BỆNH VIỆC BẮC THĂNG LONG
BẮC THĂNG LONG HOSPITAL

(84-24).0889.615.815

Email: bvbtl@hanoi.gov.vn

BỆNH VIỆC BẮC THĂNG LONG
BẮC THĂNG LONG HOSPITAL

TƯ VẤN SỨC KHOẺ

Tư Vấn Sức Khoẻ

5 dấu hiệu cảnh báo thiếu máu não do hẹp động mạch cảnh

Đau đầu, chóng mặt, ù tai… thường được nhiều người cho rằng chỉ là biểu hiện của tuổi tác, căng thẳng, rối loạn tiền đình hoặc mất ngủ. Tuy nhiên, đây cũng có thể là những dấu hiệu cảnh báo tình trạng thiếu máu não do hẹp động mạch cảnh – một bệnh lý nguy hiểm. Những biểu hiện đó cũng có thể là những dấu hiệu cảnh báo tình trạng thiếu máu não do hẹp động mạch cảnh – một bệnh lý nguy hiểm làm gia tăng nguy cơ đột quỵ nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời. Hẹp động mạch cảnh có thể dẫn đến đột quỵ Động mạch cảnh là hệ thống mạch máu lớn nằm ở hai bên cổ, có nhiệm vụ đưa máu giàu oxy từ tim lên nuôi dưỡng não bộ. Khi lòng động mạch cảnh bị hẹp do các mảng xơ vữa tích tụ, lưu lượng máu lên não sẽ giảm, gây ra tình trạng thiếu máu não. Không chỉ gây hẹp lòng mạch, các mảng xơ vữa còn có thể nứt vỡ, tạo thành cục máu đông hoặc các mảnh xơ vữa nhỏ di chuyển theo dòng máu lên não, gây tắc mạch não và dẫn tới đột quỵ thiếu máu não cấp. Theo các nghiên cứu, hẹp động mạch cảnh là một trong những nguyên nhân quan trọng gây đột quỵ não. Đáng lo ngại, bệnh thường tiến triển âm thầm, ít có triệu chứng rõ ràng ở giai đoạn đầu nên nhiều người chỉ phát hiện khi đã xảy ra tai biến mạch máu não. Những dấu hiệu cảnh báo thiếu máu não do hẹp động mạch cảnh Thiếu máu não mạn tính do hẹp động mạch cảnh có thể biểu hiện bằng nhiều triệu chứng dễ nhầm lẫn với các bệnh lý thông thường. Đau đầu kéo dài Đây là triệu chứng khá phổ biến. Người bệnh có thể cảm thấy đau âm ỉ hoặc đau từng cơn ở một vùng đầu, sau đó lan rộng ra toàn bộ đầu. Cảm giác nặng đầu thường rõ hơn khi mới ngủ dậy, khi làm việc căng thẳng, suy nghĩ nhiều hoặc thay đổi tư thế đột ngột. Hoa mắt, chóng mặt, ù tai Người bệnh thường xuất hiện các cơn chóng mặt, cảm giác mất thăng bằng, đi đứng không vững hoặc có cảm giác quay cuồng. Một số trường hợp kèm theo ù tai, nghe tiếng ve kêu trong tai dù môi trường xung quanh yên tĩnh. . Rối loạn giấc ngủ Ở người cao tuổi, những cơn choáng váng bất ngờ có thể khiến người bệnh bị ngã, làm tăng nguy cơ gãy xương hoặc chấn thương sọ não. Thiếu máu não kéo dài có thể ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thần kinh trung ương, khiến người bệnh khó ngủ, ngủ không sâu giấc, hay tỉnh giấc giữa đêm hoặc thường xuyên gặp ác mộng. Tình trạng mất ngủ kéo dài làm người bệnh mệt mỏi, giảm khả năng tập trung, dễ cáu gắt và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Suy giảm trí nhớ Khi lượng máu nuôi não không được cung cấp đầy đủ trong thời gian dài, chức năng nhận thức có thể bị ảnh hưởng. Người bệnh thường có biểu hiện giảm khả năng ghi nhớ, hay quên, khó tập trung hoặc phản ứng chậm hơn trong công việc và sinh hoạt hằng ngày. Tê bì, đau mỏi chân tay Một số trường hợp có cảm giác tê bì đầu ngón tay, ngón chân, cảm giác kiến bò dưới da hoặc đau nhức vùng vai gáy, cánh tay và chân tay. Các triệu chứng này có thể xuất hiện từng đợt và dễ bị nhầm lẫn với bệnh lý cơ xương khớp. Đặc biệt, nếu xuất hiện đột ngột các dấu hiệu như méo miệng, yếu hoặc liệt một bên cơ thể, nói khó, mất thị lực một bên mắt hoặc rối loạn ý thức, người bệnh cần được đưa đến bệnh viện cấp cứu ngay vì đây có thể là dấu hiệu của cơn thiếu máu não thoáng qua hoặc đột quỵ. Ai có nguy cơ cao bị hẹp động mạch cảnh? Hẹp động mạch cảnh thường gặp ở người trên 40 tuổi và nguy cơ tăng dần theo tuổi. Một số yếu tố làm tăng khả năng mắc bệnh gồm: Tăng huyết áp kéo dài. Đái tháo đường. Rối loạn mỡ máu. Thừa cân, béo phì. Hút thuốc lá. Ít vận động. Tiền sử mắc bệnh tim mạch hoặc đột quỵ. Nam giới có nguy cơ mắc bệnh cao hơn nữ giới ở một số nhóm tuổi. Những người có các yếu tố nguy cơ kể trên nên kiểm tra sức khỏe định kỳ để phát hiện sớm các bất thường của hệ mạch máu. Điều trị hẹp động mạch cảnh như thế nào? Tùy thuộc vào mức độ hẹp động mạch và tình trạng sức khỏe của người bệnh, bác sĩ sẽ lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp. Ở giai đoạn chưa hẹp nặng, người bệnh có thể được điều trị bằng thuốc nhằm kiểm soát các yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, đồng thời sử dụng các thuốc chống kết tập tiểu cầu và thuốc hạ mỡ máu theo chỉ định của bác sĩ để giảm nguy cơ hình thành huyết khối và hạn chế tiến triển của mảng xơ vữa. Can thiệp nội mạch hoặc phẫu thuật với các trường hợp hẹp động mạch cảnh mức độ nặng hoặc có nguy cơ cao gây đột quỵ. Tóm lại: Thiếu máu não do hẹp động mạch cảnh là bệnh lý phổ biến nhưng dễ bị bỏ sót do các triệu chứng ban đầu khá mơ hồ. Vì vậy, khi xuất hiện các dấu hiệu như đau đầu kéo dài, chóng mặt, ù tai, suy giảm trí nhớ hoặc tê bì chân tay, đặc biệt ở

Bơm xi măng sinh học – phương pháp điều trị hiệu quả xẹp thân đốt sống

Xẹp thân đốt sống là một trong những biến chứng thường gặp do loãng xương (chủ yếu ở người lớn tuổi và phụ nữ sau mãn kinh), sau chấn thương hoặc do các tổn thương bệnh lý khác (U máu thân đốt, tổn thương thứ phát do di căn…) trên nền bệnh nhân loãng xương… Xẹp thân đốt sống gây đau đớn, hạn chế vận động, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh. Có nhiều phương pháp điều trị xẹp thân đốt sống như: cố định ngoài, phẫu thuật, điều trị nội khoa, tạo hình thân đốt sống qua da bằng xi măng sinh học. Trong đó, phương pháp tạo hình đốt sống qua da mà Bệnh viện Bắc Thăng Long hiện đang thực hiện thường quy đã mang lại lợi ích và hiệu quả thấy rõ cho người bệnh. Bà Ng Thị T – 72 tuổi nhập viện trong tình trạng rất đau ở lưng. Kết quả thăm khám cho thấy bà T bị xẹp thân đốt sống lưng cần phải điều trị can thiệp. Đã từng chứng kiến người quen cũng bị tổn thương đốt sống lưng như mình, sau khi phẫu thuật cả năm trời vẫn chưa thể hồi phục, bà T rất lo lắng. Nhưng khi được BSCKII Đàm Quang Thịnh – Trưởng Khoa Chấn thương tư vấn về hướng điều trị theo phương pháp tạo hình thân đốt sống qua da bằng xi măng sinh học thì bà T yên tâm hơn hẳn, gia đình bà T rất mừng khi biết so với các phương pháp truyền thống như điều trị nội khoa, mặc áo nẹp đốt sống…, kỹ thuật bơm xi măng sinh học được đánh giá an toàn, ít biến chứng và hiệu quả cao hơn. Tuy nhiên, gia đình người bệnh lo ngại vì sợ chi phí điều trị bằng kỹ thuật cao này rất lớn trong khi điều kiện kinh tế khó khăn. Thấu hiểu lo lắng của gia đình người bệnh, BSCKII Đàm Quang Thịnh cho biết: Hiện bộ vật tư, thuốc điều trị trong thực hiện dịch vụ kỹ thuật cao này được BHYT chi trả (lưu ý: Chi phí bảo hiểm y tế chi trả sẽ tùy thuộc vào mức hưởng thẻ bảo hiểm và tình trạng của từng người bệnh). Sau hơn 30 phút thực hiện thủ thuật chỉ với 2 vết chọc kim rất nhỏ, không phải mổ mở, không gây mất máu, ít để lại sẹo, bà T đã giảm đau đến 80%, có thể vận động, sinh hoạt lại dễ dàng sau đó 2-3 giờ… Thông tin thêm về kỹ thuật can thiệp này, BSCKII Đàm Quang Thịnh cho biết: Phẫu thuật tạo hình thân đốt sống bằng xi măng sinh học là một phẫu thuật ít xâm lấn. Xi măng sinh học được bơm vào thân đốt sống với mục đích giảm đau, nâng chiều cao thân đốt sống, tái khôi phục đường cong sinh lý và tăng độ vững cho cột sống. Tại Bệnh viện Bắc Thăng Long phẫu thuật tạo hình thân đốt sống bằng xi măng sinh học được thực hiện hằng ngày, một cách thường quy dưới sự hỗ trợ của hệ thống máy móc hiện đại nên hình ảnh rõ nét giúp phẫu thuật viên thao tác dễ dàng, chính xác, hạn chế tai biến, biến chứng có thể xảy ra cho người bệnh. Phòng CTXH  

Những yếu tố làm tăng nguy cơ mắc rối loạn tiền đình

Rối loạn tiền đình ngày càng xuất hiện ở nhiều độ tuổi và gây ảnh hưởng rõ rệt đến sinh hoạt hằng ngày. Nhận diện sớm các yếu tố nguy cơ giúp chủ động phòng ngừa và hạn chế biến chứng Rối loạn tiền đình là gì? Rối loạn tiền đình thường gặp ở người cao tuổi, nhưng ngày càng có xu hướng trẻ hóa, xuất hiện ở mọi lứa tuổi và phổ biến hơn ở người trưởng thành. Nếu không được điều trị sớm, bệnh có thể gây nhiều biến chứng, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống. Rối loạn tiền đình là tình trạng quá trình truyền dẫn và tiếp nhận thông tin của hệ tiền đình bị rối loạn hoặc tắc nghẽn do tổn thương dây thần kinh số 8, động mạch nuôi dưỡng não, hoặc các tổn thương khác tại tai trong và não. Khi đó tiền đình mất khả năng giữ thăng bằng, gây loạng choạng, hoa mắt, chóng mặt, ù tai, buồn nôn… Những triệu chứng này tái diễn nhiều lần và thường xuất hiện đột ngột, gây khó chịu và cản trở sinh hoạt, lao động của người bệnh. Hai yếu tố chính làm tăng nguy cơ mắc bệnh là tuổi tác và tiền sử bệnh. Rối loạn tiền đình có thể gặp ở mọi độ tuổi, nhưng tỷ lệ ở người cao tuổi cao hơn. Theo dữ liệu y tế, trong 100 người từ 40 tuổi trở lên, có khoảng 30 người mắc rối loạn tiền đình. Hiện nay, do ảnh hưởng của môi trường và khí hậu, số người trẻ xuất hiện triệu chứng rối loạn tiền đình cũng đang tăng. Những người từng có tiền sử chóng mặt có nguy cơ cao phát triển rối loạn tiền đình về sau.Hai loại rối loạn tiền đình Rối loạn tiền đình ngoại biên: xuất phát từ tổn thương hệ tiền đình ở vùng tai trong. Triệu chứng thường rầm rộ với chóng mặt, mất thăng bằng nhưng ít nguy hiểm đến tính mạng. Đây là nhóm bệnh phổ biến nhất. Rối loạn tiền đình trung ương: do tổn thương nhân tiền đình tại thân não hoặc tiểu não. Nhóm bệnh này ít gặp hơn nhưng nguy hiểm hơn. Yếu tố gây rối loạn tiền đình Rối loạn tiền đình ngoại biên Viêm thần kinh tiền đình hoặc viêm tai trong: do nhiễm virus hoặc vi khuẩn. Chấn thương vùng đầu hoặc cột sống cổ: ảnh hưởng đến dây thần kinh và tuần hoàn, gây tổn thương hệ tiền đình. Rối loạn chuyển hóa như đái tháo đường, rối loạn lipid máu, suy giáp. Tác dụng phụ của thuốc: một số thuốc như aminoglycoside, thuốc an thần, thuốc giảm đau thần kinh có thể tác động đến tai trong. Yếu tố tâm lý: căng thẳng, lo âu, trầm cảm có thể làm nặng thêm triệu chứng. Mất ngủ, làm việc quá sức, thay đổi thời tiết: khiến cơ thể suy nhược và ảnh hưởng hoạt động thần kinh – tuần hoàn. U dây thần kinh số 8. Viêm tai giữa cấp hoặc mạn tính. Nguyên nhân rối loạn tiền đình trung ương Đột quỵ não (đặc biệt vùng cầu não, tiểu não hoặc chẩm). U não. Hạ huyết áp tư thế. Hội chứng Wallenberg. Giang mai thần kinh. Xơ cứng rải rác. Thiếu máu tuần hoàn não. Đau đầu migraine. Những người có nguy cơ cao mắc rối loạn tiền đình Rối loạn tiền đình có thể gặp ở nhiều nhóm tuổi, nhưng một số đối tượng có nguy cơ cao hơn do đặc điểm sức khỏe, lối sống hoặc tính chất công việc: 1. Người trung niên và cao tuổi Tuần hoàn máu kém và thoái hóa hệ thần kinh – tiền đình theo tuổi. Nguy cơ đột quỵ cao, dẫn đến rối loạn tiền đình trung ương. 2. Người mắc bệnh nền mạn tính Tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu ảnh hưởng tuần hoàn và tai trong. Thoái hóa đốt sống cổ gây chèn ép mạch máu lên não, dễ dẫn đến hội chứng tiền đình. 3. Người bị viêm tai, chấn thương đầu hoặc tai Gây tổn thương hệ tiền đình ngoại biên. 4. Người làm việc căng thẳng, ít vận động, rối loạn giấc ngủ Stress kéo dài làm tăng cortisol, góp phần gây bệnh tim mạch, tăng huyết áp, đái tháo đường và tổn thương hệ thần kinh, trong đó có dây thần kinh số 8. 5. Phụ nữ, đặc biệt giai đoạn tiền mãn kinh hoặc mãn kinh Thay đổi nội tiết tố, tuần hoàn và tâm lý khiến nguy cơ rối loạn tiền đình cao hơn. 6. Phụ nữ mang thai Ốm nghén, chán ăn dẫn đến thiếu dinh dưỡng; tâm lý thay đổi, lo lắng khiến thai phụ dễ chóng mặt, choáng váng và xuất hiện triệu chứng rối loạn tiền đình. Tóm lại: Rối loạn tiền đình có thể ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống nếu không được phòng ngừa và điều trị đúng cách. Để giảm nguy cơ mắc bệnh và ngăn ngừa tái phát, cần: Duy trì lối sống lành mạnh: ngủ đủ giấc, ăn uống đầy đủ dinh dưỡng, uống đủ nước, tập thể dục đều đặn. Kiểm soát tốt bệnh lý nền: điều trị ổn định tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, thoái hóa cột sống cổ. Khám sức khỏe định kỳ để phát hiện sớm vấn đề ảnh hưởng đến hệ tiền đình. Quản lý stress: tránh lo âu kéo dài, thư giãn qua đọc sách, nghe nhạc, thiền… Tránh thay đổi tư thế đột ngột: ngồi dậy từ từ, hạn chế xoay đầu nhanh, chú ý khi lên xuống cầu thang, tránh đọc báo trên xe. Hạn chế môi trường gây kích thích tiền đình: tránh tàu xe dài giờ, tránh tiếng ồn, ánh sáng chớp nháy hoặc sử dụng máy tính liên tục mà không nghỉ. Tập phục hồi tiền

WHO ban hành hướng dẫn toàn cầu đầu tiên về sử dụng thuốc GLP-1 trong điều trị béo phì

Trước gánh nặng béo phì ảnh hưởng hơn 1 tỷ người, WHO lần đầu ban hành hướng dẫn toàn cầu về sử dụng thuốc chủ vận GLP-1 trong điều trị béo phì như một bệnh mạn tính. Tổ chức nhấn mạnh việc dùng thuốc phải đi kèm chăm sóc toàn diện, đảm bảo tiếp cận công bằng và chuẩn bị hệ thống y tế. 1. Béo phì – thách thức sức khỏe toàn cầu ngày càng gia tăng Béo phì đang ảnh hưởng đến người dân ở mọi quốc gia và là nguyên nhân liên quan tới 3,7 triệu ca tử vong trên toàn thế giới chỉ riêng năm 2024. Nếu không có biện pháp ứng phó mạnh mẽ, số người mắc béo phì có thể tăng gấp đôi vào năm 2030. WHO đánh giá béo phì là một bệnh lý mạn tính phức tạp, làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch, tiểu đường type 2, một số ung thư và làm giảm hiệu quả điều trị của nhiều bệnh truyền nhiễm. Bên cạnh gánh nặng sức khỏe, chi phí kinh tế toàn cầu do béo phì được dự báo đạt 3 nghìn tỷ USD mỗi năm vào năm 2030. Trong bối cảnh nhiều quốc gia yêu cầu hỗ trợ kỹ thuật, WHO đã phát triển hướng dẫn toàn cầu nhằm định hình cách tiếp cận thống nhất, khoa học trong điều trị béo phì — đặc biệt là vai trò của thuốc chủ vận GLP-1. 2. Hướng dẫn mới: Thuốc GLP-1 được khuyến nghị sử dụng cho điều trị béo phì lâu dài Đây là lần đầu tiên WHO ban hành hướng dẫn chính thức về sử dụng liệu pháp GLP-1 trong điều trị béo phì. Trước đó, tháng 9/2025, các thuốc này đã được bổ sung vào Danh mục Thuốc thiết yếu để kiểm soát đái tháo đường type 2 ở nhóm nguy cơ cao. Trong hướng dẫn, WHO đưa ra hai khuyến nghị có điều kiện quan trọng: 1. GLP-1 có thể sử dụng cho người lớn mắc béo phì, trừ phụ nữ mang thai Các thuốc như liraglutide, semaglutide và tirzepatide được chứng minh mang lại hiệu quả giảm cân, cải thiện chuyển hóa và giảm nguy cơ biến chứng. Tuy nhiên, khuyến nghị vẫn có điều kiện do: Dữ liệu an toàn và hiệu quả lâu dài còn hạn chế Chi phí thuốc hiện vẫn cao Hệ thống y tế nhiều nước chưa sẵn sàng triển khai rộng rãi Lo ngại về công bằng trong tiếp cận dịch vụ 2. Người dùng GLP-1 nên được kết hợp can thiệp hành vi chuyên sâu WHO nhấn mạnh các biện pháp can thiệp có cấu trúc về dinh dưỡng, thay đổi hành vi và tăng cường hoạt động thể chất có thể mang lại kết quả điều trị tốt hơn. Điều này dựa trên bằng chứng tuy có độ tin cậy thấp nhưng mang ý nghĩa thực hành quan trọng. Tiến sĩ Tedros Adhanom Ghebreyesus, Tổng Giám đốc WHO, khẳng định: “Chỉ dùng thuốc sẽ không thể giải quyết cuộc khủng hoảng béo phì toàn cầu. Liệu pháp GLP-1 là một phần của chiến lược chăm sóc toàn diện, giúp hàng triệu người vượt qua bệnh lý mạn tính này”. 3. Ba trụ cột để giải quyết béo phì bền vững Hướng dẫn của WHO nhấn mạnh béo phì không chỉ là vấn đề y tế cá nhân mà là thách thức của toàn xã hội. Việc kiểm soát bền vững đòi hỏi chiến lược đa ngành, với ba trụ cột chính: 1. Tạo môi trường sống lành mạnh hơn:Quốc gia cần thực thi các chính sách mạnh mẽ để thúc đẩy ăn uống lành mạnh, giảm thực phẩm không tốt cho sức khỏe, khuyến khích hoạt động thể chất và phòng ngừa béo phì ngay từ cộng đồng. 2. Bảo vệ nhóm nguy cơ cao:Sàng lọc sớm, can thiệp có mục tiêu và chăm sóc liên tục giúp hạn chế tiến triển của béo phì và giảm biến chứng. 3. Đảm bảo tiếp cận dịch vụ chăm sóc trọn đời, lấy con người làm trung tâm: Người bệnh béo phì cần được điều trị toàn diện, từ tư vấn dinh dưỡng, hỗ trợ tâm lý đến dùng thuốc và theo dõi lâu dài. 4. Thách thức trong triển khai: Giá thuốc, khả năng chi trả và tính công bằng Nhu cầu GLP-1 tăng mạnh dẫn đến nguy cơ bất bình đẳng y tế nếu không có chính sách phù hợp. WHO cảnh báo: Nếu không mở rộng sản xuất, tới năm 2030 chỉ dưới 10% người cần thuốc có thể tiếp cận. Chi phí cao có thể khiến nhiều quốc gia thu nhập thấp – trung bình đứng ngoài cuộc. Hệ thống y tế nhiều nước còn thiếu nhân lực, năng lực giám sát và cơ chế chi trả cho nhóm thuốc mới. WHO kêu gọi cộng đồng quốc tế “hành động khẩn cấp”, thúc đẩy: Mua sắm chung Định giá theo từng bậc Cấp phép tự nguyện Tăng sản xuất, đảm bảo chuỗi cung ứng 5. Nguy cơ sản phẩm GLP-1 giả và kém chất lượng Nhu cầu tăng nhanh của thuốc GLP-1 đã kéo theo sự xuất hiện của sản phẩm giả, kém chất lượng, tạo ra rủi ro nghiêm trọng cho người bệnh. WHO nhấn mạnh cần: Kê đơn và phân phối nghiêm ngặt bởi nhân viên y tế có chuyên môn Tăng cường giám sát dược Giáo dục bệnh nhân về dùng thuốc an toàn Hợp tác quốc tế để ngăn chặn thuốc giả WHO khuyến cáo các quốc gia phải cảnh giác cao độ để bảo vệ bệnh nhân và duy trì niềm tin vào hệ thống y tế. Hướng dẫn được xây dựng dựa trên phân tích sâu các bằng chứng và ý kiến của nhiều bên liên quan, bao gồm cả người có trải nghiệm thực tế với béo phì. Đây là một phần trong kế hoạch đẩy nhanh tiến độ chấm dứt tình

‘Thủ phạm’ đứng sau những ca đột quỵ

Tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu hay tiểu đường tiến triển lặng lẽ khiến nhiều người tưởng mình khỏe mạnh nhưng thực tế lại đứng trước nguy cơ đột quỵ bất cứ lúc nào… Người đàn ông 30 tuổi vốn quen với những cơn đau đầu âm ỉ sau mỗi ngày làm việc căng thẳng. Anh vẫn thường xoa thái dương, tự trấn an “chắc do áp lực”. Cho đến một đêm tháng 10, khi đang chạy trên sân bóng, mọi thứ bỗng chao đảo, nửa thân phải trở nên nặng trịch. Anh đổ sụp xuống mặt sân trong sự hốt hoảng của đồng đội. Ở khoa Cấp cứu, các bác sĩ nhanh chóng đánh giá tình trạng. Những dấu hiệu chóng mặt dữ dội, thất điều nửa người phải cùng huyết áp tăng vọt tới 200/100 mmHg khiến họ nghĩ ngay đến đột quỵ. Bệnh nhân được đưa đi chụp MRI ngay trong đêm. Ê-kíp cấp cứu lập tức dùng thuốc tiêu sợi huyết. Các bác sĩ chỉ ra yếu tố nguy cơ lớn nhất là tăng huyết áp. Những cơn đau đầu trước đó chính là dấu hiệu rõ nhất. Tại Hội nghị Liên minh Đột quỵ Toàn cầu 2025, GS.TS Trần Văn Thuấn, Thứ trưởng Y tế, nhấn mạnh đột quỵ hiện đã vượt cả ung thư và tim mạch, trở thành nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở Việt Nam. Và người đàn ông trẻ này chỉ là một trong rất nhiều trường hợp mang bệnh nền mà không hay biết, để rồi trả giá bằng phút giây cận kề sinh tử. Yếu tố nền âm thầm dẫn đường cho đột quỵ Trên bản đồ đột quỵ toàn cầu, Việt Nam hiện lên với gam màu đỏ đậm, nằm trong nhóm các quốc gia có gánh nặng đột quỵ ở mức cao nhất. Tỷ lệ mắc ước tính hơn 218 ca trên 100.000 dân, đồng nghĩa mỗi năm, hơn 200.000 người Việt phải nhập viện vì cơn tai biến đến bất ngờ. Đột quỵ đã trở thành nguyên nhân tử vong hàng đầu tại Việt Nam, đưa nước ta vào nhóm có tỷ lệ mắc đứng đầu khu vực Đông Nam Á. Đằng sau những con số ngày càng tăng, theo PGS.TS Nguyễn Huy Thắng, Trưởng khoa Bệnh lý mạch máu não, Bệnh viện Nhân Dân 115, Phó chủ tịch Hội Đột quỵ Việt Nam, là cả quá trình âm thầm tích tụ của nhiều yếu tố nguy cơ mà người bệnh thường không hay biết. Nhiều người nghĩ mình khỏe mạnh, nhưng lại mang trong người những bệnh lý nền tiến triển lặng lẽ. “Gần 90% ca đột quỵ có liên quan đến ít nhất một bệnh nền”, ông nói. Trong số đó, tăng huyết áp luôn đứng đầu danh sách. Hiệp hội Tim mạch Mỹ nhấn mạnh rằng hầu hết bệnh nhân bị đột quỵ lần đầu đều có huyết áp cao. Tăng huyết áp kéo dài làm tổn thương lớp nội mạc mạch máu, khiến thành mạch yếu đi, dễ nứt vỡ hoặc bị bồi lấp bởi mảng xơ vữa và cục máu đông. Khi những tổn thương này xảy ra ở hệ mạch máu não, nguy cơ đột quỵ tăng. Các thống kê quốc tế củng cố nhận định này. Một phân tích trên tạp chí Stroke của Hiệp hội Tim mạch Mỹ ghi nhận hơn 70% bệnh nhân đột quỵ cấp nhập viện có tiền sử tăng huyết áp. Tỷ lệ này còn cao hơn ở châu Á. Dữ liệu từ hệ thống China National Stroke Registry cho thấy 80-90% người bệnh đột quỵ, đặc biệt trong nhóm xuất huyết não, đều sống chung với tăng huyết áp. Một yếu tố nguy cơ khác không kém phần đáng lo, theo PGS Nguyễn Huy Thắng, là rối loạn lipid máu. Khi LDL hay “cholesterol xấu” tăng cao, quá trình xơ vữa diễn ra nhanh hơn, lòng mạch hẹp dần, dòng máu di chuyển qua khu vực tổn thương dễ tạo xoáy và hình thành cục máu đông. Những cảnh báo này được phản ánh rõ trong dữ liệu thực tế. Trong nghiên cứu “Dyslipidemia among Patients with Ischemic Stroke” tại Nepal, rối loạn lipid xuất hiện với tỷ lệ rất cao. 80% trong số 150 bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não mắc ít nhất một dạng bất thường mỡ máu. Hơn một nửa có cholesterol toàn phần và triglyceride tăng, 45% tăng LDL. Trong vô số yếu tố nguy cơ dẫn đến đột quỵ, đái tháo đường lại là tình trạng dễ bị lãng quên nhất. Hiệp hội Đột quỵ Mỹ cho biết đường huyết tăng cao kéo dài khiến máu trở nên “đặc” và kém linh hoạt hơn, từ đó làm chậm dòng chảy và hạn chế khả năng đưa oxy, dưỡng chất lên não. Đáng lưu ý, tăng huyết áp lại xuất hiện rất phổ biến ở người mắc tiểu đường, và chính sự kết hợp thầm lặng này khiến nguy cơ đột quỵ ở nhóm bệnh nhân tiểu đường luôn cao hơn rõ rệt so với người không mắc bệnh. Dự phòng đột quỵ Trong dự phòng đột quỵ, yếu tố quyết định không chỉ nằm ở phác đồ điều trị hay kỹ thuật can thiệp, mà bắt đầu từ chính sự chủ động của mỗi người. Dự phòng đột quỵ chỉ thật sự hiệu quả khi người bệnh chủ động tham gia vào quá trình chăm sóc sức khỏe của chính mình. Theo ThS.BS Lê Thanh Khôi, Trưởng hội đồng chuyên môn Y khoa, Hệ thống nhà thuốc và Trung tâm tiêm chủng Long Châu, Với những người đã có bệnh nền, việc tuân thủ điều trị, kiểm soát các yếu tố nguy cơ và tái khám đúng hẹn không chỉ là khuyến cáo mà là yêu cầu bắt buộc. “Bác sĩ có thể rất tâm huyết, cẩn trọng, nhưng nếu người bệnh không tự bảo vệ mình thì rất khó kiểm soát được nguy cơ”, ông chia sẻ. Song song với điều trị, bác sĩ Khôi nhấn

Vì sao người trung niên dễ mất ngủ và cách khắc phục hiệu quả

Tuổi tác là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ. Hiện nay, rất nhiều người rơi vào tình trạng mất ngủ khi bước vào tuổi trung niên. Nguyên nhân gây mất ngủ ở tuổi trung niên Có nhiều lý do khiến người trung niên bị mất ngủ trong đó có thể là do các nguyên nhân sau: Thay đổi hormone Một trong những nguyên nhân chính khiến phụ nữ trung niên mất ngủ là sự thay đổi hormone trong giai đoạn tiền mãn kinh và mãn kinh. Sự suy giảm estrogen và progesterone dẫn đến nhiều biến đổi trong cơ thể, gây khó khăn trong việc đi vào giấc ngủ và duy trì giấc ngủ sâu. Vấn đề sức khỏe Nhiều vấn đề sức khỏe thường xuất hiện ở tuổi trung niên như đau lưng, đau khớp, tiểu đêm hoặc bệnh lý tim mạch. Những triệu chứng này làm gián đoạn giấc ngủ, khiến người bệnh khó duy trì giấc ngủ liên tục và sâu. Thói quen ăn uống, sinh hoạt thiếu lành mạnh Một số thói quen xấu gây mất ngủ ở tuổi trung niên gồm: – Ngủ trưa quá nhiều hoặc quá ít, ảnh hưởng đến giấc ngủ buổi tối. – Ăn quá nhiều trước khi ngủ hoặc dùng thực phẩm khó tiêu. – Sử dụng chất kích thích khiến hệ hệ thần kinh căng thẳng. – Dùng máy tính, điện thoại hoặc các thiết bị điện tử sát giờ ngủ. Stress và lo âu Cuộc sống tuổi trung niên thường đi kèm nhiều áp lực về gia đình, công việc và những thay đổi trong vai trò xã hội. Căng thẳng và lo âu làm mất cân bằng hệ thần kinh, dẫn đến tình trạng khó ngủ, mất ngủ kéo dài. Cách khắc phục mất ngủ ở tuổi trung niên Tạo một môi trường ngủ tốt Hãy đảm bảo phòng ngủ luôn thoáng đãng, yên tĩnh và mát mẻ. Sử dụng ánh sáng dịu nhẹ và và giữ không gian yên tĩnh để hỗ trợ giấc ngủ. Xây dựng thói quen ngủ Duy trì lịch trình ngủ cố định mỗi ngày giúp cơ thể và tâm trí thiết lập đồng hồ sinh học, tạo điều kiện thuận lợi cho giấc ngủ. Thay đổi lối sống Duy trì lối sống lành mạnh đóng vai trò quan trọng – Tập thể dục đều đặn – Ăn uống khoa học – Hạn chế sử dụng chất kích thích như cafein và nicotine vào buổi tối. Vận động thể chất Tập luyện hằng ngày giúp cơ thể mệt tự nhiên và dễ đi vào giấc ngủ hơn. Tuy nhiên, không nên tập luyện quá gần giờ ngủ, vì hoạt động mạnh có thể khiến cơ thể tỉnh táo, khó ngủ. Xử lý stress và lo âu Học cách quản lý căng thẳng thông qua các phương pháp thư giãn như yoga, thiền hoặc những hoạt động giúp tinh thần thoải mái trước khi đi ngủ. Tham khảo ý kiến của bác sĩ Nếu tình trạng mất ngủ trở nên nghiêm trọng hoặc kéo dài, cần tìm đến bác sĩ để được tư vấn chuyên môn và cân nhắc các liệu pháp hỗ trợ phù hợp. Ngoài ra, việc bổ sung nội tiết tố estrogen đầy đủ từ sớm – hoặc từ sau tuổi 35 theo chỉ định y tế – có thể giúp hạn chế các cơn bốc hỏa trong giai đoạn mãn kinh và tiền mãn kinh. Mất ngủ là vấn đề phổ biến ở tuổi trung niên nhưng hoàn toàn có thể cải thiện. Hiểu rõ nguyên nhân và áp dụng các biện pháp phù hợp sẽ giúp nâng cao chất lượng giấc ngủ, từ đó cải thiện sức khỏe và tinh thần. Một giấc ngủ đủ và chất lượng giúp tăng cường miễn dịch, hỗ trợ hấp thụ dinh dưỡng, phục hồi năng lượng cho não bộ và cơ thể. Đây là yếu tố quan trọng trong phòng chống bệnh tật, đặc biệt là các bệnh tim mạch và rối loạn tâm thần. Ngủ không đủ giấc có thể gây hại cho tim Khi bạn ngủ không đủ, các hậu quả ngắn hạn như giảm tập trung, dễ cáu gắt sẽ nhanh chóng xuất hiện. Về lâu dài, giấc ngủ kém chất lượng có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Các nghiên cứu cho thấy những người có thời gian ngủ không đều – thay đổi từ 90 phút đến hơn 2 giờ mỗi tuần – có nguy cơ sở hữu điểm canxi động mạch vành cao hơn khoảng 1,4 lần so với người duy trì thời lượng ngủ ổn định. Điều này cho thấy việc duy trì thói quen ngủ đều đặn và đảm bảo tổng thời gian ngủ tương đối giống nhau mỗi đêm có thể đóng vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa bệnh tim mạch. https://suckhoedoisong.vn/vi-sao-nguoi-trung-nien-de-mat-ngu-va-cach-khac-phuc-hieu-qua-169251117092842401.htm  

Bộ Y tế: 7 khuyến cáo phòng chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp

Sáng 18/11/2025, Bộ Y tế đã thông tin về tình hình một số bệnh viêm đường hô hấp cấp và khuyến cáo phòng, chống. Từ đầu năm 2025, cả nước ghi nhận hơn 132.000 trường hợp mắc cúm mùa, trong đó có 03 trường hợp tử vong. So với cùng kỳ năm 2024 (267.401 ca mắc, 06 tử vong), số mắc giảm 54,8%, số tử vong giảm 03 trường hợp. Các chủng virus cúm lưu hành chủ yếu tại Việt Nam hiện nay là cúm A(H1N1), A/H3N2 và cúm B, chưa ghi nhận thay đổi về độc lực của virus. Theo Bộ Y tế, hiện nay, thời tiết đang trong giai đoạn chuyển mùa Thu – Đông, sự thay đổi thất thường của nhiệt độ và độ ẩm là điều kiện thuận lợi cho các tác nhân gây bệnh đường hô hấp phát triển và lây lan, đặc biệt là bệnh cúm mùa, đồng thời giai đoạn cuối năm có sự gia tăng giao lưu, đi lại và tổ chức nhiều sự kiện đông người như hội nghị, tổng kết, đám cưới, … làm tăng nguy cơ lây lan từ các khu vực công cộng, tập trung đông người về các hộ gia đình và tăng khả năng mắc bệnh ở trẻ em, người già là những đối tượng có nguy cơ cao. Hệ thống giám sát đã ghi nhận sự gia tăng cục bộ các trường hợp mắc cúm mùa, bệnh do virus hợp bào hô hấp, bệnh tay chân miệng tại một số địa phương, trong đó có nhiều ca nhập viện điều trị tại các bệnh viện tuyến cuối, nhất là khu vực miền Bắc. Để chủ động phòng, chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp, Bộ Y tế đưa 7 khuyến cáo với người dân 1. Đảm bảo vệ sinh cá nhân, thường xuyên rửa tay thường xuyên, che miệng khi ho, hắt hơi. Không đưa tay lên mắt, mũi, miệng khi chưa rửa sạch. 2. Đeo khẩu trang khi đến nơi tập trung đông người, trên các phương tiện giao thông công cộng, hoặc khi có các triệu chứng nghi ngờ mắc bệnh để bảo vệ bản thân và người xung quanh. 3. Hạn chế tiếp xúc với người mắc bệnh viêm đường hô hấp cấp hoặc các trường hợp nghi ngờ mắc bệnh khi không cần thiết. 4. Vệ sinh môi trường sống, thường xuyên vệ sinh, lau chùi các bề mặt hay tiếp xúc (như tay nắm cửa, bàn phím, điện thoại…); 5. Thường xuyên thực hiện các biện pháp làm thông thoáng và đón ánh sáng tự nhiên vào phòng học, phòng làm việc, phòng hội nghị, hội thảo, nhất là sau giờ học, sau giờ làm việc, sau các buổi tổ chức sự kiện để tiêu diệt mầm bệnh, giảm nguy cơ lây bệnh. 6. Nâng cao thể trạng, thực hiện lối sống lành mạnh; có chế độ ăn uống cân bằng, đủ chất dinh dưỡng; tăng cường vận động thể lực để nâng cao sức đề kháng của cơ thể. 7. Khi có các triệu chứng như ho, sốt, sổ mũi, đau đầu, mệt mỏi, người dân cần liên hệ ngay với cơ sở y tế để được tư vấn, khám và xử trí kịp thời. Không tự ý mua thuốc, đặc biệt là thuốc kháng vi rút để điều trị tại nhà nếu không có chỉ định của cán bộ y tế. https://moh.gov.vn/thong-tin-chi-dao-dieu-hanh/-/asset_publisher/DOHhlnDN87WZ/content/bo-y-te-7-khuyen-cao-phong-chong-dich-benh-viem-uong-ho-hap-cap?inheritRedirect=false&redirect=https%3A%2F%2Fmoh.gov.vn%3A443%2Fthong-tin-chi-dao-dieu-hanh%3Fp_p_id%3D101_INSTANCE_DOHhlnDN87WZ%26p_p_lifecycle%3D0%26p_p_state%3Dnormal%26p_p_mode%3Dview%26p_p_col_id%3Drow-3-column-3%26p_p_col_count%3D2

Khuyến cáo phòng chống dịch bệnh viêm não mô cầu

Trong tuần qua, Hà Nội ghi nhận 1 ca mắc não mô cầu tại xã Thường Tín, trường hợp mắc là bệnh nhân nam, 24 tuổi, chưa tiêm vắc xin phòng não mô cầu. Cộng dồn năm 2025 đến nay ghi nhận 3 ca mắc, 0 ca tử vong, số mắc tăng so với cùng kỳ năm 2024 (2/0). Đây là căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, có khả năng lây lan nhanh, dễ gây biến chứng nặng nề như viêm màng não, nhiễm trùng huyết, thậm chí tử vong nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời. Người dân cần chủ động đưa trẻ em và người trong gia đình đi tiêm vắc xin phòng bệnh não mô cầu. Bệnh não mô cầu do vi khuẩn Neisseria meningitidis gây ra, có hơn 12 nhóm huyết thanh, trong đó các nhóm A, B, C, W, Y thường gây bệnh ở người. Bệnh có thể xuất hiện rải rác quanh năm, nhưng thường bùng phát thành ổ dịch nhỏ vào mùa đông – xuân khi thời tiết lạnh và ẩm. Trẻ em và thanh thiếu niên là nhóm dễ mắc nhất do hệ miễn dịch còn yếu hoặc sinh hoạt tập trung trong trường học, ký túc xá. Tỷ lệ tử vong cao (có thể lên đến 50% nếu không được điều trị kịp thời) và nhiều trường hợp để lại di chứng nặng nề như điếc, tổn thương não, hoại tử chi. Ở Việt Nam, bệnh xuất hiện rải rác tại nhiều tỉnh, thành phố, trong đó có thành phố Hà Nội, các ca bệnh thường ghi nhận lẻ tẻ và luôn tiềm ẩn nguy cơ bùng phát. Bệnh lây chủ yếu qua dịch tiết đường hô hấp (nước bọt, dịch mũi họng) khi tiếp xúc gần với người mắc hoặc người lành mang vi khuẩn. Bệnh có diễn biến rất nhanh, có thể gây tử vong chỉ trong vòng 24-48 giờ. Đối tượng nguy cơ cao như trẻ nhỏ, học sinh – sinh viên sống tập trung trong ký túc xá, nhà trẻ, trường học; người có sức đề kháng kém. Những dấu hiệu nhận biết sớm như sốt cao đột ngột, đau đầu dữ dội, buồn nôn hoặc nôn, cứng gáy, nổi ban xuất huyết trên da. Khi có các triệu chứng nghi ngờ, cần đưa người bệnh đến cơ sở y tế ngay để được chẩn đoán và điều trị kịp thời. Để chủ động phòng chống dịch bệnh, CDC Hà Nội khuyến cáo người dân các biện pháp phòng bệnh bao gồm: Giữ vệ sinh cá nhân, rửa tay thường xuyên bằng xà phòng; đeo khẩu trang khi đến nơi đông người, che miệng khi ho, hắt hơi; giữ gìn nhà cửa, phòng học thông thoáng, sạch sẽ; tránh dùng chung đồ dùng cá nhân như cốc, khăn mặt, bàn chải đánh răng; hạn chế tiếp xúc gần với người đang có triệu chứng viêm đường hô hấp. Đồng thời, chủ động đưa trẻ em và người trong gia đình đi tiêm vắc xin phòng bệnh não mô cầu tại các điểm tiêm chủng dịch vụ. Về việc xử trí khi có ca bệnh, nếu trong gia đình, lớp học hoặc khu tập thể phát hiện người mắc bệnh, cần nhanh chóng đưa đi điều trị, đồng thời thông báo cho y tế địa phương để được hướng dẫn giám sát, phòng dịch kịp thời. Bệnh não mô cầu có thể tiến triển rất nhanh, chỉ trong vài giờ đến vài ngày, do đó tuyệt đối không chủ quan. Người dân cần nâng cao cảnh giác, theo dõi sát sức khỏe của trẻ em và người thân. https://soyte.hanoi.gov.vn/y-te-du-phong-65152/khuyen-cao-phong-chong-dich-benh-viem-nao-mo-cau-2849251104095236286.htm

Phù chân do thuốc huyết áp, tiểu đường: Hiểu đúng để không hoang mang và sử dụng thuốc an toàn

Phù, sưng bàn chân hoặc mắt cá chân là tình trạng mà nhiều người gặp phải khi dùng thuốc điều trị huyết áp hoặc tiểu đường. Hiện tượng này thường không nguy hiểm, nhưng nếu không hiểu rõ nguyên nhân, người bệnh có thể lo lắng, ngừng thuốc sai cách và khiến bệnh lý trở nên nghiêm trọng hơn. 1. Phù, sưng chân rất thường gặp khi dùng thuốc Sưng, phù bàn chân hoặc mắt cá chân (phù ngoại biên) là một trong những tác dụng phụ khá phổ biến ở người đang điều trị bệnh huyết áp hoặc tiểu đường. Dù hiếm khi đe dọa tính mạng, tình trạng này có thể khiến người bệnh khó chịu, nặng chân, khó mang giày dép và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Hai loại thuốc thường gặp nhất gây ra hiện tượng này là amlodipine (trị tăng huyết áp) và pioglitazone (trị đái tháo đường): – Amlodipine là thuốc hạ huyết áp thuộc nhóm chẹn kênh canxi, giúp giãn mạch máu để cải thiện lưu thông và giảm huyết áp. Tuy nhiên, việc giãn các động mạch nhỏ đồng thời khiến dịch trong lòng mạch dễ rò rỉ ra mô kẽ, dẫn đến sưng nhẹ ở chi dưới. – Trong khi đó, pioglitazone là thuốc giúp kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân tiểu đường type 2 bằng cách tăng nhạy cảm với insulin, lại có xu hướng giữ nước và natri trong cơ thể. Điều này khiến một lượng dịch dư thừa tích tụ tại các mô mềm, biểu hiện rõ nhất ở vùng bàn chân và mắt cá chân. Cả hai loại thuốc đều có thể gây sưng phù nhẹ, đặc biệt ở người lớn tuổi hoặc người dùng liều cao. Một loại thuốc khác cũng có thể gây sưng tương tự là pregabalin, thường được kê để điều trị đau dây thần kinh do tiểu đường hoặc các nguyên nhân khác. Pregabalin làm tăng tính thấm mao mạch và gây ứ đọng tĩnh mạch, từ đó dẫn đến phù nề rõ hơn, nhất là khi sử dụng lâu dài. Phù, sưng chân là hiện tường thường gặp khi dùng một số thuốc trị tiểu đường, huyết áp. 2. Vì sao thuốc lại khiến chân bị sưng phù? Hiện tượng phù chân do thuốc được gọi là phù ngoại biên do thuốc. Cơ chế hình thành liên quan đến sự thay đổi cân bằng dịch giữa lòng mạch và mô kẽ. Khi mạch máu giãn rộng (như trong trường hợp dùng amlodipine), áp lực trong mao mạch giảm, khiến dịch dễ rò ra ngoài. Với các thuốc như pioglitazone, nguyên nhân lại là do giữ nước và natri trong cơ thể, làm tăng thể tích dịch tuần hoàn và dẫn đến ứ đọng ở chi dưới. Ở những người có bệnh nền tim mạch, suy thận hoặc suy tĩnh mạch, hiện tượng này càng dễ xảy ra. Người cao tuổi, ít vận động hoặc phải đứng, ngồi lâu trong ngày cũng có nguy cơ cao hơn. Đáng chú ý, tác dụng phụ này thường nhẹ và có thể kiểm soát được, không nên hiểu lầm là dấu hiệu bệnh lý nghiêm trọng. 3. Khi nào cần báo cho bác sĩ? Nếu nhận thấy chân sưng, nặng, có vết lõm khi ấn, giày dép chật hơn hoặc cảm giác căng tức vùng cổ chân, hãy thông báo với bác sĩ điều trị, đặc biệt nếu tình trạng xuất hiện sau khi bắt đầu dùng thuốc mới. Việc bác sĩ xác định đúng nguyên nhân rất quan trọng, vì sưng chân còn có thể liên quan đến các bệnh lý khác như suy tim, bệnh thận hoặc rối loạn tĩnh mạch. Bệnh nhân không nên tự ý ngừng thuốc hoặc điều chỉnh liều khi thấy sưng. Việc ngừng thuốc đột ngột có thể khiến huyết áp tăng vọt hoặc đường huyết tăng cao, gây biến chứng tim mạch nghiêm trọng. Trong một số trường hợp, bác sĩ có thể: Giảm liều thuốc hoặc chuyển sang thuốc cùng nhóm ít gây phù hơn. Kê thêm thuốc lợi tiểu nhẹ để hỗ trợ đào thải dịch dư. Khuyến nghị thay đổi thời điểm dùng thuốc, chẳng hạn dùng buổi sáng thay vì buổi tối. Việc theo dõi định kỳ giúp kiểm soát tốt cả bệnh lý và tác dụng phụ, đồng thời ngăn ngừa biến chứng lâu dài. 4. Cách giảm sưng và phòng ngừa tái phát Đối với sưng phù nhẹ, người bệnh có thể áp dụng một số biện pháp hỗ trợ đơn giản: Kê cao chân khi nằm hoặc nghỉ ngơi để giúp dịch trở lại hệ tuần hoàn. Hạn chế ăn mặn, giảm lượng natri nạp vào cơ thể. Tập vận động nhẹ nhàng như đi bộ, xoay cổ chân hoặc cử động các ngón chân thường xuyên. Không ngồi hoặc đứng một tư thế quá lâu, tránh làm máu ứ đọng ở chi dưới. Theo dõi cân nặng và vòng cổ chân hằng tuần để phát hiện sớm thay đổi bất thường. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng các biện pháp này chỉ hỗ trợ, không thay thế cho việc đánh giá y khoa. Nếu sưng ngày càng nặng, kèm theo khó thở, mệt mỏi, đau ngực hoặc tăng cân nhanh, cần đến ngay cơ sở y tế để loại trừ nguyên nhân tim mạch hoặc thận. 5. Người bệnh không ngừng thuốc vì lo sợ Amlodipine, pioglitazone và pregabalin là những thuốc có hiệu quả đã được chứng minh, được dùng rộng rãi và an toàn khi có chỉ định đúng. Việc xuất hiện phù nhẹ không có nghĩa là thuốc không hợp hay gây độc. Thực tế, phần lớn trường hợp sưng phù sẽ giảm sau vài tuần cơ thể thích nghi, hoặc biến mất khi bác sĩ điều chỉnh liều. Nếu bệnh nhân tự ngừng amlodipine vì thấy chân sưng, khiến huyết áp tăng cao đột ngột nguy hiểm. Trong khi chỉ cần đổi thuốc khác hoặc thêm một thuốc lợi tiểu

Vì sao đái tháo đường gây suy thận?

Đái tháo đường là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây bệnh thận mạn tính, chiếm tỷ lệ cao nhất trong các trường hợp suy thận giai đoạn cuối phải điều trị thay thế thận như lọc máu chu kỳ, lọc màng bụng, ghép thận… Cơ chế chính gây bệnh là tổn thương vi mạch tại cầu thận do tình trạng tăng đường huyết kéo dài. Glucose máu cao dẫn đến dày màng đáy cầu thận, tăng sinh tế bào trung mô và xơ hóa cầu thận, làm giảm khả năng lọc chọn lọc của màng lọc. Hậu quả là albumin niệu xuất hiện, phản ánh giai đoạn sớm của bệnh thận do đái tháo đường. Khi đường huyết không được kiểm soát, quá trình xơ hóa cầu thận tiến triển dần, dẫn đến giảm mức lọc cầu thận (eGFR), tăng albumin niệu, rồi chuyển sang bệnh thận mạn tính (CKD) và cuối cùng là suy thận giai đoạn cuối (ESKD). Người mắc bệnh thận do đái tháo đường thường không có triệu chứng trong giai đoạn đầu. Khi tổn thương tiến triển, các biểu hiện có thể xuất hiện như mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn, ngứa da, sưng phù tay chân, tiểu ít hoặc tiểu đêm nhiều, huyết áp tăng cao. Những dấu hiệu này thường đến chậm nên nhiều bệnh nhân chỉ phát hiện khi chức năng thận đã giảm đáng kể. Anh nên tầm soát định kỳ để phòng ngừa biến chứng thận do đái tháo đường. Người bệnh nên theo dõi huyết áp, đường máu, cân nặng định kỳ và tầm soát chỉ số microalbumin niệu và mức lọc cầu thận ít nhất mỗi 3-6 tháng một lần. Anh không tự ý ngừng hoặc thay đổi thuốc hạ đường huyết, thuốc huyết áp khi chưa có chỉ định. Duy trì chế độ ăn lành mạnh, ngủ đủ giấc, kiểm tra sức khỏe định kỳ chính là biện pháp hiệu quả nhất để bảo vệ thận và kéo dài tuổi thọ. Khi đã mắc bệnh thận do đái tháo đường, việc điều trị chủ yếu tập trung làm chậm tiến triển và bảo tồn phần chức năng thận còn lại. Bác sĩ thường chỉ định thuốc kiểm soát đường huyết, huyết áp, kết hợp với chế độ ăn hạn chế muối, đường và đạm tránh lạm dụng thuốc, thực phẩm gây độc thận. Người bệnh nên duy trì cân nặng hợp lý, tập luyện đều đặn, tránh hút thuốc và uống rượu bia. Nếu người bệnh nặng, chức năng thận giảm dưới ngưỡng cho phép, bác sĩ chỉ định điều trị thay thế thận bằng các phương pháp lọc máu, lọc màng bụng hoặc ghép thận. https://vnexpress.net/vi-sao-dai-thao-duong-gay-suy-than-4958482.html

Đặt Lịch Khám

    Đặt Lịch Khám