BỆNH VIỆN BẮC THĂNG LONG
BẮC THĂNG LONG HOSPITAL

(84-24).0889.615.815

Email: bvbtl@hanoi.gov.vn

BỆNH VIỆC BẮC THĂNG LONG
BẮC THĂNG LONG HOSPITAL

TƯ VẤN SỨC KHOẺ

Tư Vấn Sức Khoẻ

CÚM A VÀ SỐT CAO KHÓ HẠ Ở TRẺ NHỎ

Năm nay mùa Cúm, RSV, Adeno, đến sớm hơn dự kiến và các bác sĩ khoa Nhi bệnh viện Bắc Thăng Long thấy nhiều trẻ sốt cao khó hạ hơn bình thường, đặc biệt tỉ lệ sốt cao dẫn đến co giật tím tái, rối loạn điện giải…nhập viện cấp cứu trong đêm rất nhiều. Nhiều bố mẹ các cháu gọi cho bác sĩ lúc nửa đêm để hỏi về sốt, hạ sốt và bác sĩ đều cố gắng giải thích, hướng dẫn cặn kẽ. Qua bài viết này, bố mẹ có con nhỏ có thể tham khảo: Về bản chất sốt đó là quá trình cơ thể tăng thân nhiệt lên và chiến đấu với vi sinh vật xâm nhập vào cơ thể, nhiệt độ cao của cơ thể sẻ khiến bất hoạt các vi khuẩn, vi rút…để từ đó các tế bào miễn dịch dễ dàng đẩy tác nhân gây bệnh ra khỏi cơ thể bé. Nhưng nếu bé sốt cao quá có thể khến bé mệt, mất nước, co giật….nên không để bé sốt quá cao. VẬY NÊN LÀM GÌ KHI BÉ SỐT? Con số duy nhất bs nghĩ bố mẹ cần nhớ đố là lều hạ sốt Paracetamol (Acetaminophen) 10-15mg/kg. LƯU Ý KHOẢNG CÁCH GIỮA 2 LẦN HẠ SỐT LÀ 4-6 GIỜ. CÁCH TÍNH LIỀU NHANH KHI SỐT: Trẻ 6 kg là gói 80mg Trẻ 10 kg là gói 150mg, trẻ 5kg là ½,  gói 150mg. Trẻ 20kg là 2 gói 150mg.   Bé nhà bạn 12kg thì bố mẹ để sẵn gói 150mg có sốt là pha 1 gói uống luôn, bé 15kg thì pha 1,5 gói 150mg. Khi uống hạ sốt KHÔNG NHẤT THIẾT nhiệt độ cơ thể của bé phải giảm từ 40 độ xuống 37 độ như bình thường khi không có bệnh được. Chỉ cần các bố mẹ cho uống và nhiệt độ cơ thể GIẢM THẤP HƠN trước khi uống hạ sốt là có thể chấp nhận được rồi.   Ví dụ uống xong giảm từ 39 độ xuống 38 độ và bé ngủ ngon là được rồi. Sốt co giật KHÔNG LIÊN QUAN trẻ sốt cao hay sốt vừa, tất cả phụ thuộc vào cơ địa từng bé. Ví dụ có bé sốt 40 độ vẫn không giật nhưng có be 38 độ là co giật.Co giật do sốt ít khi ảnh hưởng đến não hay khiến bé chậm phát triển. Nhưng nếu xửa trí sai khi co giật như đưa ngón tay hay vật dụng vào miệng có thể có tác dụng ngược là làm bé khó thở, ngừng thở…   Trẻ co giật nhưng không sốt hoặc co giật liên tục nên đưa trẻ đến bệnh viện để tìm nguyên nhân. Trẻ co giật bố mẹ cho bé nằm nghiêng trái, vỗ nhẹ lưng, thông thoáng đường thở, đừng nhét gì vào miệng bé, nhét 1 viên hạ sốt hậu môn và đợi hết cơn co giật thì đưa bé vào viện. Nếu có người quay video bé co giật thì giúp ích cho bác sĩ khi thăm khám, chẩn đoán. Đưa con đến bệnh viện khám ngay khi có những dấu hiệu NẶNG: thở mệt hơn, lừ đừ hơn, sốt cao hơn, tiêu chảy liên tục, khó thở, li bì… Khoa Nhi bệnh viện Bắc Thăng Long với đội ngũ bác sĩ, điều dưỡng giàu kinh nghiệm tận tâm, với trang thiết bị đầy đủ là địa chỉ tin cậy để chẩn đoán và điều trị các bé kịp thời. ĐT: 0971 856 045. BSCKII Hồ Sỹ Công 

Phát hiện bệnh ung thư thực quản nhờ nội soi nhuộm màu, phóng đại 150 lần

Khi sử dụng công nghệ nội soi nhuộm màu và phóng đại, bác sĩ phát hiện một tổn thương phẳng, bắt màu nâu với kích thước chỉ khoảng 15mm. Chẩn đoán cho thấy bệnh nhân bị ung thư thực quản. Nhìn được tổn thương nhỏ nhờ phóng đại 150 lần Nam bệnh nhân 63 tuổi, có tiền sử hút thuốc lá nhiều năm. Khi đi khám sức khỏe định kỳ bệnh nhân được chỉ định nội soi tiêu hóa, tầm soát ung thư vùng họng – thực quản bằng công nghệ hiện đại NBI. Khi sử dụng NBI, bác sĩ phát hiện một tổn thương phẳng, bắt màu nâu, kích thước khoảng 15mm. Tiếp đó, bác sĩ sử dụng hệ thống Olympus X1 và dây soi EZ1500 (độ phóng đại lên đến 150 lần) cho phép quan sát rõ vi mạch bề mặt. “Đánh giá vòng mạch nhú nội biểu mô (IPCL) cho thấy đây là type B1 theo phân loại JES, gợi ý ung thư biểu mô vảy thực quản giai đoạn sớm ở lớp niêm mạc, có chỉ định điều trị bằng cắt tách dưới niêm mạc qua nội soi (ESD). Tổn thương thực quản của bệnh nhân được nhuộm màu, phóng đại rất dễ quan sát (Ảnh: Bệnh viện cung cấp). Đây là một phương pháp can thiệp tối thiểu, nhằm hạn chế xâm lấn, giúp tiết kiệm chi phí, đồng thời cải thiện thời gian sống và chất lượng cuộc sống của người bệnh”, TS.BS Bùi Ánh Tuyết, Trưởng khoa Nội soi thăm dò chức năng, Bệnh viện K thông tin. Trường hợp thứ 2 là bệnh nhân nam 67 tuổi, tiền sử nghiện rượu và hút thuốc lá, được nội soi tiêu hóa trong chương trình khám sức khỏe định kỳ. Khi sử dụng hệ thống nội soi Olympus X1 với công nghệ NBI, bác sĩ phát hiện một tổn thương kích thước khoảng 10mm tại thực quản. Dựa trên hình ảnh nội soi và kinh nghiệm chuyên môn trong đánh giá ung thư sớm, bác sĩ chẩn đoán tổn thương đã vượt quá chỉ định điều trị qua nội soi. Bệnh nhân được khuyến cáo phẫu thuật. Kết quả mô bệnh học xác định bệnh nhân mắc ung thư biểu mô thực quản đã xâm lấn vào lớp dưới niêm mạc, không phù hợp với các phương pháp can thiệp nội soi. TS Tuyết cho biết, đây là hệ thống máy nội soi mới nhất mới được bệnh viện trang bị, với chức năng nhuộm màu ảo cùng phóng đại hình ảnh quang học tới 150 lần cho chẩn đoán chính xác tổn thương ung thư và can thiệp các tổn thương một cách chính xác. Phát hiện sớm, tỷ lệ sống trên 5 năm đạt 90% Theo chuyên gia này, ung thư thực quản thuộc top 15 những bệnh ung thư thường gặp tại Việt Nam, với khoảng hơn 3.600 ca chẩn đoán mới và 3.470 ca tử vong mỗi năm. Phần lớn bệnh nhân ung thư thực quản được phát hiện ở giai đoạn muộn với các triệu chứng rõ ràng như nuốt vướng, nghẹn tăng dần, ho khàn tiếng do khối u xâm lấn vào tổ chức lân cận. Ở giai đoạn này thường không thể phẫu thuật được, điều trị hóa xạ trị đồng thời thường được chỉ định nhưng tiên lượng không quá khả quan. Việc phát hiện muộn khiến hiệu quả của việc chữa bệnh bị giảm rất nhiều. Chẩn đoán bệnh ở giai đoạn sớm có vai trò quyết định trong điều trị và tiên lượng bệnh lý ung thư thực quản giúp tăng hiệu quả và giảm chi phí điều trị. Theo nhiều nghiên cứu tại Nhật Bản, tỷ lệ sống sau 5 năm của nhóm bệnh nhân phát hiện sớm có thể đạt trên 90%.” Ung thư thực quản sớm là tổn thương ung thư khu trú tại lớp niêm mạc và dưới niêm mạc, chưa xâm lấn vào cơ thực quản. Trước đây, việc chẩn đoán ung thư thực quản chủ yếu dựa vào nội soi xác định tổn thương và sinh thiết làm xét nghiệm mô bệnh học. Tuy nhiên, nội soi ống mềm với ánh sáng trắng thường khó phát hiện được tổn thương sớm tại thực quản do tổn thương nhỏ và có màu sắc tương đối đồng nhất với niêm mạc xung quanh. Vì thế, việc sử dụng nội soi nhuộm màu phóng đại lên tới 150 lần, giúp hình ảnh sắc nét, hiển thị rõ tổn thương dù là nhỏ nhất, giúp phân tích rõ ràng vi cấu trúc và vi mạch máu của tổn thương, đưa ra nhận định chính xác về tính chất tế bào học của tổn thương, phân biệt tổn thương ung thư và không ung thư từ đó đưa ra hướng can thiệp kịp thời cho người bệnh. “Mục đích của nội soi phóng đại là giúp phát hiện sớm và phân biệt các tổn thương ung thư đường tiêu hóa thường gặp ở dạ dày, thực quản, đại trực tràng.”, TS.BS Bùi Ánh Tuyết, Trưởng khoa Nội soi thăm dò chức năng cho biết. Đặc biệt, việc ứng dụng các công nghệ xử lý hình ảnh tiên tiến để chẩn đoán và phân loại ung thư thực quản không chỉ đơn thuần là để tầm soát, phát hiện ung thư ở giai đoạn sớm mà mục tiêu chính là điều trị tổn thương ung thư ở ngay giai đoạn sớm bằng can thiệp qua nội soi. TS Tuyết khuyến cáo, nếu như trước đây, người mắc ung thư thực quản thường gặp ở độ tuổi trên 50 thì giờ đây căn bệnh này có xu hướng gia tăng và trẻ hóa. Vì thế, việc khám sức khỏe định kỳ, tầm soát phát hiện sớm để điều trị kịp thời là rất quan trọng. Để phòng ngừa ung thư thực quản, mọi người nên hạn chế ăn nhiều thịt, chất béo có nguồn gốc từ đạm động vật; bổ sung

Khoảnh khắc bác sĩ ép tim ngay trên đường ở Hà Nội cứu sống nam thanh niên

Một nam thanh niên ngừng tuần hoàn sau tai nạn giao thông đã được bác sĩ ép tim ngoài lồng ngực ngay tại hiện trường, giúp bệnh nhân phục hồi nhịp tim trước khi được chuyển tới bệnh viện. Khoảng 7h ngày 16/3, tại khu vực ngõ 100 đường Nguyễn Chí Thanh (Hà Nội), một nam thanh niên gặp tai nạn giao thông và rơi vào tình trạng nguy kịch. Khi đó, bác sĩ Nguyễn Huy Tiến, công tác tại Bệnh viện Thận Hà Nội, đang trên đường đi công tác đã phát hiện sự việc. Theo thông tin ban đầu, nạn nhân nằm bất động tại hiện trường, có dấu hiệu ngừng tuần hoàn. Nhận thấy tình trạng khẩn cấp, BS Tiến đã nhanh chóng kiểm tra và tiến hành ép tim ngoài lồng ngực để duy trì tuần hoàn cho bệnh nhân. Nhờ được cấp cứu kịp thời ngay tại hiện trường, bệnh nhân dần phục hồi tuần hoàn và có dấu hiệu tỉnh lại. Sau đó, BS Tiến đã liên hệ với Trung tâm Cấp cứu 115 để đưa bệnh nhân tới cơ sở y tế tiếp tục theo dõi và điều trị. Sự can thiệp nhanh chóng, đúng chuyên môn của bác sĩ đã góp phần quan trọng giúp bệnh nhân vượt qua thời điểm nguy kịch. Nhiều người dân chứng kiến tại hiện trường bày tỏ sự cảm kích trước hành động kịp thời và tinh thần trách nhiệm của người thầy thuốc. Theo các chuyên gia y tế, trong trường hợp ngừng tuần hoàn, việc cấp cứu trong “thời gian vàng” có ý nghĩa quyết định đối với khả năng sống sót của người bệnh. Nếu không được xử trí kịp thời, chỉ sau vài phút não có thể bị tổn thương nghiêm trọng do thiếu oxy. Phương pháp ép tim ngoài lồng ngực (hồi sinh tim phổi – CPR) giúp duy trì dòng máu tạm thời tới não và các cơ quan quan trọng cho đến khi tim hoạt động trở lại hoặc người bệnh được đưa tới cơ sở y tế. Các bác sĩ khuyến cáo, khi phát hiện người nghi ngờ ngừng tuần hoàn như bất tỉnh, không thở hoặc thở bất thường, người xung quanh cần nhanh chóng gọi cấp cứu 115 và tiến hành ép tim ngoài lồng ngực nếu đã được tập huấn kỹ năng sơ cứu. Việc phổ biến kỹ năng hồi sinh tim phổi trong cộng đồng được xem là yếu tố quan trọng giúp tăng tỷ lệ sống sót cho người bệnh trong các tình huống khẩn cấp như tai nạn giao thông, đột tử hoặc ngừng tim đột ngột. Link nội dung: https://dantri.com.vn/suc-khoe/khoanh-khac-bac-si-ep-tim-ngay-tren-duong-o-ha-noi-cuu-song-nam-thanh-nien-20260316132143190.htm

PHẪU THUẬT THAY KHỚP HÁNG – GIẢI PHÁP HIỆU QUẢ CHO NGƯỜI BỆNH XƯƠNG KHỚP

Khớp háng đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự linh hoạt và vận động của cơ thể. Tuy nhiên, do quá trình lão hóa, chấn thương hoặc bệnh lý, khớp háng có thể bị tổn thương, gây đau đớn và hạn chế vận động. Phẫu thuật thay khớp háng là phương pháp điều trị hiện đại giúp phục hồi chức năng vận động, cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân. Bệnh viện Bắc Thăng Long tự hào là đơn vị y tế uy tín, cung cấp dịch vụ thay khớp háng với đội ngũ bác sĩ chuyên môn cao và trang thiết bị hiện đại. Nguyên nhân gây tổn thương khớp háng Trước khi quyết định phẫu thuật thay khớp háng, bác sĩ sẽ kiểm tra và xác định nguyên nhân gây tổn thương. Một số nguyên nhân phổ biến gồm:  Chấn thương Tai nạn giao thông, tai nạn lao động hoặc chấn thương khi chơi thể thao có thể làm tổn thương nghiêm trọng khớp háng. Tùy vào mức độ chấn thương, người bệnh có thể bị đau nhẹ hoặc mất khả năng vận động. Tuổi tác Càng lớn tuổi, hệ xương khớp càng suy yếu do quá trình lão hóa, dẫn đến tình trạng sưng viêm và đau nhức. Đây là nguyên nhân phổ biến gây đau khớp háng ở người cao tuổi. Bệnh lý Một số bệnh có thể làm tổn thương khớp háng, bao gồm: Béo phì, tiểu đường, gout, bệnh huyết sắc tố. Viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp, viêm khớp do lao,… Dị tật bẩm sinh Trẻ bị dị tật bẩm sinh ở khớp háng hoặc xương chân có thể gặp khó khăn trong việc đi lại và dễ bị đau nhức khi trưởng thành do cấu trúc khớp bất thường. Phẫu thuật thay khớp háng là gì? Phẫu thuật thay khớp háng là một phương pháp điều trị ngoại khoa, trong đó bác sĩ sẽ thay thế khớp háng bị tổn thương bằng khớp nhân tạo. Loại khớp này có thể làm bằng kim loại, nhựa hoặc gốm sứ, giúp bệnh nhân giảm đau và phục hồi khả năng vận động. Khi nào cần phẫu thuật thay khớp háng? Bệnh nhân được chỉ định thay khớp háng khi gặp các tình trạng sau: Thoái hóa khớp háng nặng, gây đau đớn kéo dài và ảnh hưởng đến sinh hoạt. Viêm khớp dạng thấp làm hỏng cấu trúc khớp. Hoại tử chỏm xương đùi do thiếu máu nuôi dưỡng. Chấn thương hoặc gãy cổ xương đùi nghiêm trọng. Các phương pháp điều trị bảo tồn không mang lại hiệu quả. Quy trình phẫu thuật thay khớp háng Tại Bệnh viện Bắc Thăng Long, quy trình thay khớp háng được thực hiện theo các bước chuẩn hóa: Bước 1: Thăm khám và tư vấn Bệnh nhân được chụp X-quang, xét nghiệm máu, đánh giá chức năng tim phổi để đảm bảo đủ điều kiện phẫu thuật. Bác sĩ tư vấn về phương pháp phẫu thuật phù hợp. Bước 2: Tiến hành phẫu thuật Bệnh nhân được gây mê toàn thân hoặc gây tê tủy sống. Bác sĩ rạch một đường nhỏ ở vùng háng, loại bỏ phần khớp hỏng và thay bằng khớp nhân tạo. Phẫu thuật diễn ra trong khoảng 1,5 – 2 giờ. Bước 3: Hồi phục sau phẫu thuật Bệnh nhân được theo dõi tại bệnh viện từ 3 – 7 ngày. Hướng dẫn tập vật lý trị liệu để phục hồi chức năng vận động. Làm gì sau phẫu thuật thay khớp háng? Để đảm bảo quá trình hồi phục diễn ra thuận lợi, người bệnh cần tuân thủ những hướng dẫn sau: Phòng tránh rối loạn đông máu Sau phẫu thuật, do hạn chế vận động, người bệnh có nguy cơ hình thành cục máu đông. Để phòng ngừa, bác sĩ sẽ chỉ định dùng thuốc chống đông máu và mang tất áp lực nhằm hỗ trợ tuần hoàn máu và giúp chân cử động sớm nhất có thể. Tập vật lý trị liệu Ban đầu, người bệnh cần nằm cố định với một dụng cụ kê giữa hai chân để giữ khớp háng đúng vị trí. Sau vài ngày, bệnh nhân sẽ bắt đầu tập vật lý trị liệu, kết hợp tập đi với gậy, nạng hoặc khung tập đi. Các bài tập sẽ tăng dần theo thời gian cho đến khi bệnh nhân có thể tự đi lại mà không cần hỗ trợ. Cẩn trọng trong sinh hoạt Tránh nhón chân, cúi thấp hoặc với tay lấy đồ ở vị trí quá cao/thấp để phòng ngừa trật khớp. Sắp xếp đồ đạc trong tầm với để tiện sử dụng. Hạn chế lái xe, khuân vác đồ nặng, leo cầu thang và đặc biệt là tránh té ngã để bảo vệ khớp mới thay. Chú ý đến dinh dưỡng Bổ sung thực phẩm giàu protein, vitamin, khoáng chất và canxi để hỗ trợ hồi phục. Tránh hải sản, thịt bò, rau muống, đồ nếp (có thể gây sẹo lồi) và thực phẩm cay nóng. Tuyệt đối không hút thuốc lá, uống rượu bia hay sử dụng chất kích thích. Tái khám theo lịch trình Thông thường, bệnh nhân sẽ cần tái khám sau 1 – 2 tuần để bác sĩ kiểm tra quá trình hồi phục. Tuy nhiên, cần đến bệnh viện ngay nếu gặp các dấu hiệu sau: Đau kéo dài tại vị trí mổ. Vết mổ sưng tấy, chảy dịch mủ hoặc máu. Chân không mổ bị sưng đau bất thường.                                                                                                         BSCKI. Lê Minh Quân                        

Xử trí đúng cách bệnh da do côn trùng

Vào thời điểm cuối xuân, đầu hè, khi nhiệt độ tăng cao và độ ẩm không khí lớn, các bệnh da do côn trùng cũng có xu hướng gia tăng. Nhiều trường hợp, các tổn thương da do côn trùng có thể gây viêm nhiễm, dị ứng kéo dài, thậm chí dẫn đến biến chứng nếu không được xử trí đúng cách. Dấu hiệu nhận biết bệnh da do côn trùng Không ít người gặp phải tình trạng da nổi sẩn đỏ, ngứa rát sau khi bị côn trùng đốt nhưng thường chủ quan, Tuy nhiên, bệnh da do côn trùng không thể chủ quan vì đây là tình trạng tổn thương da xảy ra khi da tiếp xúc với nọc độc, dịch tiết hoặc chất gây dị ứng từ các loài côn trùng. Tổn thương da do côn trùng thường xuất hiện tại những vùng da hở như tay, chân, cổ hoặc vùng quanh cạp quần – nơi quần áo ít che phủ. Biểu hiện thường gặp là các sẩn đỏ nhỏ có kích thước khoảng 3 – 5 mm. Ở trung tâm sẩn đôi khi có mụn nước nhỏ, gọi là sẩn huyết thanh. Các tổn thương này thường gây ngứa nhiều, đặc biệt vào ban đêm. Trong nhiều trường hợp, nếu người bệnh gãi nhiều, các sẩn có thể trở nên dày và cứng hơn, hình thành các sẩn cục. Da vùng tổn thương có thể bị trầy xước, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập và gây nhiễm trùng thứ phát. Một số dấu hiệu thường gặp gồm: Xuất hiện sẩn đỏ hoặc mụn nước trên da. Ngứa nhiều, đặc biệt vào ban đêm. Da có thể sưng nhẹ tại vị trí bị đốt. Tổn thương thường xuất hiện thành từng cụm hoặc theo hàng. Có thể để lại vết thâm sau khi lành. Đối với những người có cơ địa dị ứng, phản ứng da có thể mạnh hơn với biểu hiện sưng to, nổi mề đay hoặc viêm da lan rộng. Xử trí tổn thương da do côn trùng Phần lớn các trường hợp bệnh da do côn trùng đốt có thể tự khỏi sau vài ngày. Tuy nhiên, người bệnh nên đi khám nếu xuất hiện các dấu hiệu sau: Ngứa nhiều kéo dài nhiều ngày không giảm; Vùng da bị đốt sưng to, đau hoặc chảy dịch; Xuất hiện dấu hiệu nhiễm trùng như mủ, đỏ lan rộng; Nổi mề đay toàn thân hoặc khó thở (nghi ngờ dị ứng nặng). Đặc biệt, trẻ nhỏ thường có xu hướng gãi nhiều khi bị ngứa, dễ làm tổn thương da và tăng nguy cơ nhiễm trùng. Việc điều trị bệnh da do côn trùng chủ yếu nhằm giảm ngứa, giảm viêm và ngăn ngừa nhiễm trùng. Đối với các trường hợp nhẹ, người bệnh có thể sử dụng kem hoặc thuốc mỡ chứa corticoid bôi lên vùng da tổn thương để giảm viêm và giảm ngứa. Tuy nhiên, các loại thuốc này cần được sử dụng đúng hướng dẫn của bác sĩ. Ngoài ra, thuốc kháng histamin đường uống có thể được sử dụng để giảm ngứa, đặc biệt trong trường hợp ngứa nhiều hoặc có phản ứng dị ứng. Trong trường hợp tổn thương bị nhiễm trùng do gãi nhiều, bác sĩ có thể chỉ định thêm thuốc kháng sinh bôi hoặc uống. Một lưu ý quan trọng là người bệnh không nên gãi hoặc chà xát mạnh lên vùng da tổn thương, vì điều này có thể làm vết thương lan rộng và lâu lành hơn. Cách phòng tránh bệnh da do côn trùng Phòng bệnh luôn là biện pháp quan trọng để hạn chế nguy cơ mắc các bệnh da do côn trùng. Người dân có thể áp dụng một số biện pháp sau: Mặc quần áo bảo vệ Khi đi ra ngoài, đặc biệt là vào buổi tối hoặc ở những nơi có nhiều cây cối, nên mặc quần áo dài tay và chít gấu quần để hạn chế côn trùng tiếp xúc với da. Sử dụng thuốc chống côn trùng Các loại thuốc bôi hoặc xịt chống côn trùng có thể giúp xua đuổi muỗi và các loài côn trùng khác. Một số sản phẩm phổ biến có thể được sử dụng như DEP, Soffell, Remos hoặc các sản phẩm chứa hoạt chất xua côn trùng an toàn. Giữ vệ sinh môi trường sống Côn trùng thường sinh sống ở những nơi ẩm thấp, nhiều rác thải hoặc có vật nuôi. Vì vậy, cần giữ nhà cửa sạch sẽ, thông thoáng, thường xuyên giặt chăn ga gối đệm và vệ sinh nơi ngủ. Đối với gia đình nuôi chó mèo, cần tắm rửa và kiểm tra ký sinh trùng thường xuyên cho vật nuôi, tránh để bọ nhảy hoặc rệp lây sang người. Hạn chế ánh sáng thu hút côn trùng Nhiều loài côn trùng bị thu hút bởi ánh sáng vào ban đêm. Vì vậy, nên sử dụng lưới chống côn trùng hoặc màn khi ngủ để giảm nguy cơ bị côn trùng đốt. Không gãi khi bị côn trùng đốt Khi bị côn trùng đốt, nên rửa sạch vùng da bằng nước và xà phòng, sau đó có thể chườm lạnh để giảm ngứa. Việc gãi mạnh có thể làm tổn thương da và tăng nguy cơ nhiễm trùng. Tóm lại: Tổn thương da do côn trùng đốt là vấn đề thường gặp. Mặc dù phần lớn các tổn thương da do côn trùng gây ra đều lành tính, nhưng nếu không được chăm sóc đúng cách, chúng có thể gây viêm nhiễm, để lại sẹo hoặc vết thâm trên da. Trong bối cảnh thời tiết nóng ẩm kéo dài, việc chủ động phòng tránh côn trùng, giữ vệ sinh môi trường sống và nhận biết sớm các dấu hiệu tổn thương da là yếu tố quan trọng giúp bảo vệ sức khỏe cho bản thân và gia đình. Nếu các tổn thương da kéo dài hoặc có

Viêm mê đạo tai

Viêm mê đạo tai là tình trạng viêm tai trong, thường chỉ ảnh hưởng một bên, gây chóng mặt quay cuồng và có thể kèm giảm thính lực. Triệu chứng Khởi phát đột ngột với chóng mặt dữ dội, có thể kéo dài vài giờ đến vài ngày. Sau giai đoạn cấp, người bệnh còn cảm giác mất thăng bằng. Triệu chứng đi kèm gồm: Rung giật nhãn cầu Buồn nôn, nôn Ù tai Giảm thính lực một bên Nguyên nhân Nguyên nhân thường gặp nhất là virus đường hô hấp, ngoài ra có thể do viêm tai giữa, ít gặp hơn là viêm màng não hoặc chấn thương đầu. Người cao tuổi dễ bị ảnh hưởng nặng hơn do hệ thống thăng bằng suy giảm và bệnh lý nền kèm theo. Phân loại bệnh Viêm mê đạo tai do virus (phổ biến nhất) thường liên quan cảm cúm, ít gây mất thính lực và đa số hồi phục hoàn toàn. Viêm mê đạo tai do vi khuẩn (ít gặp nhưng nặng) có thể phá hủy cấu trúc tai trong, để lại giảm thính lực vĩnh viễn. Chẩn đoán Dựa vào triệu chứng lâm sàng và khám thần kinh – tai mũi họng. Không có xét nghiệm đặc hiệu xác định bệnh; bác sĩ có thể chỉ định CT, MRI, đo thính lực hoặc các test tiền đình để loại trừ nguyên nhân khác gây chóng mặt. Tiên lượng và thời gian bệnh Viêm mê đạo tai do virus thường cải thiện rõ trong một tuần, hồi phục hoàn toàn sau 2-3 tháng. Người lớn tuổi có thể hồi phục chậm hơn. Thể vi khuẩn có tiên lượng dè dặt hơn, nguy cơ mất thính lực vĩnh viễn. Điều trị Viêm do virus: Nghỉ ngơi, bù nước Thuốc chống chóng mặt, chống nôn dùng ngắn hạn Tập phục hồi chức năng tiền đình sớm để cải thiện thăng bằng Viêm do vi khuẩn: Kháng sinh mạnh (thường đường tĩnh mạch) Điều trị triệu chứng Đánh giá thính lực sau hồi phục, cân nhắc cấy ốc tai nếu cần Biến chứng Mất nước do nôn nhiều; Chóng mặt tư thế kịch phát lành tính (BPPV) sau nhiễm virus; Chóng mặt mạn tính dai dẳng Phòng ngừa Giữ vệ sinh tay, phòng tránh cảm cúm và tiêm chủng đầy đủ giúp giảm nguy cơ mắc bệnh.  

Hà Nội công bố 234 điểm bán thuốc phục vụ xuyên Tết Bính Ngọ

Sở Y tế Hà Nội vừa ban hành thông báo về danh sách các cơ sơ bán lẻ trực bán thuốc trong trong dịp tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 trên địa bàn. Thông báo nêu rõ có tổng số 234 cơ sơ bán lẻ thuốc trực bán thuốc trong trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 trong đó có 40 nhà thuốc trong bệnh viện trực thuộc Sở Y tế và 194 nhà thuốc tư nhân trên toàn thành phố. Theo đại diện Sở Y tế Hà Nội, danh sách các nhà thuốc mở trong dịp Tết Bính Ngọ được thông báo cụ thể trên địa bàn xã, phường bao gồm: tên nhà thuốc, dược sĩ phụ trách chuyên môn, địa chỉ, điện thoại, thời gian hoạt động của các nhà thuốc trực bán thuốc. Tết Bính Ngọ, Hà Nội có 234 điểm bán thuốc phục vụ xuyên Tết. Danh sách 40 nhà thuốc trong bệnh viện trực thuộc Sở Y tế  Trước đó, ngày 15/1, Sở Y tế Hà Nội đã có văn bản số 470/SYT-NVD về việc đảm bảo cung ứng thuốc trong dịp tết nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, chỉ đạo việc tổ chức trực bán thuốc tại các nhà thuốc bệnh viện trực thuộc Sở Y tế, các cơ sở bán lẻ thuốc của các doanh nghiệp có hệ thống bán lẻ thuốc. https://moh.gov.vn/hoat-dong-cua-dia-phuong/-/asset_publisher/gHbla8vOQDuS/content/ha-noi-cong-bo-234-iem-ban-thuoc-phuc-vu-xuyen-tet-binh-ngo?inheritRedirect=false&redirect=https%3A%2F%2Fmoh.gov.vn%3A443%2Fhoat-dong-cua-dia-phuong%3Fp_p_id%3D101_INSTANCE_gHbla8vOQDuS%26p_p_lifecycle%3D0%26p_p_state%3Dnormal%26p_p_mode%3Dview%26p_p_col_id%3Drow-3-column-3%26p_p_col_pos%3D1%26p_p_col_count%3D2

Thuốc điều trị đích giúp bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn muộn ổn định bệnh suốt 6 năm

Các bác sĩ Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu (Bệnh viện Bạch Mai) vừa ghi nhận một trường hợp bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn muộn được điều trị bằng thuốc TKIs thế hệ I từ năm 2017 đến nay với thời gian ổn định bệnh kéo dài tới 6 năm. Hình ảnh cắt lớp vi tính theo dõi trong quá trình điều trị, tổn thương xơ hóa tại vị trí u cũ (mũi tên xanh) và giãn khu trú các nhánh phế quản liền kề (mũi tên vàng). Hiệu quả của thuốc điều trị đích với ung thư phổi Bệnh nhân nữ, 72 tuổi, nhập viện tháng 6/2017 do đau ngực trái âm ỉ kéo dài, sụt cân khoảng 8kg trong vòng 6 tháng. Đáng chú ý, bệnh nhân không ho, không khó thở trong suốt thời gian này. Thời điểm nhập viện, bệnh nhân tỉnh táo, không sốt, huyết động ổn định. Thăm khám tim phổi chưa ghi nhận dấu hiệu bất thường rõ ràng. Các xét nghiệm công thức máu, sinh hóa máu trong giới hạn bình thường, chỉ điểm khối u CEA và Cyfra 21-1 không tăng. Điện tâm đồ và siêu âm tim không phát hiện dấu hiệu thiếu máu cơ tim. Kết quả chụp cắt lớp vi tính (CT) lồng ngực cho thấy khối u thùy trên phổi trái kích thước 20x15mm, bờ tua gai, xâm lấn rãnh liên thùy, kèm theo nhiều nốt mờ rải rác hai phổi, kích thước 5-10mm, phù hợp với tổn thương thứ phát, cùng hạch rốn phổi trái kích thước 10mm. Sinh thiết xuyên thành ngực tổn thương phổi trái cho kết quả mô bệnh học là ung thư biểu mô tuyến. Xét nghiệm đột biến gene phát hiện đột biến EGFR dạng xóa đoạn exon 19. Các thăm dò bổ sung bằng PET/CT và cộng hưởng từ não không phát hiện thêm tổn thương di căn ngoài phổi. Bệnh nhân được chẩn đoán ung thư phổi trái không tế bào nhỏ dạng biểu mô tuyến, giai đoạn T4N1M1 (di căn phổi), có đột biến EGFR. Sau hội chẩn chuyên môn, bệnh nhân được chỉ định điều trị bằng thuốc erlotinib liều 150mg/ngày đường uống. Sau 6 tháng điều trị, triệu chứng đau ngực giảm rõ rệt, bệnh nhân dung nạp thuốc tốt. Tác dụng phụ chủ yếu là ban da dạng chấm và mụn ở vùng đầu, vùng sinh dục – những biểu hiện thường gặp của thuốc và được đánh giá là dấu hiệu dự báo đáp ứng điều trị tốt. Kết quả chụp CT kiểm tra cho thấy khối u đáp ứng điều trị, chuyển thành tổn thương xơ hóa, giảm ngấm thuốc sau tiêm. Bệnh nhân tiếp tục được theo dõi và điều trị duy trì bằng erlotinib. Đến thời điểm đánh giá lại vào tháng 5/2023, sau 6 năm điều trị liên tục, bệnh nhân vẫn trong tình trạng ổn định: Không đau ngực, không khó thở, các chỉ điểm khối u CEA và Cyfra 21-1 duy trì trong giới hạn bình thường. Kết quả chụp CT ngực-bụng và cộng hưởng từ sọ não không ghi nhận thêm tổn thương mới. Tại vị trí u cũ, tổn thương xơ hóa gây co kéo rãnh liên thùy và giãn khu trú các nhánh phế quản lân cận, song không ảnh hưởng đến chức năng hô hấp và không gây triệu chứng lâm sàng. Theo các bác sĩ, đây là trường hợp đáp ứng kéo dài hiếm gặp với thuốc điều trị đích thế hệ I, cho thấy vai trò bền vững của nhóm thuốc này trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ có đột biến EGFR, ngay cả ở giai đoạn muộn. Các liệu pháp miễn dịch đang phát huy tác dụng trong điều trị các bệnh ung thư Tại Việt Nam, ung thư phổi phổ biến sau ung thư vú và ung thư gan, hàng năm phát hiện khoảng gần 25 nghìn ca mắc mới ung thư phổi, trong đó có khoảng hơn 22 ngàn ca tử vong mỗi năm. Ung thư phổi thường gặp ở người lớn tuổi từ 55 tuổi trở lên, độ tuổi trung bình mắc bệnh là 70 tuổi, tỷ lệ mắc bệnh và tử vong ở nam giới nhiều hơn nữ giới. Ung thư phổi đang để lại gánh nặng bệnh tật cho người bệnh và ngành y vì đại đa số các trường hợp ung thư phổi được phát hiện đã ở giai đoạn muộn. Nếu bệnh nhân được phát hiện sớm thì tỷ lệ sống thêm từ 5 năm trở lên lên tới hơn 90%. Tuy nhiên việc sàng lọc, phát hiện, chẩn đoán và điều trị còn không ít thách thức. Những năm gần đây, điều trị ung thư phổi giai đoạn muộn đã có nhiều bước tiến quan trọng với sự ra đời của các liệu pháp miễn dịch và điều trị đích nhắm vào các đột biến gene như EGFR, ALK, ROS1… Liệu pháp miễn dịch là phương pháp mới, ít tác dụng phụ, hiệu quả cao, kéo dài thời gian sống và nâng cao chất lượng sống cho người bệnh ung thư phổi không tế bào nhỏ, ung thư dạ dày…Liệu pháp miễn dịch giúp tăng cường hệ thống miễn dịch, giúp hệ thống miễn dịch truy vết, tiêu diệt các tế bào ung thư. Các thuốc điều trị đích ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong ung thư phổi ở cả giai đoạn sớm và giai đoạn muộn, góp phần kéo dài thời gian sống cũng như cải thiện đáng kể chất lượng cuộc sống cho người bệnh. Các thuốc ức chế tyrosine kinase (TKIs) thế hệ I, dù đã được đưa vào sử dụng từ năm 2005, đến nay vẫn giữ vai trò nhất định trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ. https://moh.gov.vn/hoat-dong-cua-dia-phuong/-/asset_publisher/gHbla8vOQDuS/content/thuoc-ieu-tri-ich-giup-benh-nhan-ung-thu-phoi-giai-oan-muon-on-inh-benh-suot-6-nam?inheritRedirect=false&redirect=https%3A%2F%2Fmoh.gov.vn%3A443%2Fhoat-dong-cua-dia-phuong%3Fp_p_id%3D101_INSTANCE_gHbla8vOQDuS%26p_p_lifecycle%3D0%26p_p_state%3Dnormal%26p_p_mode%3Dview%26p_p_col_id%3Drow-3-column-3%26p_p_col_pos%3D1%26p_p_col_count%3D2

Bác sĩ Trương Hữu Khanh: ‘Virus Nipah khó gây đại dịch như Covid-19’

Bác sĩ Trương Hữu Khanh, chuyên gia về bệnh truyền nhiễm, đánh giá virus Nipah lây qua tiếp xúc dịch tiết động vật hoặc người bệnh, không lây lan mạnh qua đường hô hấp nên khó bùng phát diện rộng. Bác sĩ Khanh, Phó Chủ tịch Hội Truyền nhiễm TP HCM, nguyên trưởng khoa Nhiễm – Thần kinh Bệnh viện Nhi đồng 1, đưa ra nhận định trên ngày 27/1, trước bối cảnh dư luận hoang mang về ổ dịch Nipah mới tại bang Tây Bengal (Ấn Độ). Tính từ cuối năm 2025 đến ngày 26/1, khu vực này phát hiện 5 trường hợp nghi ngờ, trong đó hai nhân viên y tế có kết quả dương tính. Dù giới chức y tế sở tại xác định đây là ổ dịch nhỏ, chưa lây lan rộng, thông tin vẫn gây xao động tâm lý người dân nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Trước lo ngại này, bác sĩ Khanh cho rằng việc đánh đồng mức độ nguy hiểm giữa Nipah và Covid-19 là khập khiễng. SARS-CoV-2 gây Covid-19 là chủng virus mới, lây lan cực nhanh qua giọt bắn hô hấp và liên tục đột biến. Trong khi đó, Nipah là dòng virus “cổ điển”, cơ chế xâm nhập hoàn toàn khác biệt. “Khả năng mầm bệnh Nipah lây trực tiếp từ người sang người qua không khí để tạo thành đại dịch gần như bằng không”, bác sĩ Khanh nói. Lý giải về chùm ca bệnh tại Ấn Độ, chuyên gia cho rằng nguồn lây xuất phát từ hoàn cảnh tiếp xúc đặc biệt. Kết quả điều tra dịch tễ sơ bộ trùng khớp với nhận định này khi nữ điều dưỡng nhiễm bệnh đầu tiên tại Bệnh viện Narayana Multispeciality từng uống mật chà là tươi nghi nhiễm dịch tiết của dơi. Người này sau đó lây cho đồng nghiệp qua tiếp xúc gần trong quá trình chăm sóc mà thiếu biện pháp bảo hộ chuẩn. Theo bác sĩ Khanh, vật chủ chính của virus là loài dơi ăn quả. Mầm bệnh tồn tại trong nước bọt, nước tiểu của loài này. Con người nhiễm bệnh chủ yếu do chạm trực tiếp vào dịch tiết hoặc ăn trái cây dơi cắn dở. Nếu không có tiếp xúc rất gần hoặc tiêu thụ thực phẩm nhiễm khuẩn, nguy cơ virus vượt biên giới bùng phát tại Việt Nam rất thấp. Các đợt dịch Nipah trong lịch sử đều khu trú ở phạm vi hẹp và tự chấm dứt khi cơ quan chức năng kiểm soát tốt nguồn lây động vật. Đồng quan điểm, PGS.TS Lê Quốc Hùng, Trưởng Khoa Bệnh Nhiệt đới, Bệnh viện Chợ Rẫy, đánh giá tính chất lây nhiễm của Nipah rất hạn chế, khác hoàn toàn các bệnh lý đường hô hấp cấp tính. Tuy nhiên, ông lưu ý Nipah vẫn là bệnh nguy hiểm đối với cá nhân mắc phải do tấn công trực tiếp vào não. Bệnh cảnh chính là viêm não với các triệu chứng sốt cao, đau đầu, co giật, diễn tiến nhanh tới hôn mê. Tỷ lệ tử vong của bệnh rất cao, có thể trên 50% do thế giới chưa tìm ra thuốc đặc trị hay vaccine phòng ngừa. Các biện pháp y tế hiện tại chỉ dừng lại ở điều trị triệu chứng và hồi sức tích cực. Sáng 27/1, trước diễn biến dịch tại nước bạn, Bộ Y tế yêu cầu các đơn vị kiểm dịch biên giới và y tế dự phòng tăng cường giám sát tại cửa khẩu và cộng đồng. Đến nay, Việt Nam chưa ghi nhận ca mắc Nipah nào. Thế giới phát hiện virus này lần đầu năm 1999 tại Malaysia và Singapore, khiến hơn 100 người tử vong, buộc tiêu hủy hàng triệu con lợn. Kể từ đó, dịch xuất hiện định kỳ tại Nam Á, chủ yếu ở Bangladesh và Ấn Độ. Để phòng bệnh, các chuyên gia khuyến cáo người dân thực hiện “ăn chín, uống sôi”. Đặc biệt, tuyệt đối không ăn các loại trái cây có dấu hiệu bị cắn dở, vết răng động vật hoặc trái cây rụng không rõ nguyên nhân. Khi du lịch đến các vùng có dịch, cần hạn chế tiếp xúc với động vật hoang dã, đặc biệt là dơi. https://vnexpress.net/bac-si-truong-huu-khanh-virus-nipah-kho-gay-dai-dich-nhu-covid-19-5010670.html

Cách phòng viêm phổi cho trẻ khi trời lạnh

Viêm phổi là bệnh thường gặp và là một trong những nguyên nhân chính gây tử vong ở trẻ em. Trẻ càng nhỏ tỷ lệ tử vong do viêm phổi càng cao. Mùa đông, các bệnh cảm lạnh cũng gia tăng làm cho virus, vi khuẩn nhân cơ hội xâm nhập mũi họng và xuống phổi gây viêm phổi. Trẻ mắc viêm phổi có biểu hiện gì? Khi mắc viêm phổi, trẻ sẽ có các biểu hiện: Giai đoạn sớm: có thể chỉ có sốt nhẹ, ho húng hắng, chảy nước mắt và nước mũi, khò khè, ăn kém, bỏ bú, quấy khóc… Giai đoạn sau: trẻ không được điều trị đúng và theo dõi sát có thể diễn biến nặng hơn với biểu hiện sốt cao, ho tăng lên, có đờm, khó thở, thở nhanh, rút lõm lồng ngực, bỏ bú hoặc bú kém, tím môi, tím đầu chi … Trẻ mắc viêm phổi nặng có triệu chứng: trẻ ho hoặc khó thở và có ít nhất một trong các triệu chứng chính là: co rút lồng ngực, phập phồng cánh mũi; thở rên (ở trẻ dưới 2 tháng)… Trẻ mắc viêm phổi rất nặng sẽ có các biểu hiện: trẻ có ho hoặc khó thở cộng với ít nhất một trong các triệu chứng chính là: tím tái, co giật, lơ mơ hoặc hôn mê; không uống được hoặc bỏ bú hoặc nôn ra tất cả mọi thứ; suy hô hấp nặng với biểu hiện đầu gật gù theo nhịp thở và co kéo cơ hô hấp phụ. Ngoài ra, có thể có thêm một số triệu chứng khác gồm: thở nhanh, phập phồng cánh mũi, thở rên, co rút lồng ngực. Lưu ý: Để xác định trẻ có thở nhanh hay không bằng cách đếm nhịp thở của trẻ trong đủ 1 phút. Trẻ được coi là thở nhanh nếu: Trẻ < 2 tháng tuổi, nhịp thở > 60 lần/phút. Trẻ 2 – 11 tháng tuổi, nhịp thở > 50 lần/phút. Trẻ 12 – 60 tháng tuổi, nhịp thở > 40 lần/phút. Cha mẹ không tự ý cho con uống kháng sinh Khi trẻ mắc viêm phổi, cha mẹ cần cho trẻ đi khám và điều trị theo chỉ dẫn của bác sĩ. Cha mẹ tuyệt đối không tự ý mua thuốc kháng sinh, thuốc giảm ho điều trị cho con tại nhà. Thuốc kháng sinh sẽ không có tác dụng trong trường hợp trẻ bị viêm phổi do virus. Ho là phản xạ tốt để tống xuất chất đờm ra khỏi đường thở, làm thông thoáng đường thở nên không cho trẻ uống thuốc giảm ho khi chưa có chỉ định của bác sĩ. Cách phòng bệnh viêm phổi cho trẻ trong mùa lạnh Mùa đông các bệnh cảm lạnh cũng gia tăng làm cho virus, vi khuẩn nhân cơ hội xâm nhập mũi họng và xuống phổi gây viêm phổi. Muốn phòng bệnh viêm phổi cho trẻ em cần thực hiện các biện pháp như sau: Giữ ấm đường thở: Khi thời tiết trở lạnh, cha mẹ cần lưu ý giữ ấm cho trẻ bằng cách cho trẻ ăn mặc đủ ấm phù hợp với mức độ lạnh bên ngoài: mặc thêm áo ấm, nón len, mang thêm bao tay, tất, khăn, đeo khẩu trang khi ra đường, đội mũi kín tai, sử dụng nước ấm,… Bổ sung đủ dinh dưỡng cho trẻ: Trẻ em cần được ăn uống đầy đủ các chất dinh dưỡng để tăng cường miễn dịch, nhất là những trẻ còn trong độ tuổi bú mẹ. Với các trẻ biếng ăn, cha mẹ nhất thiết nên bổ sung từ các nguồn thực phẩm bổ sung, các công thức thuốc bổ tổng hợp và các chế phẩm thảo dược chuẩn hóa có tác dụng chống biếng ăn cho trẻ. Cho trẻ uống đủ nước, trẻ nhỏ cho bú nhiều lần trong ngày. Không hút thuốc, đun nấu trong phòng có trẻ nhỏ. Cách ly trẻ với người bị bệnh để tránh lây lan thành dịch. Nơi ở đủ ánh sáng, lưu thông không khí tốt. Thường xuyên lau nền nhà, tay nắm cửa và bề mặt các đồ vật trong nhà bằng các chất tẩy rửa thông thường, như xà phòng và các dung dịch khử khuẩn. Đưa trẻ đi tiêm phòng đầy đủ, đúng lịch các vắc-xin như bạch hầu – ho gà – uốn ván, Hemophilus influenzae typ B (Hib), phế cầu, cúm… Phát hiện sớm các biểu hiện sớm của bệnh viêm đường hô hấp nói chung như: ho, sốt, chảy nước mũi, khó thở… và các rối loạn khác như tiêu chảy, ăn kém, chậm tăng cân… để chăm sóc và điều trị kịp thời. Hàng ngày vệ sinh răng miệng cho trẻ sạch sẽ ngày 2 lần sáng khi ngủ dậy và buổi tối trước khi đi ngủ, sau mỗi bữa ăn cho uống nước súc miệng, tránh để khuẩn đọng lại bằng cách chải răng, lau răng miệng cho trẻ nhỏ.

Cô gái xách theo bình “khí cười” đi… cai nghiện

Khi đến Viện Sức khỏe tâm thần khám, cô gái trẻ khiến bác sĩ ngỡ ngàng khi cô đem theo một túi xách lớn, nặng trĩu chứa bình khí N₂O (khí cười), vì sợ xuất hiện cơn thèm bất chợt không thể kiểm soát. Chia sẻ tại buổi tọa đàm “Bóng cười – nước mắt sau những cuộc vui”, diễn ra chiều 12/1 tại Viện Sức khỏe tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai, bác sĩ Lê Thị Phương Thảo, Đơn nguyên Sử dụng chất và Y học Hành vi, cho biết mới đây, bác sĩ đã khám cho một bệnh nhân nữ bị nghiện “khí cười” N₂O. Bác sĩ Thảo cho biết, cô gái trẻ bước vào phòng khám, với một chiếc túi xách lớn, và lấy ra một bình khí N₂O trong sự ngỡ ngàng của bác sĩ. “Cô gái giải thích, cô bị nghiện khí N₂O, bị bố mẹ phát hiện bắt đi khám và cai nghiện, nhưng khi đi khám, sợ lên cơn thèm bất chợt không thể kiểm soát nên cô phải lén vác bình khí đi theo”, bác sĩ Thảo thông tin. Nữ bệnh nhân cho biết, lần đầu tiên cô hít bóng cười (bóng bơm khí N₂O) là khi học cấp 2, do bạn bè rủ hít. Lúc ấy, cô nghĩ chỉ thử cho biết và không hít thường xuyên. Tuy nhiên, lên cấp 3, khi đi chơi với bạn bè nhiều hơn, cô tiếp xúc, hút bóng cười thường xuyên hơn. Dần dần, cô có cảm giác bị lệ thuộc, thèm hút bóng cười nên không cần bạn bè rủ, cô cũng tự mua bóng về hít tại nhà. Bác sĩ Thảo cho biết, nữ bệnh nhân mỗi ngày hít 20-30 quả bóng cười. Khi tình trạng nghiện nặng hơn, cô không dùng bóng cười nữa mà trực tiếp mua khí N₂O về hít. Cô gái thường xuyên mang bình khí N₂O nhỏ bên người, kể cả khi đi làm để lên cơn thèm là hít. Thời điểm bố mẹ phát hiện và bắt đi khám, cô gái đã sử dụng bóng cười đến 6-7 năm, đồng thời có các biểu hiện tê bì chân tay, trầm cảm, lo âu. Bác sĩ Thảo cho biết, bóng cười (còn gọi là funky ball) là một quả bóng được bơm đầy khí N₂O (khí cười). N₂O (Dinitơ oxit hay nitrous oxide) hay còn gọi là khí cười là một trong những hợp chất vô cơ không màu, vị ngọt nhẹ. Chất này vào cơ thể, dạng khí, sẽ chiếm chỗ oxy làm thiếu oxy, ức chế thần kinh trung ương gây ra nhiều cảm giác phê, hoang tưởng. N₂O là nhóm chất gây nghiện, thuộc nhóm gây ảo giác có xu hướng tăng liều, người dùng có thể bị phụ thuộc, nghiện, ảo giác tương tự heroin. “Dùng bóng cười lâu ngày với số lượng lớn có thể làm tổn thương não bộ; tê bì tay chân; yếu liệt, đi không vững; tổn thương tủy sống không hồi phục; giảm trí nhớ, chậm chạp, kém tập trung… Thậm chí, việc lạm dụng bóng cười có thể gây ngừng tim đột ngột hoặc ngạt thở cấp tính do thiếu oxy dẫn đến tử vong”, bác sĩ Thảo cảnh báo. Bác sĩ Thảo cũng cho biết, độc tính của khí cười tăng theo liều lượng và thời gian sử dụng, liều cao thường gây nguy hiểm tức thì nhưng liều thấp dùng kéo dài vẫn có thể gây tổn thương nặng. Việc hít bóng cười lâu ngày sẽ dẫn đến số lượng ngày càng tăng, có những người dùng tới 30-40 quả mỗi lần. “Việc dùng trên 10 quả bóng cười mỗi lần và dùng nhiều lần có thể gây độc tính mạnh đối với bộ não, có khả năng gây tổn thương cấp tính và mạn tính đến cơ thể”, bác sĩ Thảo cho biết. Trước đó, Bệnh viện Bãi Cháy đã tiếp nhận điều trị cho một bệnh nhân 15 tuổi bị tổn thương tủy cổ, tê yếu tay chân do ngộ độc khí N₂O sau thời gian sử dụng bóng cười dài ngày. Bệnh nhi đến viện trong tình trạng tê bì hai tay, hai chân yếu dần, đi lại khó khăn kèm theo sụt cân nhiều. Trước đó, người bệnh đã sử dụng bóng cười liên tục trong vòng 10 ngày, mỗi ngày khoảng 10 quả. Kết quả chụp cộng hưởng từ cột sống cổ có hình ảnh tổn thương sừng sau tủy cổ. Bệnh nhân được chẩn đoán bệnh rễ thần kinh tủy sống cổ, theo dõi do ngộ độc khí cười N₂O. Bác sĩ Thảo khuyến cáo người trẻ cần cảnh giác với bóng cười, tuyệt đối không “thử cho biết” bởi thực tế nhiều người đã bị nghiện sau khi thử, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe. https://dantri.com.vn/suc-khoe/co-gai-xach-theo-binh-khi-cuoi-di-cai-nghien-20260112213551189.htm

Đặt Lịch Khám

    Đặt Lịch Khám