BỆNH VIỆC BẮC THĂNG LONG
BẮC THĂNG LONG HOSPITAL

(84-24).0889.615.815

Email: bvbtl@hanoi.gov.vn

BỆNH VIỆC BẮC THĂNG LONG
BẮC THĂNG LONG HOSPITAL

TƯ VẤN SỨC KHOẺ

Tư Vấn Sức Khoẻ

Đau khớp gối khi leo cầu thang có đáng lo?

Nhiều người thường cho rằng đây chỉ là biểu hiện của mệt mỏi hoặc quá tải tạm thời. Tuy nhiên, đây có thể là dấu hiệu sớm của nhiều bệnh lý cơ xương khớp liên quan đến khớp gối, nhất là khi tình trạng kéo dài hoặc tái phát nhiều lần. Việc nhận biết sớm nguyên nhân gây đau khớp gối đóng vai trò quan trọng trong điều trị, giúp ngăn ngừa tiến triển nặng và bảo tồn chức năng vận động lâu dài. Vì sao leo cầu thang dễ gây đau khớp gối? Khớp gối là một trong những khớp chịu lực lớn nhất của cơ thể. Khi leo cầu thang, áp lực lên khớp gối có thể tăng gấp 3-5 lần so với khi đi bộ trên mặt phẳng. Động tác gập – duỗi liên tục kết hợp với tải trọng cơ thể khiến sụn khớp, dây chằng và các cấu trúc quanh khớp phải hoạt động với cường độ cao. Nếu khớp gối đang có tổn thương tiềm ẩn, việc leo cầu thang sẽ làm các triệu chứng trở nên rõ rệt hơn, đặc biệt là đau, cứng khớp hoặc cảm giác lạo xạo khi vận động. Những bệnh lý thường gặp gây đau khớp gối Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng đau khớp gối khi leo cầu thang. Dưới đây là những bệnh lý phổ biến cần lưu ý: Thoái hóa khớp gối Đây là nguyên nhân hàng đầu gây đau khớp gối ở người trung niên và cao tuổi. Khi sụn khớp bị bào mòn theo thời gian, các đầu xương cọ xát trực tiếp vào nhau gây đau, đặc biệt khi vận động chịu lực như leo cầu thang. Người bệnh thường có biểu hiện đau âm ỉ, cứng khớp buổi sáng và nghe tiếng “lục cục” khi cử động. Viêm khớp gối Tình trạng viêm tại khớp gối có thể do nhiều nguyên nhân như viêm khớp dạng thấp, nhiễm khuẩn hoặc bệnh tự miễn. Người bệnh thường bị sưng, nóng, đau và hạn chế vận động. Cơn đau có thể tăng lên khi leo cầu thang hoặc đứng lâu. Rách sụn chêm Sụn chêm đóng vai trò như “tấm đệm” giúp giảm xóc cho khớp gối. Khi bị rách do chấn thương hoặc thoái hóa, người bệnh có thể cảm thấy đau khi xoay gối, leo cầu thang hoặc ngồi xổm. Ngoài ra, còn có thể xuất hiện cảm giác kẹt khớp hoặc “khóa” khớp. Tổn thương dây chằng khớp gối Dây chằng giúp ổn định khớp gối. Khi bị giãn hoặc đứt (thường gặp trong chấn thương thể thao), khớp gối trở nên lỏng lẻo, dễ đau khi vận động, đặc biệt là khi lên xuống cầu thang hoặc đổi hướng đột ngột. Hội chứng đau xương bánh chè – đùi Đây là tình trạng khá phổ biến ở người trẻ, đặc biệt là người thường xuyên vận động hoặc tập luyện sai kỹ thuật. Người bệnh cảm thấy đau ở phía trước gối, nhất là khi leo cầu thang, ngồi lâu hoặc đứng lên đột ngột. Dấu hiệu cảnh báo không nên bỏ qua Ngoài cảm giác đau khi leo cầu thang, người bệnh cần chú ý đến một số biểu hiện đi kèm có thể gợi ý bệnh lý nghiêm trọng hơn: đau kéo dài nhiều ngày không thuyên giảm; sưng, nóng hoặc đỏ vùng khớp gối; cứng khớp vào buổi sáng hoặc sau khi nghỉ ngơi; nghe tiếng lạo xạo khi co duỗi gối; Khớp gối yếu, dễ bị khuỵu khi đi lại… Nếu xuất hiện các dấu hiệu trên, người bệnh nên đi khám sớm để được chẩn đoán chính xác. Không phải mọi trường hợp đau khớp gối đều cần can thiệp y tế ngay lập tức. Tuy nhiên, bạn nên đến cơ sở y tế khi: cơn đau kéo dài trên 1-2 tuần; đau tăng dần hoặc ảnh hưởng đến sinh hoạt hằng ngày; có tiền sử chấn thương khớp gối; khớp gối bị biến dạng hoặc mất vững. Bác sĩ có thể chỉ định các phương pháp chẩn đoán như X-quang, siêu âm hoặc chụp cộng hưởng từ (MRI) để xác định nguyên nhân. Điều trị và kiểm soát đau khớp gối Tùy theo nguyên nhân và mức độ bệnh, phương pháp điều trị sẽ khác nhau: Điều trị bảo tồn Nghỉ ngơi, hạn chế vận động mạnh; sử dụng thuốc giảm đau, kháng viêm theo chỉ định; tập vật lý trị liệu để tăng cường sức mạnh cơ đùi. Can thiệp chuyên sâu Tiêm chất nhờn khớp hoặc các liệu pháp sinh học; nội soi khớp để xử lý tổn thương sụn hoặc dây chằng; phẫu thuật thay khớp gối trong trường hợp nặng. Tóm lại: Đau khớp gối khi leo cầu thang không đơn thuần là biểu hiện mệt mỏi thoáng qua, mà có thể là dấu hiệu cảnh báo sớm của nhiều bệnh lý cơ xương khớp. Việc chủ quan hoặc trì hoãn thăm khám có thể khiến tình trạng trở nên nghiêm trọng hơn, dẫn đến đau mạn tính và hạn chế vận động. Để bảo vệ khớp gối và hạn chế nguy cơ đau khi leo cầu thang, mỗi người nên: Duy trì cân nặng hợp lý để giảm tải cho khớp; tập luyện thể dục đều đặn, ưu tiên các môn ít gây áp lực như bơi lội, đạp xe; khởi động kỹ trước khi vận động; tránh ngồi xổm hoặc leo cầu thang quá nhiều; bổ sung dinh dưỡng đầy đủ, đặc biệt là canxi và vitamin D.

Thuốc điều trị đích giúp bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn muộn ổn định bệnh suốt 6 năm

Các bác sĩ Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu (Bệnh viện Bạch Mai) vừa ghi nhận một trường hợp bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn muộn được điều trị bằng thuốc TKIs thế hệ I từ năm 2017 đến nay với thời gian ổn định bệnh kéo dài tới 6 năm. Hình ảnh cắt lớp vi tính theo dõi trong quá trình điều trị, tổn thương xơ hóa tại vị trí u cũ (mũi tên xanh) và giãn khu trú các nhánh phế quản liền kề (mũi tên vàng). Hiệu quả của thuốc điều trị đích với ung thư phổi Bệnh nhân nữ, 72 tuổi, nhập viện tháng 6/2017 do đau ngực trái âm ỉ kéo dài, sụt cân khoảng 8kg trong vòng 6 tháng. Đáng chú ý, bệnh nhân không ho, không khó thở trong suốt thời gian này. Thời điểm nhập viện, bệnh nhân tỉnh táo, không sốt, huyết động ổn định. Thăm khám tim phổi chưa ghi nhận dấu hiệu bất thường rõ ràng. Các xét nghiệm công thức máu, sinh hóa máu trong giới hạn bình thường, chỉ điểm khối u CEA và Cyfra 21-1 không tăng. Điện tâm đồ và siêu âm tim không phát hiện dấu hiệu thiếu máu cơ tim. Kết quả chụp cắt lớp vi tính (CT) lồng ngực cho thấy khối u thùy trên phổi trái kích thước 20x15mm, bờ tua gai, xâm lấn rãnh liên thùy, kèm theo nhiều nốt mờ rải rác hai phổi, kích thước 5-10mm, phù hợp với tổn thương thứ phát, cùng hạch rốn phổi trái kích thước 10mm. Sinh thiết xuyên thành ngực tổn thương phổi trái cho kết quả mô bệnh học là ung thư biểu mô tuyến. Xét nghiệm đột biến gene phát hiện đột biến EGFR dạng xóa đoạn exon 19. Các thăm dò bổ sung bằng PET/CT và cộng hưởng từ não không phát hiện thêm tổn thương di căn ngoài phổi. Bệnh nhân được chẩn đoán ung thư phổi trái không tế bào nhỏ dạng biểu mô tuyến, giai đoạn T4N1M1 (di căn phổi), có đột biến EGFR. Sau hội chẩn chuyên môn, bệnh nhân được chỉ định điều trị bằng thuốc erlotinib liều 150mg/ngày đường uống. Sau 6 tháng điều trị, triệu chứng đau ngực giảm rõ rệt, bệnh nhân dung nạp thuốc tốt. Tác dụng phụ chủ yếu là ban da dạng chấm và mụn ở vùng đầu, vùng sinh dục – những biểu hiện thường gặp của thuốc và được đánh giá là dấu hiệu dự báo đáp ứng điều trị tốt. Kết quả chụp CT kiểm tra cho thấy khối u đáp ứng điều trị, chuyển thành tổn thương xơ hóa, giảm ngấm thuốc sau tiêm. Bệnh nhân tiếp tục được theo dõi và điều trị duy trì bằng erlotinib. Đến thời điểm đánh giá lại vào tháng 5/2023, sau 6 năm điều trị liên tục, bệnh nhân vẫn trong tình trạng ổn định: Không đau ngực, không khó thở, các chỉ điểm khối u CEA và Cyfra 21-1 duy trì trong giới hạn bình thường. Kết quả chụp CT ngực-bụng và cộng hưởng từ sọ não không ghi nhận thêm tổn thương mới. Tại vị trí u cũ, tổn thương xơ hóa gây co kéo rãnh liên thùy và giãn khu trú các nhánh phế quản lân cận, song không ảnh hưởng đến chức năng hô hấp và không gây triệu chứng lâm sàng. Theo các bác sĩ, đây là trường hợp đáp ứng kéo dài hiếm gặp với thuốc điều trị đích thế hệ I, cho thấy vai trò bền vững của nhóm thuốc này trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ có đột biến EGFR, ngay cả ở giai đoạn muộn. Các liệu pháp miễn dịch đang phát huy tác dụng trong điều trị các bệnh ung thư Tại Việt Nam, ung thư phổi phổ biến sau ung thư vú và ung thư gan, hàng năm phát hiện khoảng gần 25 nghìn ca mắc mới ung thư phổi, trong đó có khoảng hơn 22 ngàn ca tử vong mỗi năm. Ung thư phổi thường gặp ở người lớn tuổi từ 55 tuổi trở lên, độ tuổi trung bình mắc bệnh là 70 tuổi, tỷ lệ mắc bệnh và tử vong ở nam giới nhiều hơn nữ giới. Ung thư phổi đang để lại gánh nặng bệnh tật cho người bệnh và ngành y vì đại đa số các trường hợp ung thư phổi được phát hiện đã ở giai đoạn muộn. Nếu bệnh nhân được phát hiện sớm thì tỷ lệ sống thêm từ 5 năm trở lên lên tới hơn 90%. Tuy nhiên việc sàng lọc, phát hiện, chẩn đoán và điều trị còn không ít thách thức. Những năm gần đây, điều trị ung thư phổi giai đoạn muộn đã có nhiều bước tiến quan trọng với sự ra đời của các liệu pháp miễn dịch và điều trị đích nhắm vào các đột biến gene như EGFR, ALK, ROS1… Liệu pháp miễn dịch là phương pháp mới, ít tác dụng phụ, hiệu quả cao, kéo dài thời gian sống và nâng cao chất lượng sống cho người bệnh ung thư phổi không tế bào nhỏ, ung thư dạ dày…Liệu pháp miễn dịch giúp tăng cường hệ thống miễn dịch, giúp hệ thống miễn dịch truy vết, tiêu diệt các tế bào ung thư. Các thuốc điều trị đích ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong ung thư phổi ở cả giai đoạn sớm và giai đoạn muộn, góp phần kéo dài thời gian sống cũng như cải thiện đáng kể chất lượng cuộc sống cho người bệnh. Các thuốc ức chế tyrosine kinase (TKIs) thế hệ I, dù đã được đưa vào sử dụng từ năm 2005, đến nay vẫn giữ vai trò nhất định trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ. https://moh.gov.vn/hoat-dong-cua-dia-phuong/-/asset_publisher/gHbla8vOQDuS/content/thuoc-ieu-tri-ich-giup-benh-nhan-ung-thu-phoi-giai-oan-muon-on-inh-benh-suot-6-nam?inheritRedirect=false&redirect=https%3A%2F%2Fmoh.gov.vn%3A443%2Fhoat-dong-cua-dia-phuong%3Fp_p_id%3D101_INSTANCE_gHbla8vOQDuS%26p_p_lifecycle%3D0%26p_p_state%3Dnormal%26p_p_mode%3Dview%26p_p_col_id%3Drow-3-column-3%26p_p_col_pos%3D1%26p_p_col_count%3D2

Bác sĩ Trương Hữu Khanh: ‘Virus Nipah khó gây đại dịch như Covid-19’

Bác sĩ Trương Hữu Khanh, chuyên gia về bệnh truyền nhiễm, đánh giá virus Nipah lây qua tiếp xúc dịch tiết động vật hoặc người bệnh, không lây lan mạnh qua đường hô hấp nên khó bùng phát diện rộng. Bác sĩ Khanh, Phó Chủ tịch Hội Truyền nhiễm TP HCM, nguyên trưởng khoa Nhiễm – Thần kinh Bệnh viện Nhi đồng 1, đưa ra nhận định trên ngày 27/1, trước bối cảnh dư luận hoang mang về ổ dịch Nipah mới tại bang Tây Bengal (Ấn Độ). Tính từ cuối năm 2025 đến ngày 26/1, khu vực này phát hiện 5 trường hợp nghi ngờ, trong đó hai nhân viên y tế có kết quả dương tính. Dù giới chức y tế sở tại xác định đây là ổ dịch nhỏ, chưa lây lan rộng, thông tin vẫn gây xao động tâm lý người dân nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Trước lo ngại này, bác sĩ Khanh cho rằng việc đánh đồng mức độ nguy hiểm giữa Nipah và Covid-19 là khập khiễng. SARS-CoV-2 gây Covid-19 là chủng virus mới, lây lan cực nhanh qua giọt bắn hô hấp và liên tục đột biến. Trong khi đó, Nipah là dòng virus “cổ điển”, cơ chế xâm nhập hoàn toàn khác biệt. “Khả năng mầm bệnh Nipah lây trực tiếp từ người sang người qua không khí để tạo thành đại dịch gần như bằng không”, bác sĩ Khanh nói. Lý giải về chùm ca bệnh tại Ấn Độ, chuyên gia cho rằng nguồn lây xuất phát từ hoàn cảnh tiếp xúc đặc biệt. Kết quả điều tra dịch tễ sơ bộ trùng khớp với nhận định này khi nữ điều dưỡng nhiễm bệnh đầu tiên tại Bệnh viện Narayana Multispeciality từng uống mật chà là tươi nghi nhiễm dịch tiết của dơi. Người này sau đó lây cho đồng nghiệp qua tiếp xúc gần trong quá trình chăm sóc mà thiếu biện pháp bảo hộ chuẩn. Theo bác sĩ Khanh, vật chủ chính của virus là loài dơi ăn quả. Mầm bệnh tồn tại trong nước bọt, nước tiểu của loài này. Con người nhiễm bệnh chủ yếu do chạm trực tiếp vào dịch tiết hoặc ăn trái cây dơi cắn dở. Nếu không có tiếp xúc rất gần hoặc tiêu thụ thực phẩm nhiễm khuẩn, nguy cơ virus vượt biên giới bùng phát tại Việt Nam rất thấp. Các đợt dịch Nipah trong lịch sử đều khu trú ở phạm vi hẹp và tự chấm dứt khi cơ quan chức năng kiểm soát tốt nguồn lây động vật. Đồng quan điểm, PGS.TS Lê Quốc Hùng, Trưởng Khoa Bệnh Nhiệt đới, Bệnh viện Chợ Rẫy, đánh giá tính chất lây nhiễm của Nipah rất hạn chế, khác hoàn toàn các bệnh lý đường hô hấp cấp tính. Tuy nhiên, ông lưu ý Nipah vẫn là bệnh nguy hiểm đối với cá nhân mắc phải do tấn công trực tiếp vào não. Bệnh cảnh chính là viêm não với các triệu chứng sốt cao, đau đầu, co giật, diễn tiến nhanh tới hôn mê. Tỷ lệ tử vong của bệnh rất cao, có thể trên 50% do thế giới chưa tìm ra thuốc đặc trị hay vaccine phòng ngừa. Các biện pháp y tế hiện tại chỉ dừng lại ở điều trị triệu chứng và hồi sức tích cực. Sáng 27/1, trước diễn biến dịch tại nước bạn, Bộ Y tế yêu cầu các đơn vị kiểm dịch biên giới và y tế dự phòng tăng cường giám sát tại cửa khẩu và cộng đồng. Đến nay, Việt Nam chưa ghi nhận ca mắc Nipah nào. Thế giới phát hiện virus này lần đầu năm 1999 tại Malaysia và Singapore, khiến hơn 100 người tử vong, buộc tiêu hủy hàng triệu con lợn. Kể từ đó, dịch xuất hiện định kỳ tại Nam Á, chủ yếu ở Bangladesh và Ấn Độ. Để phòng bệnh, các chuyên gia khuyến cáo người dân thực hiện “ăn chín, uống sôi”. Đặc biệt, tuyệt đối không ăn các loại trái cây có dấu hiệu bị cắn dở, vết răng động vật hoặc trái cây rụng không rõ nguyên nhân. Khi du lịch đến các vùng có dịch, cần hạn chế tiếp xúc với động vật hoang dã, đặc biệt là dơi. https://vnexpress.net/bac-si-truong-huu-khanh-virus-nipah-kho-gay-dai-dich-nhu-covid-19-5010670.html

Cách phòng viêm phổi cho trẻ khi trời lạnh

Viêm phổi là bệnh thường gặp và là một trong những nguyên nhân chính gây tử vong ở trẻ em. Trẻ càng nhỏ tỷ lệ tử vong do viêm phổi càng cao. Mùa đông, các bệnh cảm lạnh cũng gia tăng làm cho virus, vi khuẩn nhân cơ hội xâm nhập mũi họng và xuống phổi gây viêm phổi. Trẻ mắc viêm phổi có biểu hiện gì? Khi mắc viêm phổi, trẻ sẽ có các biểu hiện: Giai đoạn sớm: có thể chỉ có sốt nhẹ, ho húng hắng, chảy nước mắt và nước mũi, khò khè, ăn kém, bỏ bú, quấy khóc… Giai đoạn sau: trẻ không được điều trị đúng và theo dõi sát có thể diễn biến nặng hơn với biểu hiện sốt cao, ho tăng lên, có đờm, khó thở, thở nhanh, rút lõm lồng ngực, bỏ bú hoặc bú kém, tím môi, tím đầu chi … Trẻ mắc viêm phổi nặng có triệu chứng: trẻ ho hoặc khó thở và có ít nhất một trong các triệu chứng chính là: co rút lồng ngực, phập phồng cánh mũi; thở rên (ở trẻ dưới 2 tháng)… Trẻ mắc viêm phổi rất nặng sẽ có các biểu hiện: trẻ có ho hoặc khó thở cộng với ít nhất một trong các triệu chứng chính là: tím tái, co giật, lơ mơ hoặc hôn mê; không uống được hoặc bỏ bú hoặc nôn ra tất cả mọi thứ; suy hô hấp nặng với biểu hiện đầu gật gù theo nhịp thở và co kéo cơ hô hấp phụ. Ngoài ra, có thể có thêm một số triệu chứng khác gồm: thở nhanh, phập phồng cánh mũi, thở rên, co rút lồng ngực. Lưu ý: Để xác định trẻ có thở nhanh hay không bằng cách đếm nhịp thở của trẻ trong đủ 1 phút. Trẻ được coi là thở nhanh nếu: Trẻ < 2 tháng tuổi, nhịp thở > 60 lần/phút. Trẻ 2 – 11 tháng tuổi, nhịp thở > 50 lần/phút. Trẻ 12 – 60 tháng tuổi, nhịp thở > 40 lần/phút. Cha mẹ không tự ý cho con uống kháng sinh Khi trẻ mắc viêm phổi, cha mẹ cần cho trẻ đi khám và điều trị theo chỉ dẫn của bác sĩ. Cha mẹ tuyệt đối không tự ý mua thuốc kháng sinh, thuốc giảm ho điều trị cho con tại nhà. Thuốc kháng sinh sẽ không có tác dụng trong trường hợp trẻ bị viêm phổi do virus. Ho là phản xạ tốt để tống xuất chất đờm ra khỏi đường thở, làm thông thoáng đường thở nên không cho trẻ uống thuốc giảm ho khi chưa có chỉ định của bác sĩ. Cách phòng bệnh viêm phổi cho trẻ trong mùa lạnh Mùa đông các bệnh cảm lạnh cũng gia tăng làm cho virus, vi khuẩn nhân cơ hội xâm nhập mũi họng và xuống phổi gây viêm phổi. Muốn phòng bệnh viêm phổi cho trẻ em cần thực hiện các biện pháp như sau: Giữ ấm đường thở: Khi thời tiết trở lạnh, cha mẹ cần lưu ý giữ ấm cho trẻ bằng cách cho trẻ ăn mặc đủ ấm phù hợp với mức độ lạnh bên ngoài: mặc thêm áo ấm, nón len, mang thêm bao tay, tất, khăn, đeo khẩu trang khi ra đường, đội mũi kín tai, sử dụng nước ấm,… Bổ sung đủ dinh dưỡng cho trẻ: Trẻ em cần được ăn uống đầy đủ các chất dinh dưỡng để tăng cường miễn dịch, nhất là những trẻ còn trong độ tuổi bú mẹ. Với các trẻ biếng ăn, cha mẹ nhất thiết nên bổ sung từ các nguồn thực phẩm bổ sung, các công thức thuốc bổ tổng hợp và các chế phẩm thảo dược chuẩn hóa có tác dụng chống biếng ăn cho trẻ. Cho trẻ uống đủ nước, trẻ nhỏ cho bú nhiều lần trong ngày. Không hút thuốc, đun nấu trong phòng có trẻ nhỏ. Cách ly trẻ với người bị bệnh để tránh lây lan thành dịch. Nơi ở đủ ánh sáng, lưu thông không khí tốt. Thường xuyên lau nền nhà, tay nắm cửa và bề mặt các đồ vật trong nhà bằng các chất tẩy rửa thông thường, như xà phòng và các dung dịch khử khuẩn. Đưa trẻ đi tiêm phòng đầy đủ, đúng lịch các vắc-xin như bạch hầu – ho gà – uốn ván, Hemophilus influenzae typ B (Hib), phế cầu, cúm… Phát hiện sớm các biểu hiện sớm của bệnh viêm đường hô hấp nói chung như: ho, sốt, chảy nước mũi, khó thở… và các rối loạn khác như tiêu chảy, ăn kém, chậm tăng cân… để chăm sóc và điều trị kịp thời. Hàng ngày vệ sinh răng miệng cho trẻ sạch sẽ ngày 2 lần sáng khi ngủ dậy và buổi tối trước khi đi ngủ, sau mỗi bữa ăn cho uống nước súc miệng, tránh để khuẩn đọng lại bằng cách chải răng, lau răng miệng cho trẻ nhỏ.

Cô gái xách theo bình “khí cười” đi… cai nghiện

Khi đến Viện Sức khỏe tâm thần khám, cô gái trẻ khiến bác sĩ ngỡ ngàng khi cô đem theo một túi xách lớn, nặng trĩu chứa bình khí N₂O (khí cười), vì sợ xuất hiện cơn thèm bất chợt không thể kiểm soát. Chia sẻ tại buổi tọa đàm “Bóng cười – nước mắt sau những cuộc vui”, diễn ra chiều 12/1 tại Viện Sức khỏe tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai, bác sĩ Lê Thị Phương Thảo, Đơn nguyên Sử dụng chất và Y học Hành vi, cho biết mới đây, bác sĩ đã khám cho một bệnh nhân nữ bị nghiện “khí cười” N₂O. Bác sĩ Thảo cho biết, cô gái trẻ bước vào phòng khám, với một chiếc túi xách lớn, và lấy ra một bình khí N₂O trong sự ngỡ ngàng của bác sĩ. “Cô gái giải thích, cô bị nghiện khí N₂O, bị bố mẹ phát hiện bắt đi khám và cai nghiện, nhưng khi đi khám, sợ lên cơn thèm bất chợt không thể kiểm soát nên cô phải lén vác bình khí đi theo”, bác sĩ Thảo thông tin. Nữ bệnh nhân cho biết, lần đầu tiên cô hít bóng cười (bóng bơm khí N₂O) là khi học cấp 2, do bạn bè rủ hít. Lúc ấy, cô nghĩ chỉ thử cho biết và không hít thường xuyên. Tuy nhiên, lên cấp 3, khi đi chơi với bạn bè nhiều hơn, cô tiếp xúc, hút bóng cười thường xuyên hơn. Dần dần, cô có cảm giác bị lệ thuộc, thèm hút bóng cười nên không cần bạn bè rủ, cô cũng tự mua bóng về hít tại nhà. Bác sĩ Thảo cho biết, nữ bệnh nhân mỗi ngày hít 20-30 quả bóng cười. Khi tình trạng nghiện nặng hơn, cô không dùng bóng cười nữa mà trực tiếp mua khí N₂O về hít. Cô gái thường xuyên mang bình khí N₂O nhỏ bên người, kể cả khi đi làm để lên cơn thèm là hít. Thời điểm bố mẹ phát hiện và bắt đi khám, cô gái đã sử dụng bóng cười đến 6-7 năm, đồng thời có các biểu hiện tê bì chân tay, trầm cảm, lo âu. Bác sĩ Thảo cho biết, bóng cười (còn gọi là funky ball) là một quả bóng được bơm đầy khí N₂O (khí cười). N₂O (Dinitơ oxit hay nitrous oxide) hay còn gọi là khí cười là một trong những hợp chất vô cơ không màu, vị ngọt nhẹ. Chất này vào cơ thể, dạng khí, sẽ chiếm chỗ oxy làm thiếu oxy, ức chế thần kinh trung ương gây ra nhiều cảm giác phê, hoang tưởng. N₂O là nhóm chất gây nghiện, thuộc nhóm gây ảo giác có xu hướng tăng liều, người dùng có thể bị phụ thuộc, nghiện, ảo giác tương tự heroin. “Dùng bóng cười lâu ngày với số lượng lớn có thể làm tổn thương não bộ; tê bì tay chân; yếu liệt, đi không vững; tổn thương tủy sống không hồi phục; giảm trí nhớ, chậm chạp, kém tập trung… Thậm chí, việc lạm dụng bóng cười có thể gây ngừng tim đột ngột hoặc ngạt thở cấp tính do thiếu oxy dẫn đến tử vong”, bác sĩ Thảo cảnh báo. Bác sĩ Thảo cũng cho biết, độc tính của khí cười tăng theo liều lượng và thời gian sử dụng, liều cao thường gây nguy hiểm tức thì nhưng liều thấp dùng kéo dài vẫn có thể gây tổn thương nặng. Việc hít bóng cười lâu ngày sẽ dẫn đến số lượng ngày càng tăng, có những người dùng tới 30-40 quả mỗi lần. “Việc dùng trên 10 quả bóng cười mỗi lần và dùng nhiều lần có thể gây độc tính mạnh đối với bộ não, có khả năng gây tổn thương cấp tính và mạn tính đến cơ thể”, bác sĩ Thảo cho biết. Trước đó, Bệnh viện Bãi Cháy đã tiếp nhận điều trị cho một bệnh nhân 15 tuổi bị tổn thương tủy cổ, tê yếu tay chân do ngộ độc khí N₂O sau thời gian sử dụng bóng cười dài ngày. Bệnh nhi đến viện trong tình trạng tê bì hai tay, hai chân yếu dần, đi lại khó khăn kèm theo sụt cân nhiều. Trước đó, người bệnh đã sử dụng bóng cười liên tục trong vòng 10 ngày, mỗi ngày khoảng 10 quả. Kết quả chụp cộng hưởng từ cột sống cổ có hình ảnh tổn thương sừng sau tủy cổ. Bệnh nhân được chẩn đoán bệnh rễ thần kinh tủy sống cổ, theo dõi do ngộ độc khí cười N₂O. Bác sĩ Thảo khuyến cáo người trẻ cần cảnh giác với bóng cười, tuyệt đối không “thử cho biết” bởi thực tế nhiều người đã bị nghiện sau khi thử, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe. https://dantri.com.vn/suc-khoe/co-gai-xach-theo-binh-khi-cuoi-di-cai-nghien-20260112213551189.htm

Những biến chứng đáng sợ của bệnh tay chân miệng

Bệnh TCM chủ yếu ở trẻ nhỏ dưới 5 tuổi, lây lan nhanh qua tiếp xúc gần với các chủng virus như EV71 và Coxsackievirus A16 là nguyên nhân chính. Tại Việt Nam, bệnh TCM vẫn diễn biến phức tạp, số trường hợp mắc tăng cao vào các đợt cao điểm (tháng 3-5 và tháng 9-12) chủ yếu ở trẻ dưới 5 tuổi. Bệnh rất dễ lây lan trong môi trường tập thể và tiềm ẩn nguy cơ biến chứng nặng và rất nặng có thể tử vong. Nguyên nhân gây bệnh tay chân miệng Tác nhân gây bệnh thường gặp là virus Coxsackie A16 and Enterovirus 71 (virus đường ruột typ 71). Các virus này có khả năng lây lan rất nhanh qua đường miệng bởi các chất tiết từ mũi, miệng, các nốt ban trên da và phân của trẻ bệnh. Trẻ lành tiếp xúc trực tiếp với trẻ bệnh TCM rất dễ bị nhiễm bệnh do hít phải nước bọt của trẻ bệnh văng ra trong lúc nói chuyện, cười, ho hoặc hắt hơi. Hoặc do trẻ lành cầm nắm đồ chơi hay chạm vào sàn nhà có dính nước bọt, chất tiết mũi họng của trẻ bệnh TCM cũng sẽ bị lây bệnh. Bên cạnh đó, bệnh TCM còn lây qua tay của người chăm sóc trẻ bệnh TCM. Triệu chứng bệnh tay chân miệng Triệu chứng của bệnh chân tay miệng ở trẻ em thường là sốt nhẹ, chán ăn, mệt mỏi, đau họng, ho, đau bụng, nổi ban đỏ trên da… trong đó đặc biệt lưu ý là dấu hiệu nổi ban trên da. Đây là dấu hiệu đặc trưng của bệnh TCM. Trong 1-2 ngày đầu khi phát bệnh, trẻ sẽ có những nốt ban hồng nổi trên nền da bình thường, sau đó trở thành bọng nước. Những ban đỏ này xuất hiện nhiều ở niêm mạc miệng, ngón tay, lòng bàn tay, lòng bàn chân (vì vậy gọi là bệnh TCM) và mông. Những nốt ban có kích thước từ 2-5mm ở giữa có màu xám sẫm và có hình bầu dục. Thường bệnh TCM được phân độ để tiện việc điều trị và theo dõi bệnh. Do đó, bệnh TCM được phân thành 4 độ chính, từ nhẹ đến nặng, dựa trên mức độ tổn thương thần kinh, tim mạch và hô hấp. Đó là độ 1 chỉ có loét miệng hoặc phát ban da; độ 2 bắt đầu có biến chứng thần kinh nhẹ như giật mình, sốt cao, lừ đừ; độ 3 có tổn thương thần kinh thực vật nặng (mạch nhanh/chậm, vã mồ hôi, thở nhanh); độ 4 là nặng nhất, có thể suy hô hấp, tuần hoàn, sốc, phù phổi, tím tái, cần can thiệp cấp cứu ngay. Những biến chứng đáng sợ của bệnh tay chân miệng Biến chứng thần kinh (viêm não – viêm màng não); Biến chứng về tim mạch (viêm cơ tim); Biến chứng về hô hấp (phù phổi cấp). Các biến chứng nguy hiểm đáng sợ này thường xuất hiện sớm khoảng từ ngày thứ hai đến ngày thứ năm của bệnh (xảy ra trong giai đoạn toàn phát) nguy cơ dẫn đến tử vong nếu không được phát hiện sớm và xử trí kịp thời. Ngoài ra, bệnh TCM có thể gây nguy hiểm cho phụ nữ mang thai, nếu bị nhiễm bệnh TCM trong 3 tháng đầu của thai kỳ có nguy cơ dẫn đến sảy thai vì vậy, phụ nữ đang mang thai nên phòng ngừa bằng cách hạn chế tiếp xúc gần với những người đang mắc bệnh TCM Nguyên tắc phòng bệnh và điều trị bệnh chân tay miệng Khi thấy trẻ có các biểu hiện nghi ngờ trẻ mắc bệnh TCM, cha mẹ cần đưa trẻ đến bệnh viện để được thăm khám và đánh giá đúng về tình trạng bệnh. Căn cứ vào tình hình thực tế diễn biến bệnh của trẻ, bác sĩ sẽ chỉ định điều trị phù hợp nhất và cho cách ly với trẻ lành (cách ly trẻ bệnh là điều cần được lưu ý khi chưa có vaccine phòng bệnh đặc hiệu). Với trẻ mắc bệnh độ 1, có thể chăm sóc trẻ tại nhà, nhưng phải theo dõi thường xuyên và nếu thấy có biểu hiện bất thường cần đưa đi bệnh viện càng sớm càng tốt. Từ độ 2 trở đi cần được nhập viện để theo dõi, nhằm tránh những biến chứng nguy hiểm. Một số biện pháp phòng tránh tay chân miệng ở trẻ hiệu quả “Phòng bệnh hơn chữa bệnh”, khi đã biết được nguyên nhân gây ra bệnh tay chân miệng, cha mẹ có thể dễ dàng chủ động phòng ngừa bệnh TCM cho trẻ cũng như bản thân mình (vì nhiều trường hợp người lớn cũng có thể mắc bệnh TCM) bằng cách không đưa trẻ đến những nơi đông người bởi ở những nơi đó có thể đang bị ô nhiễm mầm bệnh TCM. Luôn vệ sinh tay chân của trẻ sạch sẽ bằng xà phòng diệt khuẩn phù hợp. Cần tuân thủ nguyên tắc “ăn chín uống chín” để loại bỏ vi khuẩn, virus có thể xâm nhập cơ thể trẻ. Không ôm, hôn, tiếp xúc gần với trẻ nếu nhận thấy bản thân có nguy cơ bị TCM hoặc đã tiếp xúc với người bị bệnh TCM trước đó. Luôn vệ sinh, khử khuẩn không gian sống, giữ cho phòng ở thoáng mát đồng thời thường xuyên vệ sinh, khử khuẩn các loại đồ chơi, đồ dùng cá nhân của bé để loại bỏ virus, vi khuẩn gây bệnh. Bố mẹ bé nên chủ động tăng sức đề kháng và miễn dịch cho trẻ bằng việc bổ sung đầy đủ dinh dưỡng thiết yếu cho trẻ, cho trẻ hoạt động thể chất… https://suckhoedoisong.vn/nhung-bien-chung-dang-so-cua-benh-tay-chan-mieng-169251231214449374.htm

Hai loại vaccine giá hàng triệu đồng được tiêm miễn phí từ 2026

Từ năm 2026, Bộ Y tế tiêm vaccine ngừa ung thư cổ tử cung và phế cầu miễn phí cho trẻ, nhằm bao phủ miễn dịch và giảm gánh nặng chi phí cho người dân. “Bổ sung vaccine phế cầu và HPV là bước đi quan trọng nhằm mở rộng bao phủ miễn dịch, giảm gánh nặng bệnh tật và hướng tới mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ tiêm chủng đạt 95% theo định hướng của Chính phủ”, ông Dương Chí Nam, Phó cục trưởng Cục Phòng bệnh, Bộ Y tế, cho biết tại Lễ tổng kết cuộc thi tìm hiểu về chương trình tiêm chủng mở rộng tại Việt Nam, hôm 26/12 tại Hà Nội. Theo lộ trình, ngành y tế bắt đầu tiêm vaccine phế cầu quy mô nhỏ ngay từ quý I/2026. Dựa trên số liệu trẻ dưới 1 tuổi năm 2025, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương dự kiến triển khai trước tại các địa phương như Bắc Kạn, Lạng Sơn, Quảng Nam, Đăk Nông, Sóc Trăng, Tuyên Quang, Lào Cai, Cao Bằng, Sơn La và Quảng Ngãi. Đối với vaccine ngừa ung thư cổ tử cung (HPV), chương trình ưu tiên thực hiện tại các vùng khó khăn từ quý III/2026. Bốn tỉnh được chọn thí điểm tiêm miễn phí cho bé gái 11 tuổi gồm Tuyên Quang, Quảng Ngãi, Đắk Lắk và Vĩnh Long. Cơ quan chuyên môn ước tính giai đoạn 2026-2028, khoảng 18.000 trẻ mỗi năm tại các vùng triển khai sẽ thụ hưởng chính sách này. Hiện, phụ huynh phải trả chi phí dịch vụ khá cao để con được tiêm hai loại vaccine nói trên. Vaccine ngừa HPV dành cho nữ 9-26 tuổi có giá 1-2 triệu đồng mỗi liều, trọn bộ ba liều tiêu tốn khoảng 3-6 triệu đồng. Vaccine phế cầu cho trẻ từ 6 tuần tuổi cũng dao động quanh mức 1,2 triệu đồng một mũi. Việc đưa các loại dược phẩm này vào danh mục miễn phí tạo điều kiện cho mọi trẻ em, đặc biệt là tại các vùng nghèo, tiếp cận công bằng với dịch vụ y tế chất lượng cao. Phế cầu và HPV là hai trong 4 loại vaccine mới được bổ sung vào chương trình tiêm chủng quốc gia giai đoạn 2024-2030. Trước đó, vaccine ngừa virus Rota đã được thử nghiệm quy mô nhỏ từ cuối năm 2024 và sẽ mở rộng vào năm 2026; vaccine ngừa cúm dự kiến áp dụng từ năm 2030. Như vậy, từ năm 2026, số bệnh truyền nhiễm có vaccine miễn phí sẽ tăng lên 13 bệnh, bao gồm: viêm gan B, lao, bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt, bệnh do Hib, sởi, rubella, viêm não Nhật Bản B, tiêu chảy do virus Rota, các bệnh do phế cầu và ung thư cổ tử cung. Chương trình Tiêm chủng mở rộng quốc gia vận hành từ năm 1985 và đạt nhiều thành tựu quan trọng sau gần 40 năm. Việt Nam đã thanh toán bệnh bại liệt vào năm 2000 và loại trừ uốn ván sơ sinh năm 2005. Tỷ lệ trẻ dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ thường xuyên duy trì ở mức trên 90%. Vi khuẩn phế cầu (Streptococcus pneumoniae) là tác nhân hàng đầu gây ra các bệnh nguy hiểm ở trẻ nhỏ như viêm phổi, viêm màng não và nhiễm trùng huyết với tỷ lệ tử vong cao hoặc để lại di chứng thần kinh nặng nề. Trong khi đó, virus HPV (Human Papillomavirus) là nguyên nhân chính gây ung thư cổ tử cung ở phụ nữ và nhiều bệnh lý đường sinh dục khác ở cả hai giới. Vaccine phế cầu giúp cơ thể trẻ tạo kháng thể đặc hiệu, giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh và hạn chế tình trạng kháng kháng sinh đang ngày càng trầm trọng. Đối với vaccine HPV, việc tiêm chủng sớm, tốt nhất trong độ tuổi 9-14, được chứng minh mang lại hiệu quả bảo vệ tối ưu lên tới trên 90% trong việc ngăn ngừa các tổn thương tiền ung thư. https://vnexpress.net/hai-loai-vaccine-gia-hang-trieu-dong-duoc-tiem-mien-phi-tu-2026-4998511.html

Bơm xi măng sinh học – phương pháp điều trị hiệu quả xẹp thân đốt sống

Xẹp thân đốt sống là một trong những biến chứng thường gặp do loãng xương (chủ yếu ở người lớn tuổi và phụ nữ sau mãn kinh), sau chấn thương hoặc do các tổn thương bệnh lý khác (U máu thân đốt, tổn thương thứ phát do di căn…) trên nền bệnh nhân loãng xương… Xẹp thân đốt sống gây đau đớn, hạn chế vận động, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh. Có nhiều phương pháp điều trị xẹp thân đốt sống như: cố định ngoài, phẫu thuật, điều trị nội khoa, tạo hình thân đốt sống qua da bằng xi măng sinh học. Trong đó, phương pháp tạo hình đốt sống qua da mà Bệnh viện Bắc Thăng Long hiện đang thực hiện thường quy đã mang lại lợi ích và hiệu quả thấy rõ cho người bệnh. Bà Ng Thị T – 72 tuổi nhập viện trong tình trạng rất đau ở lưng. Kết quả thăm khám cho thấy bà T bị xẹp thân đốt sống lưng cần phải điều trị can thiệp. Đã từng chứng kiến người quen cũng bị tổn thương đốt sống lưng như mình, sau khi phẫu thuật cả năm trời vẫn chưa thể hồi phục, bà T rất lo lắng. Nhưng khi được BSCKII Đàm Quang Thịnh – Trưởng Khoa Chấn thương tư vấn về hướng điều trị theo phương pháp tạo hình thân đốt sống qua da bằng xi măng sinh học thì bà T yên tâm hơn hẳn, gia đình bà T rất mừng khi biết so với các phương pháp truyền thống như điều trị nội khoa, mặc áo nẹp đốt sống…, kỹ thuật bơm xi măng sinh học được đánh giá an toàn, ít biến chứng và hiệu quả cao hơn. Tuy nhiên, gia đình người bệnh lo ngại vì sợ chi phí điều trị bằng kỹ thuật cao này rất lớn trong khi điều kiện kinh tế khó khăn. Thấu hiểu lo lắng của gia đình người bệnh, BSCKII Đàm Quang Thịnh cho biết: Hiện bộ vật tư, thuốc điều trị trong thực hiện dịch vụ kỹ thuật cao này được BHYT chi trả (lưu ý: Chi phí bảo hiểm y tế chi trả sẽ tùy thuộc vào mức hưởng thẻ bảo hiểm và tình trạng của từng người bệnh). Sau hơn 30 phút thực hiện thủ thuật chỉ với 2 vết chọc kim rất nhỏ, không phải mổ mở, không gây mất máu, ít để lại sẹo, bà T đã giảm đau đến 80%, có thể vận động, sinh hoạt lại dễ dàng sau đó 2-3 giờ… Thông tin thêm về kỹ thuật can thiệp này, BSCKII Đàm Quang Thịnh cho biết: Phẫu thuật tạo hình thân đốt sống bằng xi măng sinh học là một phẫu thuật ít xâm lấn. Xi măng sinh học được bơm vào thân đốt sống với mục đích giảm đau, nâng chiều cao thân đốt sống, tái khôi phục đường cong sinh lý và tăng độ vững cho cột sống. Tại Bệnh viện Bắc Thăng Long phẫu thuật tạo hình thân đốt sống bằng xi măng sinh học được thực hiện hằng ngày, một cách thường quy dưới sự hỗ trợ của hệ thống máy móc hiện đại nên hình ảnh rõ nét giúp phẫu thuật viên thao tác dễ dàng, chính xác, hạn chế tai biến, biến chứng có thể xảy ra cho người bệnh. Phòng CTXH  

Những yếu tố làm tăng nguy cơ mắc rối loạn tiền đình

Rối loạn tiền đình ngày càng xuất hiện ở nhiều độ tuổi và gây ảnh hưởng rõ rệt đến sinh hoạt hằng ngày. Nhận diện sớm các yếu tố nguy cơ giúp chủ động phòng ngừa và hạn chế biến chứng Rối loạn tiền đình là gì? Rối loạn tiền đình thường gặp ở người cao tuổi, nhưng ngày càng có xu hướng trẻ hóa, xuất hiện ở mọi lứa tuổi và phổ biến hơn ở người trưởng thành. Nếu không được điều trị sớm, bệnh có thể gây nhiều biến chứng, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống. Rối loạn tiền đình là tình trạng quá trình truyền dẫn và tiếp nhận thông tin của hệ tiền đình bị rối loạn hoặc tắc nghẽn do tổn thương dây thần kinh số 8, động mạch nuôi dưỡng não, hoặc các tổn thương khác tại tai trong và não. Khi đó tiền đình mất khả năng giữ thăng bằng, gây loạng choạng, hoa mắt, chóng mặt, ù tai, buồn nôn… Những triệu chứng này tái diễn nhiều lần và thường xuất hiện đột ngột, gây khó chịu và cản trở sinh hoạt, lao động của người bệnh. Hai yếu tố chính làm tăng nguy cơ mắc bệnh là tuổi tác và tiền sử bệnh. Rối loạn tiền đình có thể gặp ở mọi độ tuổi, nhưng tỷ lệ ở người cao tuổi cao hơn. Theo dữ liệu y tế, trong 100 người từ 40 tuổi trở lên, có khoảng 30 người mắc rối loạn tiền đình. Hiện nay, do ảnh hưởng của môi trường và khí hậu, số người trẻ xuất hiện triệu chứng rối loạn tiền đình cũng đang tăng. Những người từng có tiền sử chóng mặt có nguy cơ cao phát triển rối loạn tiền đình về sau.Hai loại rối loạn tiền đình Rối loạn tiền đình ngoại biên: xuất phát từ tổn thương hệ tiền đình ở vùng tai trong. Triệu chứng thường rầm rộ với chóng mặt, mất thăng bằng nhưng ít nguy hiểm đến tính mạng. Đây là nhóm bệnh phổ biến nhất. Rối loạn tiền đình trung ương: do tổn thương nhân tiền đình tại thân não hoặc tiểu não. Nhóm bệnh này ít gặp hơn nhưng nguy hiểm hơn. Yếu tố gây rối loạn tiền đình Rối loạn tiền đình ngoại biên Viêm thần kinh tiền đình hoặc viêm tai trong: do nhiễm virus hoặc vi khuẩn. Chấn thương vùng đầu hoặc cột sống cổ: ảnh hưởng đến dây thần kinh và tuần hoàn, gây tổn thương hệ tiền đình. Rối loạn chuyển hóa như đái tháo đường, rối loạn lipid máu, suy giáp. Tác dụng phụ của thuốc: một số thuốc như aminoglycoside, thuốc an thần, thuốc giảm đau thần kinh có thể tác động đến tai trong. Yếu tố tâm lý: căng thẳng, lo âu, trầm cảm có thể làm nặng thêm triệu chứng. Mất ngủ, làm việc quá sức, thay đổi thời tiết: khiến cơ thể suy nhược và ảnh hưởng hoạt động thần kinh – tuần hoàn. U dây thần kinh số 8. Viêm tai giữa cấp hoặc mạn tính. Nguyên nhân rối loạn tiền đình trung ương Đột quỵ não (đặc biệt vùng cầu não, tiểu não hoặc chẩm). U não. Hạ huyết áp tư thế. Hội chứng Wallenberg. Giang mai thần kinh. Xơ cứng rải rác. Thiếu máu tuần hoàn não. Đau đầu migraine. Những người có nguy cơ cao mắc rối loạn tiền đình Rối loạn tiền đình có thể gặp ở nhiều nhóm tuổi, nhưng một số đối tượng có nguy cơ cao hơn do đặc điểm sức khỏe, lối sống hoặc tính chất công việc: 1. Người trung niên và cao tuổi Tuần hoàn máu kém và thoái hóa hệ thần kinh – tiền đình theo tuổi. Nguy cơ đột quỵ cao, dẫn đến rối loạn tiền đình trung ương. 2. Người mắc bệnh nền mạn tính Tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu ảnh hưởng tuần hoàn và tai trong. Thoái hóa đốt sống cổ gây chèn ép mạch máu lên não, dễ dẫn đến hội chứng tiền đình. 3. Người bị viêm tai, chấn thương đầu hoặc tai Gây tổn thương hệ tiền đình ngoại biên. 4. Người làm việc căng thẳng, ít vận động, rối loạn giấc ngủ Stress kéo dài làm tăng cortisol, góp phần gây bệnh tim mạch, tăng huyết áp, đái tháo đường và tổn thương hệ thần kinh, trong đó có dây thần kinh số 8. 5. Phụ nữ, đặc biệt giai đoạn tiền mãn kinh hoặc mãn kinh Thay đổi nội tiết tố, tuần hoàn và tâm lý khiến nguy cơ rối loạn tiền đình cao hơn. 6. Phụ nữ mang thai Ốm nghén, chán ăn dẫn đến thiếu dinh dưỡng; tâm lý thay đổi, lo lắng khiến thai phụ dễ chóng mặt, choáng váng và xuất hiện triệu chứng rối loạn tiền đình. Tóm lại: Rối loạn tiền đình có thể ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống nếu không được phòng ngừa và điều trị đúng cách. Để giảm nguy cơ mắc bệnh và ngăn ngừa tái phát, cần: Duy trì lối sống lành mạnh: ngủ đủ giấc, ăn uống đầy đủ dinh dưỡng, uống đủ nước, tập thể dục đều đặn. Kiểm soát tốt bệnh lý nền: điều trị ổn định tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, thoái hóa cột sống cổ. Khám sức khỏe định kỳ để phát hiện sớm vấn đề ảnh hưởng đến hệ tiền đình. Quản lý stress: tránh lo âu kéo dài, thư giãn qua đọc sách, nghe nhạc, thiền… Tránh thay đổi tư thế đột ngột: ngồi dậy từ từ, hạn chế xoay đầu nhanh, chú ý khi lên xuống cầu thang, tránh đọc báo trên xe. Hạn chế môi trường gây kích thích tiền đình: tránh tàu xe dài giờ, tránh tiếng ồn, ánh sáng chớp nháy hoặc sử dụng máy tính liên tục mà không nghỉ. Tập phục hồi tiền

WHO ban hành hướng dẫn toàn cầu đầu tiên về sử dụng thuốc GLP-1 trong điều trị béo phì

Trước gánh nặng béo phì ảnh hưởng hơn 1 tỷ người, WHO lần đầu ban hành hướng dẫn toàn cầu về sử dụng thuốc chủ vận GLP-1 trong điều trị béo phì như một bệnh mạn tính. Tổ chức nhấn mạnh việc dùng thuốc phải đi kèm chăm sóc toàn diện, đảm bảo tiếp cận công bằng và chuẩn bị hệ thống y tế. 1. Béo phì – thách thức sức khỏe toàn cầu ngày càng gia tăng Béo phì đang ảnh hưởng đến người dân ở mọi quốc gia và là nguyên nhân liên quan tới 3,7 triệu ca tử vong trên toàn thế giới chỉ riêng năm 2024. Nếu không có biện pháp ứng phó mạnh mẽ, số người mắc béo phì có thể tăng gấp đôi vào năm 2030. WHO đánh giá béo phì là một bệnh lý mạn tính phức tạp, làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch, tiểu đường type 2, một số ung thư và làm giảm hiệu quả điều trị của nhiều bệnh truyền nhiễm. Bên cạnh gánh nặng sức khỏe, chi phí kinh tế toàn cầu do béo phì được dự báo đạt 3 nghìn tỷ USD mỗi năm vào năm 2030. Trong bối cảnh nhiều quốc gia yêu cầu hỗ trợ kỹ thuật, WHO đã phát triển hướng dẫn toàn cầu nhằm định hình cách tiếp cận thống nhất, khoa học trong điều trị béo phì — đặc biệt là vai trò của thuốc chủ vận GLP-1. 2. Hướng dẫn mới: Thuốc GLP-1 được khuyến nghị sử dụng cho điều trị béo phì lâu dài Đây là lần đầu tiên WHO ban hành hướng dẫn chính thức về sử dụng liệu pháp GLP-1 trong điều trị béo phì. Trước đó, tháng 9/2025, các thuốc này đã được bổ sung vào Danh mục Thuốc thiết yếu để kiểm soát đái tháo đường type 2 ở nhóm nguy cơ cao. Trong hướng dẫn, WHO đưa ra hai khuyến nghị có điều kiện quan trọng: 1. GLP-1 có thể sử dụng cho người lớn mắc béo phì, trừ phụ nữ mang thai Các thuốc như liraglutide, semaglutide và tirzepatide được chứng minh mang lại hiệu quả giảm cân, cải thiện chuyển hóa và giảm nguy cơ biến chứng. Tuy nhiên, khuyến nghị vẫn có điều kiện do: Dữ liệu an toàn và hiệu quả lâu dài còn hạn chế Chi phí thuốc hiện vẫn cao Hệ thống y tế nhiều nước chưa sẵn sàng triển khai rộng rãi Lo ngại về công bằng trong tiếp cận dịch vụ 2. Người dùng GLP-1 nên được kết hợp can thiệp hành vi chuyên sâu WHO nhấn mạnh các biện pháp can thiệp có cấu trúc về dinh dưỡng, thay đổi hành vi và tăng cường hoạt động thể chất có thể mang lại kết quả điều trị tốt hơn. Điều này dựa trên bằng chứng tuy có độ tin cậy thấp nhưng mang ý nghĩa thực hành quan trọng. Tiến sĩ Tedros Adhanom Ghebreyesus, Tổng Giám đốc WHO, khẳng định: “Chỉ dùng thuốc sẽ không thể giải quyết cuộc khủng hoảng béo phì toàn cầu. Liệu pháp GLP-1 là một phần của chiến lược chăm sóc toàn diện, giúp hàng triệu người vượt qua bệnh lý mạn tính này”. 3. Ba trụ cột để giải quyết béo phì bền vững Hướng dẫn của WHO nhấn mạnh béo phì không chỉ là vấn đề y tế cá nhân mà là thách thức của toàn xã hội. Việc kiểm soát bền vững đòi hỏi chiến lược đa ngành, với ba trụ cột chính: 1. Tạo môi trường sống lành mạnh hơn:Quốc gia cần thực thi các chính sách mạnh mẽ để thúc đẩy ăn uống lành mạnh, giảm thực phẩm không tốt cho sức khỏe, khuyến khích hoạt động thể chất và phòng ngừa béo phì ngay từ cộng đồng. 2. Bảo vệ nhóm nguy cơ cao:Sàng lọc sớm, can thiệp có mục tiêu và chăm sóc liên tục giúp hạn chế tiến triển của béo phì và giảm biến chứng. 3. Đảm bảo tiếp cận dịch vụ chăm sóc trọn đời, lấy con người làm trung tâm: Người bệnh béo phì cần được điều trị toàn diện, từ tư vấn dinh dưỡng, hỗ trợ tâm lý đến dùng thuốc và theo dõi lâu dài. 4. Thách thức trong triển khai: Giá thuốc, khả năng chi trả và tính công bằng Nhu cầu GLP-1 tăng mạnh dẫn đến nguy cơ bất bình đẳng y tế nếu không có chính sách phù hợp. WHO cảnh báo: Nếu không mở rộng sản xuất, tới năm 2030 chỉ dưới 10% người cần thuốc có thể tiếp cận. Chi phí cao có thể khiến nhiều quốc gia thu nhập thấp – trung bình đứng ngoài cuộc. Hệ thống y tế nhiều nước còn thiếu nhân lực, năng lực giám sát và cơ chế chi trả cho nhóm thuốc mới. WHO kêu gọi cộng đồng quốc tế “hành động khẩn cấp”, thúc đẩy: Mua sắm chung Định giá theo từng bậc Cấp phép tự nguyện Tăng sản xuất, đảm bảo chuỗi cung ứng 5. Nguy cơ sản phẩm GLP-1 giả và kém chất lượng Nhu cầu tăng nhanh của thuốc GLP-1 đã kéo theo sự xuất hiện của sản phẩm giả, kém chất lượng, tạo ra rủi ro nghiêm trọng cho người bệnh. WHO nhấn mạnh cần: Kê đơn và phân phối nghiêm ngặt bởi nhân viên y tế có chuyên môn Tăng cường giám sát dược Giáo dục bệnh nhân về dùng thuốc an toàn Hợp tác quốc tế để ngăn chặn thuốc giả WHO khuyến cáo các quốc gia phải cảnh giác cao độ để bảo vệ bệnh nhân và duy trì niềm tin vào hệ thống y tế. Hướng dẫn được xây dựng dựa trên phân tích sâu các bằng chứng và ý kiến của nhiều bên liên quan, bao gồm cả người có trải nghiệm thực tế với béo phì. Đây là một phần trong kế hoạch đẩy nhanh tiến độ chấm dứt tình

Đặt Lịch Khám

    Đặt Lịch Khám