển y tế trên địa bàn Thủ đô. Hệ thống cấp cứu ngoại viện của thành phố gồm: Trung tâm cấp cứu 115 (gồm cả các trạm cấp cứu vệ tinh thuộc Trung tâm cấp cứu 115); các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; cơ sở cấp cứu ngoại viện quy định tại Điểm a, Điểm b, Điểm d Khoản 2 Điều 1 Nghị quyết. Trung tâm cấp cứu 115 được giao nhiệm vụ trực tiếp tham gia cấp cứu ngoại viện và điều phối toàn bộ hệ thống cấp cứu ngoại viện của thành phố; các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quy định tại Điểm a, Điểm b, Điểm d Khoản 2 Điều 1 Nghị quyết thành lập các tổ cấp cứu ngoại viện, tham gia thường trực cấp cứu ngoại viện, thực hiện nhiệm vụ cấp cứu người bệnh theo sự điều phối của Trung tâm cấp cứu 115. Ngân sách thành phố chi trả kinh phí cấp cứu ngoại viện theo hợp đồng đặt hàng hoặc giao nhiệm vụ với mức thanh toán theo Nghị quyết của HĐND thành phố quy định giá dịch vụ cấp cứu ngoại viện và tỷ lệ đồng chi trả của người bệnh khi sử dụng dịch vụ cấp cứu ngoại viện của thành phố Hà Nội hiện hành. Giám đốc Trung tâm cấp cứu 115 Nguyễn Thành cho biết, Trung tâm có 8 trạm cấp cứu vệ tinh trực thuộc được bố trí tại các địa điểm trên địa bàn thành phố. Trung tâm hoạt động 24/7 với 15 kíp cấp cứu (15 xe cứu thương) thường trực, bao gồm 45 nhân viên y tế, trong đó có 15 y/bác sĩ, 15 điều dưỡng, 15 lái xe cứu thương. Hằng năm, Trung tâm điều động trên 40.000 chuyến cấp cứu, xử lý cấp cứu ngoại viện cho xấp xỉ 30.000 người bệnh, người bị tai nạn. Từ năm 2026, mạng lưới cấp cứu được mở rộng gần 7 lần, có thể đáp ứng khoảng 70% nhu cầu cấp cứu ngoại viện của người dân. Mỗi trạm

Ngày 21/7/2026, Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành Quyết định số 862/QĐ-BNV về việc công bố thủ tục hành chính quy định tại Nghị định số 259/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức. Theo đó, Bộ Nội vụ chính thức công bố 02 thủ tục hành chính mới thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ, bao gồm: thủ tục thi tuyển viên chức và thủ tục xét tuyển viên chức. Đồng thời, Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký và bãi bỏ các thủ tục hành chính đã được công bố tại Quyết định số 168/QĐ-BNV ngày 12/3/2024 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ (gồm các thủ tục về thi tuyển viên chức, xét tuyển viên chức và tiếp nhận vào làm viên chức không giữ chức vụ quản lý theo quy định cũ). Việc ban hành Quyết định số 862/QĐ-BNV nhằm kịp thời cập nhật, chuẩn hóa quy trình, thành phần hồ sơ và thời gian giải quyết các thủ tục tuyển dụng viên chức, tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho các cơ quan, đơn vị, địa phương triển khai thực hiện theo quy định tại Nghị định số 259/2026/NĐ-CP. Thủ tục thi tuyển viên chức: Quy trình 6 bước chặt chẽ, giải quyết tối đa trong 140 ngày Theo công bố kèm Quyết định số 862/QĐ-BNV, thủ tục thi tuyển viên chức được thực hiện qua 6 bước công khai, chi tiết với tổng thời hạn giải quyết tối đa là 140 ngày kể từ ngày hết thời hạn nhận Phiếu đăng ký dự tuyển. Bước 1. Nộp Phiếu đăng ký dự tuyển: Người đăng ký dự tuyển nộp Phiếu đăng ký dự tuyển theo Thông báo tuyển dụng của cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng Bước 2. Kiểm tra Phiếu đăng ký dự tuyển: Trong thời hạn từ 15 đến 30 ngày (đối với kỳ thi có từ 500 người trở lên), Hội đồng tuyển dụng hoàn thành kiểm tra, thông báo danh sách thí sinh đủ điều kiện dự thi và gửi giấy triệu tập. Người không đủ điều kiện sẽ được thông báo nêu rõ lý do. Bước 3. Tổ chức thi tuyển 02 vòng: Vòng 1: Tổ chức chậm nhất 30 ngày (hoặc 45 ngày nếu mở rộng thời gian) kể từ ngày hết hạn nhận phiếu. Kết quả thi được thông báo ngay sau khi kết thúc bài thi. Người đạt kết quả vòng 1 đương nhiên được tham dự vòng 2; Vòng 2: Thi nghiệp vụ chuyên ngành (hình thức viết, phỏng vấn hoặc kết hợp) được tổ chức chậm nhất 10 ngày sau vòng 1. Thời gian chấm thi viết và công bố kết quả là 15 ngày (tối đa 30 ngày nếu từ 1.000 thí sinh trở lên). Thời hạn nhận đơn phúc khảo là 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố kết quả. Bước 4. Phê duyệt và thông báo kết quả: Trong 05 ngày làm việc kể từ ngày hoàn tất chấm thi, Hội đồng báo cáo người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Trong 02 ngày làm việc tiếp theo, danh sách trúng tuyển được đăng tải công khai và gửi thông báo công nhận tới người trúng tuyển. Bước 5. Hoàn thiện hồ sơ tuyển dụng: Trong 15 ngày kể từ ngày công bố danh sách trúng tuyển, người trúng tuyển nộp bản sao văn bằng, chứng chỉ, giấy tờ ưu tiên (không cần chứng chỉ tin học, ngoại ngữ). Cơ quan tuyển dụng chủ động đề nghị cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Nếu có thí sinh bị hủy kết quả trúng tuyển do gian lận hoặc không nhận việc, cơ quan được xem xét tuyển dụng người có kết quả thấp hơn liền kề. Bước 6. Ký kết hợp đồng làm việc và nhận việc: Trong 03 ngày làm việc kể từ khi hoàn thiện hồ sơ, cơ quan tuyển dụng chuyển kết quả và hồ sơ đến đơn vị sử dụng viên chức. Trong 05 ngày làm việc tiếp theo, người đứng đầu đơn vị tiến hành ký kết hợp đồng làm việc. Hợp đồng làm việc có giá trị pháp lý như Quyết định tuyển dụng. Thủ tục xét tuyển viên chức: Quy trình tối ưu 5 bước, thời hạn tối đa 80 ngày Đối với hình thức xét tuyển viên chức, quy trình được tối ưu hóa với thời hạn giải quyết tối đa 80 ngày kể từ ngày hết thời hạn nhận Phiếu đăng ký dự tuyển, tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị sự nghiệp chủ động bổ sung nhân sự chất lượng. Bước 1. Nộp Phiếu đăng ký dự tuyển: Người đăng ký dự tuyển nộp Phiếu đăng ký dự tuyển theo Thông báo tuyển dụng của cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng Bước 2. Tổ chức xét tuyển 02 vòng. Vòng 1: Hội đồng tuyển dụng kiểm tra điều kiện dự tuyển trên Phiếu đăng ký trong thời hạn 15 đến 30 ngày. Thí sinh đáp ứng đủ điều kiện sẽ bước vào vòng 2. Vòng 2: Tiến hành chậm nhất 15 ngày kể từ khi thông báo triệu tập. Hình thức thi gồm Vấn đáp (30 phút, tối đa 15 phút chuẩn bị) hoặc Thực hành. Nội dung thi tập trung kiểm tra kiến thức, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ; đánh giá năng lực tư duy, giao tiếp, phán đoán, thái độ theo thang điểm 100. Quy định mới rõ ràng: Không thực hiện kiểm tra, sát hạch về ngoại ngữ đối với trường hợp xét tuyển (trừ quyết định riêng của cơ quan tuyển dụng). Bước 3. Phê duyệt và công bố kết quả: Việc tổng hợp kết quả, báo cáo phê duyệt và thông báo công khai danh sách trúng tuyển được thực hiện trong thời hạn lần lượt là 05 ngày và 02 ngày làm việc tương tự quy trình thi tuyển. Bước 4. Hoàn thiện hồ sơ tuyển dụng: Thí sinh trúng tuyển có 15

Bộ Y tế chiều 28/7 cho biết theo hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm quốc gia và báo cáo từ một số cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, trong đó có Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, số trường hợp mắc COVID-19 đến khám và điều trị trong những tuần gần đây có xu hướng tăng… Tuy nhiên, theo Bộ Y tế đến nay chưa ghi nhận sự gia tăng bất thường của các trường hợp nặng hoặc tử vong do COVID-19. Bộ Y tế dẫn thông tin của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cho biết đến cuối tháng 6/2026, biến thể NB.1.8.1 (dòng phụ của Omicron) đang lưu hành chủ yếu trên phạm vi toàn cầu và tại khu vực Tây Thái Bình Dương. Hiện chưa có bằng chứng cho thấy biến chủng này làm bệnh nặng hơn hoặc làm giảm đáng kể hiệu quả của các biện pháp phòng, chống dịch đang được áp dụng. Tại Việt Nam, đang là thời điểm nghỉ hè và mùa du lịch, nhu cầu đi lại, giao lưu, tham gia các hoạt động tập trung đông người tăng cao. Bên cạnh đó, thời tiết nóng ẩm khiến nhiều hoạt động được tổ chức trong không gian kín, sử dụng điều hòa và hạn chế thông khí. Đây là những điều kiện thuận lợi làm gia tăng nguy cơ lây truyền các bệnh qua đường hô hấp, trong đó có COVID-19 và cúm mùa. Phần lớn các trường hợp mắc COVID-19 và cúm có triệu chứng nhẹ và hồi phục sau điều trị. Tuy nhiên, bệnh vẫn có thể diễn biến nặng ở những người có nguy cơ cao như: Người cao tuổi; Trẻ nhỏ; Phụ nữ mang thai; Người mắc bệnh tim mạch, bệnh phổi mạn tính, đái tháo đường, bệnh thận hoặc các bệnh nền khác; Người suy giảm miễn dịch; Người đang điều trị ung thư hoặc sử dụng thuốc ức chế miễn dịch… Ảnh minh họa (SKĐS) Cúm mùa hiện vẫn lưu hành quanh năm tại nước ta và thường có xu hướng gia tăng trong thời điểm giao mùa Hè – Thu. Cả COVID-19 và cúm mùa đều lây truyền chủ yếu qua đường hô hấp, đặc biệt tại nơi đông người, trên phương tiện giao thông công cộng, trường học, cơ sở y tế và các địa điểm du lịch. Cục Phòng bệnh, Bộ Y tế đánh giá hiện chưa có bằng chứng cho thấy virus SARS-CoV-2 hoặc virus cúm mùa có sự thay đổi bất thường về độc lực. Phần lớn các trường hợp mắc COVID-19 và cúm có triệu chứng nhẹ và hồi phục sau điều trị. Tuy nhiên, bệnh vẫn có thể diễn biến nặng ở những người có nguy cơ cao như: Người cao tuổi; Trẻ nhỏ; Phụ nữ mang thai; Người mắc bệnh tim mạch, bệnh phổi mạn tính, đái tháo đường, bệnh thận hoặc các bệnh nền khác; Người suy giảm miễn dịch; Người đang điều trị ung thư hoặc sử dụng thuốc ức chế miễn dịch. Bộ Y tế nhấn mạnh, những người thuộc nhóm nguy cơ trên cần đặc biệt chủ động thực hiện các biện pháp phòng bệnh để hạn chế nguy cơ nhập viện và tử vong. Cục Phòng bệnh, Bộ Y tế đang phối hợp với các địa phương, các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và các viện chuyên ngành tiếp tục giám sát chặt chẽ tình hình dịch bệnh, theo dõi số mắc, số ca nhập viện, các trường hợp nặng, tử vong cũng như sự lưu hành của các biến thể SARS-CoV-2 nhằm kịp thời đánh giá nguy cơ và triển khai các biện pháp đáp ứng phù hợp. Để chủ động bảo vệ sức khỏe bản thân, gia đình và cộng đồng, Cục Phòng bệnh, Bộ Y tế đề nghị người dân thực hiện tốt các biện pháp sau: Thứ nhất, đeo khẩu trang đúng cách khi đến cơ sở y tế, trên phương tiện giao thông công cộng, tại nơi đông người hoặc trong không gian kín, kém thông khí. Người có các triệu chứng viêm đường hô hấp cần đeo khẩu trang khi tiếp xúc với người khác. Thứ hai, thường xuyên rửa tay bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn; che miệng, mũi khi ho hoặc hắt hơi bằng khăn giấy, khăn vải hoặc khuỷu tay áo; hạn chế đưa tay lên mắt, mũi, miệng. Thứ ba, giữ nơi ở, nơi làm việc thông thoáng, tăng cường thông khí tự nhiên, đặc biệt khi tổ chức các hoạt động tập trung đông người. Thứ tư, duy trì lối sống lành mạnh, ăn uống đủ chất, vận động hợp lý, ngủ đủ giấc và kiểm soát tốt các bệnh nền. Thứ năm, khi có các triệu chứng như sốt, ho, đau họng, sổ mũi hoặc mệt mỏi, cần hạn chế tiếp xúc với người khác, đồng thời chủ động liên hệ với cơ sở y tế nơi gần nhất để được tư vấn, khám, điều trị; không tự ý sử dụng thuốc khi chưa có chỉ định của cán bộ y tế. Thứ sáu, khi triệu chứng kéo dài hoặc có dấu hiệu nặng, đặc biệt đối với người thuộc nhóm nguy cơ cao, cần đến ngay cơ sở y tế để được khám, tư vấn và điều trị kịp thời. Theo Cục Phòng bệnh, COVID-19 và cúm mùa là các bệnh truyền nhiễm lưu hành, số trường hợp mắc có thể tăng theo chu kỳ và điều kiện thời tiết. Người dân không nên chủ quan nhưng cũng không hoang mang; chủ động thực hiện các biện pháp phòng bệnh đơn giản, hiệu quả và đi khám khi có dấu hiệu bất thường sẽ góp phần bảo vệ sức khỏe cho bản thân, gia đình và cộng đồng. Cục Phòng bệnh sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các đơn vị liên quan theo dõi sát tình hình COVID-19, cúm mùa và các bệnh lây truyền qua đường hô

Ngày 23/7, Sở Y tế có văn bản chỉ đạo các đơn vị trực thuộc ngành triển khai phong trào thi đua “Thực hiện Nghị quyết số 72-NQ/TW vì sự hài lòng và tin yêu của nhân dân” nhằm tạo khí thế thi đua sôi nổi, phát huy tinh thần đổi mới, sáng tạo, góp phần nâng cao chất lượng bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Thi đua xây dựng hình ảnh người cán bộ y tế “chuẩn mực – tận tâm – chuyên nghiệp”. Để triển khai có hiệu quả phong trào thi đua trong toàn ngành, Sở Y tế đề nghị các phòng, đơn vị trực thuộc lồng ghép các mục tiêu của Nghị quyết số 72-NQ/TW vào các chỉ tiêu thi đua, trọng tâm là vận động cán bộ, công chức, viên chức, người lao động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân, phục vụ người bệnh. Đồng thời, xây dựng các mô hình, sáng kiến, giải pháp đột phá nhằm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của cá nhân và đơn vị; tập trung đổi mới thái độ phục vụ nhân dân, nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, phòng bệnh tại các cơ sở y tế. Các đơn vị phối hợp với công đoàn cơ sở tuyên truyền, phổ biến, quán triệt nội dung của Nghị quyết số 72-NQ/TW và phong trào thi đua đến cán bộ, công chức, viên chức và người lao động. Tạo điều kiện về thời gian, cơ sở vật chất và nguồn lực để cán bộ, công chức, viên chức và người lao động tham gia các hoạt động của phong trào thi đua, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Đặc biệt là thường xuyên theo dõi, đôn đốc, kịp thời phát hiện, biểu dương và khen thưởng các tập thể, cá nhân điển hình có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua. Phong trào thi đua “Thực hiện Nghị quyết 72-NQ/TW, vì sự hài lòng và tin yêu của nhân dân do Công đoàn Y tế Việt Nam phát động nhằm cụ thể hoá Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị và được thực hiện từ năm 2025 đến năm 2030. Theo đó, phong trào hướng tới phát huy vai trò của tổ chức công đoàn trong tuyên truyền, vận động, giám sát, phản biện xã hội và tham gia xây dựng chính sách về bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe nhân dân. Đồng thời tạo động lực thi đua trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, đoàn viên công đoàn và người lao động ngành y tế, gắn nhiệm vụ chuyên môn với rèn luyện y đức, nâng cao chất lượng phục vụ, đáp ứng sự hài lòng của người dân. https://soyte.hanoi.gov.vn/hoat-dong-cua-nganh/thi-dua-thuc-hien-nghi-quyet-so-72-nq-tw-vi-su-hai-long-va-tin-yeu-cua-nhan-dan-2849260724174111332.htm

Bộ Y tế ban hành Thông tư số 12/2026/TT-BYT quy định “Danh mục bệnh bẩm sinh khuyến khích khám sàng lọc trước sinh và sơ sinh”, có hiệu lực từ ngày 1-7-2026. Sinh ra một đứa trẻ lành lặn, khỏe mạnh là ước nguyện lớn nhất của bất kỳ bậc làm cha, làm mẹ nào. Tuy nhiên, rủi ro từ các bệnh lý di truyền và dị tật bẩm sinh vẫn luôn là nỗi lo hiện hữu, có thể đẩy nhiều gia đình vào bi kịch cả về tinh thần lẫn kinh tế. Trước thực tế đó, Thông tư 12/2026/TT-BYT ra đời như một giải pháp mang tính chiến lược, cụ thể hóa các quy định của Luật Dân số năm 2025 nhằm chủ động bảo vệ trẻ thơ ngay từ trong bụng mẹ và những ngày đầu đời. Tại Phụ lục I của Thông tư, Bộ Y tế đã lập danh mục chi tiết gồm 70 bệnh bẩm sinh khuyến khích sàng lọc trước sinh, được chia thành các nhóm rất khoa học. Đáng chú ý, nhóm các bệnh di truyền phổ biến như tan máu bẩm sinh (Thalassaemia), hội chứng Down, Edwards, Patau… đã được đưa vào danh mục sàng lọc thường quy. Thalassaemia hiện đang là gánh nặng lớn của xã hội khi ước tính nước ta có hàng triệu người mang gen bệnh. Việc khuyến khích sàng lọc thường quy giúp các cặp vợ chồng chủ động phát hiện sớm nguy cơ từ giai đoạn bào thai, từ đó nhận được sự tư vấn y khoa kịp thời. Bên cạnh đó, danh mục cũng bao phủ toàn diện các bất thường cấu trúc thai có thể can thiệp hoặc chuẩn bị tâm lý điều trị sớm như tim bẩm sinh, nứt đốt sống, khe hở môi, vòm miệng… Việc định hình rõ ràng các nhóm bệnh giúp người dân không còn mơ hồ, dễ dàng tiếp cận các dịch vụ xét nghiệm, siêu âm đúng thời điểm vàng của thai kỳ. Phụ lục II cũng xác định rõ danh mục 33 bệnh bẩm sinh cần sàng lọc sơ sinh. Thông tư chú trọng vào các kỹ thuật xét nghiệm từ giọt máu thấm khô (lấy máu gót chân trẻ) để quét diện rộng các bệnh lý nguy hiểm như: Suy tuyến giáp bẩm sinh, thiếu men G6PD, tăng sản tuyến thượng thận bẩm sinh. Danh mục mới cũng bổ sung kỹ thuật sàng lọc suy giảm miễn dịch kết hợp trầm trọng (SCID), giúp cứu sống nhiều trẻ nhỏ tránh khỏi những đợt nhiễm trùng tử vong bằng cách cách ly phòng ngừa sớm. Việc Bộ Y tế ban hành danh mục chuẩn hóa này giúp người dân có một “kim chỉ nam” đáng tin cậy, tránh việc hoang mang trước các dịch vụ xét nghiệm tràn lan, thiếu kiểm chứng trên thị trường. Đây cũng là cơ sở để các cơ quan chức năng, hệ thống bệnh viện phụ sản từ trung ương đến địa phương đồng bộ hạ tầng, đầu tư máy móc, đào tạo nhân lực nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu sàng lọc ngày càng cao của nhân dân. Thông tư 12/2026/TT-BYT có hiệu lực từ ngày 1-7-2026 và sẽ được rà soát cập nhật định kỳ 2 năm một lần. Với sự vào cuộc đồng bộ, việc khám sàng lọc trước sinh và sơ sinh không còn là câu chuyện riêng của ngành y, mà là trách nhiệm, tình yêu thương, lựa chọn thông thái của mỗi bậc cha mẹ vì tương lai vững bền của gia đình và giống nòi Việt Nam./. https://moh.gov.vn/index.jsp?pageId=5803&aid=168658&cid=8356

Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Trần Đức Thắng đã ký ban hành Nghị quyết số 16-NQ/TU ngày 8-7-2026 của Thành ủy Hà Nội về xây dựng và triển khai thí điểm mô hình “xã, phường xã hội chủ nghĩa” trên địa bàn thành phố. Hiện thực hóa bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa từ cấp cơ sở Nghị quyết nêu rõ, thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết Đại hội XVIII Đảng bộ thành phố và Chương trình công tác toàn khóa của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố khóa XVIII, nhằm cụ thể hóa mục tiêu xây dựng và phát triển Thủ đô “Văn hiến – Văn minh – Hiện đại – Hạnh phúc”; lấy con người làm trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực của phát triển; hiện thực hóa bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa từ cấp cơ sở; trên cơ sở tổng hợp ý kiến bằng văn bản của các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố, Thành ủy ban hành Nghị quyết về xây dựng và triển khai thí điểm mô hình “xã, phường xã hội chủ nghĩa” trên địa bàn thành phố. Nghị quyết khẳng định, việc xây dựng và triển khai thí điểm mô hình “xã, phường xã hội chủ nghĩa” trên địa bàn Thủ đô Hà Nội là yêu cầu có ý nghĩa chính trị, xã hội và thực tiễn sâu sắc; vừa cụ thể hóa các giá trị, mục tiêu, đặc trưng của chủ nghĩa xã hội Việt Nam trong điều kiện phát triển mới của Thủ đô, vừa tạo cơ sở kiểm nghiệm, hoàn thiện mô hình quản trị cấp cơ sở hiện đại, dân chủ, kỷ cương, nhân văn, phát triển, phù hợp với yêu cầu xây dựng Thủ đô “Văn hiến – Văn minh – Hiện đại – Hạnh phúc”. Thành ủy xác định quan điểm xây dựng và triển khai thí điểm mô hình “xã, phường xã hội chủ nghĩa” phải quán triệt đầy đủ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bám sát Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị, định hướng phát triển Thủ đô và các nguyên tắc phát triển của chế độ xã hội chủ nghĩa, lấy hạnh phúc, chất lượng sống của người dân làm mục tiêu cao nhất; là thước đo tổng hợp để đánh giá hiệu quả của mọi chính sách, hoạt động quản trị và kết quả phát triển ở cấp cơ sở trên địa bàn Thủ đô. Phát triển không chỉ dừng lại ở tăng trưởng kinh tế mà phải hướng tới nâng cao toàn diện đời sống vật chất, tinh thần, môi trường sống và cảm nhận hạnh phúc của người dân, bảo đảm mọi người dân đều được thụ hưởng thành quả phát triển một cách công bằng, bền vững. Thành ủy thống nhất mô hình “xã, phường xã hội chủ nghĩa” phải thể hiện rõ bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa từ cấp gần dân nhất; trong đó, người dân là trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực của phát triển; mọi chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp phải hướng tới nâng cao chất lượng sống, bảo đảm công bằng, tiến bộ xã hội, không để ai bị bỏ lại phía sau; lấy sự đồng thuận, hài lòng, mức độ thụ hưởng và hạnh phúc của nhân dân làm thước đo quan trọng. Xây dựng mô hình “xã, phường xã hội chủ nghĩa” hướng tới phát triển hài hòa, đồng bộ giữa kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường, bảo đảm sự cân bằng giữa tăng trưởng với tiến bộ, công bằng xã hội, giữa phát triển vật chất với nâng cao đời sống tinh thần, giữa khai thác nguồn lực với bảo vệ môi trường. Trong đó, văn hóa và con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực nội sinh, “hệ điều tiết” của quá trình phát triển; môi trường sống xanh, sạch, an toàn và văn minh sinh thái là một cấu phần thiết yếu của chất lượng sống; phát triển văn hóa là giải pháp then chốt để quản trị sự đa dạng văn hóa trong bối cảnh di cư và gia tăng dân số cơ học tại xã, phường thí điểm. Việc triển khai thí điểm phải gắn đổi mới quản trị với tổ chức lại không gian phát triển theo quy hoạch; sử dụng hiệu quả đất đai, hạ tầng, tài sản công và các nguồn lực tại chỗ; thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn; bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế với văn hóa, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội. Xây dựng mô hình “xã, phường xã hội chủ nghĩa” phải bảo đảm kế thừa truyền thống, phát huy bản sắc Hà Nội, kết hợp hài hòa giữa giá trị văn hiến lâu đời với yêu cầu phát triển hiện đại, góp phần hình thành và lan tỏa hình ảnh Thủ đô văn minh, thanh lịch, nhân văn, kỷ cương. Việc tổ chức thí điểm phải theo phương châm tinh gọn, thiết thực, khả thi, có thể triển khai ngay, đo lường được và nhân rộng được; lựa chọn địa bàn đại diện, thiết kế mô hình rõ ràng, xác định cụ thể tiêu chí, chỉ số đánh giá và cơ chế giám sát, bảo đảm quá trình thí điểm tạo ra kết quả thực chất, làm cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc hoàn thiện, mở rộng mô hình trên phạm vi toàn thành phố. Việc tổ chức thực hiện phải bảo đảm nguyên tắc không làm phát sinh đầu mối tổ chức trung gian, không làm tăng biên chế; gắn với

Chiều ngày 28/6, Sở Y tế Hà Nội đã tổ chức Hội nghị sơ kết công tác y tế 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026. Trong 6 tháng đầu năm 2026, bám sát sự chỉ đạo của Thành ủy, HĐND, UBND thành phố Hà Nội và Bộ Y tế, ngành Y tế Thủ đô đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân. Song song với việc tăng cường công tác phòng, chống dịch bệnh, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, phát triển y tế cơ sở, công tác chuyển đổi số tiếp tục được xác định là nhiệm vụ đột phá, tạo nền tảng xây dựng hệ thống y tế thông minh, hiện đại và lấy người dân làm trung tâm. Chuyển đổi số tiếp tục là điểm nhấn nổi bật của ngành Y tế Hà Nội trong 6 tháng đầu năm 2026. Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, Kế hoạch hành động số 20-KH/BCĐ57 của Thành ủy và Đề án 06 của Chính phủ, Sở Y tế Hà Nội đã tập trung xây dựng nền tảng y tế thông minh, đẩy mạnh phát triển dữ liệu số, ứng dụng công nghệ mới và nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành toàn ngành. Đến hết quý II/2026, ngành Y tế đã quản lý Hồ sơ sức khỏe điện tử cho gần 99% dân số được chuẩn hóa; tiếp tục cập nhật dữ liệu căn cước công dân, bảo hiểm y tế, hộ gia đình, lịch sử khám chữa bệnh, tiêm chủng và kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, bảo đảm dữ liệu “đúng – đủ – sạch – sống”. 100% bệnh viện công lập thực hiện liên thông dữ liệu khám chữa bệnh theo thời gian thực, từng bước hình thành kho dữ liệu y tế của thành phố. Cùng với đó, công tác triển khai bệnh án điện tử đạt nhiều kết quả tích cực. Đến nay, 100% bệnh viện công lập và 68% bệnh viện ngoài công lập đã triển khai bệnh án điện tử; các đơn vị tiếp tục hoàn thiện hệ thống HIS-LIS-PACS, chữ ký số và liên thông dữ liệu, hướng tới thay thế hoàn toàn bệnh án giấy theo lộ trình của Bộ Y tế. Ngành Y tế cũng tích cực triển khai kế hoạch khám sức khỏe định kỳ cho người dân, đồng bộ dữ liệu khám sức khỏe với Hồ sơ sức khỏe điện tử và Sổ sức khỏe điện tử trên VNeID, phục vụ công tác quản lý sức khỏe toàn dân. Song song với đó, Sở Y tế đã xây dựng Đề án Chuyển đổi số ngành Y tế Hà Nội đến năm 2030 cùng các chương trình, dự án thành phần về dữ liệu số, bệnh viện thông minh, hồ sơ sức khỏe điện tử, bệnh án điện tử, khám chữa bệnh từ xa (Telehealth), trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT) và Trung tâm điều hành y tế thông minh (Health IOC). Nhiều công nghệ mới đã được đưa vào ứng dụng thực tiễn. Trong quý II/2026, ngành đã triển khai thí điểm AI trong chẩn đoán hình ảnh tại 3 bệnh viện với hơn 24.000 ca; triển khai mô hình vận chuyển mẫu bệnh phẩm bằng thiết bị bay không người lái (UAV) tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang; hoàn thiện Đề án Telehealth giai đoạn 2026-2030, Đề án ứng dụng IoT trong điều phối phương tiện cấp cứu và Trung tâm điều hành cấp cứu thông minh, đồng thời xây dựng mô hình bệnh viện thông minh tại 3 bệnh viện của thành phố. Đặc biệt, thanh toán không dùng tiền mặt được đẩy mạnh tại các cơ sở y tế. Đến nay, 100% bệnh viện trực thuộc Sở Y tế đã triển khai thanh toán không dùng tiền mặt; trong đó 59,5% bệnh viện được trang bị 97 máy POS, 47,6% bệnh viện triển khai hơn 190 điểm thanh toán bằng mã QR động và 100% bệnh viện triển khai hơn 400 điểm thanh toán bằng mã QR tĩnh. Cùng với đó, các đơn vị tiếp tục mở rộng đăng ký khám bệnh trực tuyến, kê đơn điện tử, ký số hồ sơ, sử dụng phần mềm có bản quyền và bảo đảm an toàn thông tin theo quy định. Hội nghị sơ kết công tác y tế 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026. Bên cạnh việc triển khai các nhiệm vụ chuyên môn, ngành Y tế Hà Nội cũng đẩy mạnh công tác truyền thông về Hồ sơ sức khỏe điện tử, bệnh án điện tử, khám sức khỏe định kỳ, ứng dụng VNeID trong khám chữa bệnh và các nhiệm vụ chuyển đổi số trên Cổng thông tin điện tử, Fanpage Sức khỏe Thủ đô và các phương tiện thông tin đại chúng, góp phần nâng cao nhận thức và sự đồng thuận của người dân trong quá trình xây dựng y tế số, y tế thông minh. Trong 6 tháng đầu năm 2026, mạng lưới khám chữa bệnh trên địa bàn thành phố tiếp tục được củng cố, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân. Toàn thành phố có 17.365 giường bệnh, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm 2025. Các bệnh viện đã thực hiện trên 4.387.000 lượt khám bệnh, trong đó có trên 2.549.000 lượt khám bảo hiểm y tế; điều trị ngoại trú gần 775.000 lượt và điều trị nội trú trên 530.000 lượt. Đáng chú ý, số lượt chuyển tuyến tiếp tục giảm còn 98.919 lượt, giảm 15,91% so với cùng kỳ năm trước, phản ánh hiệu quả tích cực của hệ thống khám chữa bệnh các tuyến, góp phần giảm quá tải cho các bệnh viện tuyến trên. Cùng với việc nâng cao

Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng vừa ký Quyết định số 940/QĐ-TTg ngày 26/5/2026 phê duyệt Đề án “Phát triển ứng dụng định danh quốc gia VNeID giai đoạn 2026 – 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Đề án đặt mục tiêu phát triển VNeID trở thành “siêu ứng dụng”, đóng vai trò trung tâm trong hệ sinh thái số quốc gia, phục vụ người dân, doanh nghiệp và cơ quan nhà nước trong thực hiện thủ tục hành chính, giao dịch điện tử và khai thác các tiện ích số. Theo Đề án, VNeID sẽ được phát triển thành nền tảng số quốc gia an toàn, hiện đại, có khả năng mở rộng cao, đáp ứng hiệu quả nhu cầu giao dịch số ngày càng lớn của xã hội. Đồng thời, đây cũng sẽ là nền tảng số tin cậy để kết nối, chia sẻ, xác thực thông tin giữa các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, hệ thống thông tin của các bộ, ngành, địa phương, tổ chức và doanh nghiệp; góp phần thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia, phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Đề án xác định nhiều mục tiêu quan trọng trong từng giai đoạn phát triển. Đến năm 2028, phấn đấu hoàn thành việc đồng bộ khung thể chế, cơ chế, chính sách nhằm tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, thống nhất cho việc phát triển, vận hành và mở rộng VNeID. Đồng thời, hoàn thành triển khai 100% hạ tầng kỹ thuật, công nghệ, phần mềm phục vụ nâng cấp tổng thể hệ thống VNeID và phát triển ứng dụng này thành “siêu ứng dụng”. Một trong những nội dung đáng chú ý là việc mở rộng hệ sinh thái tiện ích số trên VNeID. Theo mục tiêu đề ra, đến hết năm 2028, phấn đấu tích hợp khoảng 50% tiện ích số thiết yếu phục vụ nhu cầu giao dịch số của người dân, doanh nghiệp và cơ quan, tổ chức. 100% tài khoản định danh điện tử cho cá nhân, tổ chức đủ điều kiện sẽ được cấp theo nhu cầu; đồng thời 100% giấy tờ công dân, tổ chức theo quy định pháp luật về định danh và xác thực điện tử sẽ được tích hợp lên VNeID. Đặc biệt, Đề án đặt mục tiêu đến năm 2028, 100% đối tượng nhận các khoản hỗ trợ, hưu trí và chi trả an sinh xã hội được tích hợp thông tin tài khoản thanh toán, ví điện tử trên VNeID. Đây được xem là bước tiến quan trọng trong thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt, tăng tính minh bạch, thuận tiện trong chi trả chính sách an sinh xã hội và các dịch vụ công. Cùng với đó, 100% thuê bao di động sẽ được đăng ký, xác thực thông tin trên VNeID; 80% công dân đủ điều kiện được cấp chứng thư chữ ký số để sử dụng trong các dịch vụ công trực tuyến và các giao dịch điện tử. Đề án cũng định hướng bước đầu tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI) vào hệ thống nhằm nâng cao trải nghiệm, hỗ trợ cá nhân hóa dịch vụ cho người dùng. Đến năm 2030, mục tiêu tiếp tục mở rộng và hoàn thiện toàn diện hệ sinh thái số trên VNeID. Theo đó, 100% công dân có tài khoản VNeID mức độ 2 và được tích hợp thông tin tài khoản thanh toán, ví điện tử khi có nhu cầu. 100% công dân đủ điều kiện được cấp chứng thư chữ ký số để sử dụng trong các dịch vụ công trực tuyến; đồng thời hoàn thiện các dịch vụ tin cậy phục vụ giao dịch dân sự của người dân và doanh nghiệp. Đáng chú ý, đến năm 2030, phấn đấu 70% tiện ích, dịch vụ trên VNeID được tích hợp trí tuệ nhân tạo nhằm cá nhân hóa và nâng cao trải nghiệm người dùng; 70% người dùng sử dụng thanh toán không tiền mặt, thanh toán hóa đơn thiết yếu thông qua VNeID; 70% người dùng thường xuyên truy cập và sử dụng các dịch vụ, tiện ích trong hệ sinh thái VNeID. Tầm nhìn đến năm 2045, VNeID tiếp tục được mở rộng hệ sinh thái tiện ích số, nâng cấp hạ tầng công nghệ hiện đại, bảo đảm hoạt động ổn định, an toàn, thông suốt. Mục tiêu đặt ra là 100% tiện ích, dịch vụ được tích hợp trí tuệ nhân tạo; 100% người dùng được trải nghiệm thanh toán không tiền mặt và 90% người dùng thường xuyên sử dụng các tiện ích trong hệ sinh thái VNeID. Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, Đề án đưa ra nhiều nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm. Trong đó, Bộ Công an được giao chủ trì phối hợp với các bộ, ngành, địa phương rà soát, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến định danh và xác thực điện tử, giao dịch điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân và các quy định pháp luật chuyên ngành có liên quan đến việc khai thác, sử dụng VNeID. Bộ Công an cũng sẽ tham mưu Chính phủ trình Quốc hội ban hành Luật Định danh và xác thực điện tử cùng các văn bản hướng dẫn thi hành; trình Chính phủ ban hành Nghị quyết về phát triển công dân số nhằm xác định rõ giá trị pháp lý, điều kiện sử dụng và trách nhiệm của các chủ thể khi sử dụng VNeID trong các giao dịch hành chính, dân sự và thương mại. Song song với hoàn thiện thể chế, Bộ Công an sẽ chủ trì điều chỉnh kiến trúc, nâng cấp tổng thể VNeID giai đoạn 2026 – 2030 theo hướng hiện đại, đồng
Để đặt lịch khám vui lòng liên hệ hotline:
Thời gian làm việc:
T2-CN: 7h30 – 11h30 & 13h00 – 17h00
Thôn Kính Nỗ - Xã Thư Lâm - Thành phố Hà Nội
(84) 889 615 815
Fax: (84-24).3883.2727
Email: bvbtl@hanoi.gov.vn
Coppyright ©2023. All Right Reserved.