BỆNH VIỆN BẮC THĂNG LONG
BẮC THĂNG LONG HOSPITAL

(84-24).0889.615.815

Email: bvbtl@hanoi.gov.vn

BỆNH VIỆC BẮC THĂNG LONG
BẮC THĂNG LONG HOSPITAL

TƯ VẤN SỨC KHOẺ

Tư Vấn Sức Khoẻ

CÚM A VÀ SỐT CAO KHÓ HẠ Ở TRẺ NHỎ

Năm nay mùa Cúm, RSV, Adeno, đến sớm hơn dự kiến và các bác sĩ khoa Nhi bệnh viện Bắc Thăng Long thấy nhiều trẻ sốt cao khó hạ hơn bình thường, đặc biệt tỉ lệ sốt cao dẫn đến co giật tím tái, rối loạn điện giải…nhập viện cấp cứu trong đêm rất nhiều. Nhiều bố mẹ các cháu gọi cho bác sĩ lúc nửa đêm để hỏi về sốt, hạ sốt và bác sĩ đều cố gắng giải thích, hướng dẫn cặn kẽ. Qua bài viết này, bố mẹ có con nhỏ có thể tham khảo: Về bản chất sốt đó là quá trình cơ thể tăng thân nhiệt lên và chiến đấu với vi sinh vật xâm nhập vào cơ thể, nhiệt độ cao của cơ thể sẻ khiến bất hoạt các vi khuẩn, vi rút…để từ đó các tế bào miễn dịch dễ dàng đẩy tác nhân gây bệnh ra khỏi cơ thể bé. Nhưng nếu bé sốt cao quá có thể khến bé mệt, mất nước, co giật….nên không để bé sốt quá cao. VẬY NÊN LÀM GÌ KHI BÉ SỐT? Con số duy nhất bs nghĩ bố mẹ cần nhớ đố là lều hạ sốt Paracetamol (Acetaminophen) 10-15mg/kg. LƯU Ý KHOẢNG CÁCH GIỮA 2 LẦN HẠ SỐT LÀ 4-6 GIỜ. CÁCH TÍNH LIỀU NHANH KHI SỐT: Trẻ 6 kg là gói 80mg Trẻ 10 kg là gói 150mg, trẻ 5kg là ½,  gói 150mg. Trẻ 20kg là 2 gói 150mg.   Bé nhà bạn 12kg thì bố mẹ để sẵn gói 150mg có sốt là pha 1 gói uống luôn, bé 15kg thì pha 1,5 gói 150mg. Khi uống hạ sốt KHÔNG NHẤT THIẾT nhiệt độ cơ thể của bé phải giảm từ 40 độ xuống 37 độ như bình thường khi không có bệnh được. Chỉ cần các bố mẹ cho uống và nhiệt độ cơ thể GIẢM THẤP HƠN trước khi uống hạ sốt là có thể chấp nhận được rồi.   Ví dụ uống xong giảm từ 39 độ xuống 38 độ và bé ngủ ngon là được rồi. Sốt co giật KHÔNG LIÊN QUAN trẻ sốt cao hay sốt vừa, tất cả phụ thuộc vào cơ địa từng bé. Ví dụ có bé sốt 40 độ vẫn không giật nhưng có be 38 độ là co giật.Co giật do sốt ít khi ảnh hưởng đến não hay khiến bé chậm phát triển. Nhưng nếu xửa trí sai khi co giật như đưa ngón tay hay vật dụng vào miệng có thể có tác dụng ngược là làm bé khó thở, ngừng thở…   Trẻ co giật nhưng không sốt hoặc co giật liên tục nên đưa trẻ đến bệnh viện để tìm nguyên nhân. Trẻ co giật bố mẹ cho bé nằm nghiêng trái, vỗ nhẹ lưng, thông thoáng đường thở, đừng nhét gì vào miệng bé, nhét 1 viên hạ sốt hậu môn và đợi hết cơn co giật thì đưa bé vào viện. Nếu có người quay video bé co giật thì giúp ích cho bác sĩ khi thăm khám, chẩn đoán. Đưa con đến bệnh viện khám ngay khi có những dấu hiệu NẶNG: thở mệt hơn, lừ đừ hơn, sốt cao hơn, tiêu chảy liên tục, khó thở, li bì… Khoa Nhi bệnh viện Bắc Thăng Long với đội ngũ bác sĩ, điều dưỡng giàu kinh nghiệm tận tâm, với trang thiết bị đầy đủ là địa chỉ tin cậy để chẩn đoán và điều trị các bé kịp thời. ĐT: 0971 856 045. BSCKII Hồ Sỹ Công 

Phù chân do thuốc huyết áp, tiểu đường: Hiểu đúng để không hoang mang và sử dụng thuốc an toàn

Phù, sưng bàn chân hoặc mắt cá chân là tình trạng mà nhiều người gặp phải khi dùng thuốc điều trị huyết áp hoặc tiểu đường. Hiện tượng này thường không nguy hiểm, nhưng nếu không hiểu rõ nguyên nhân, người bệnh có thể lo lắng, ngừng thuốc sai cách và khiến bệnh lý trở nên nghiêm trọng hơn. 1. Phù, sưng chân rất thường gặp khi dùng thuốc Sưng, phù bàn chân hoặc mắt cá chân (phù ngoại biên) là một trong những tác dụng phụ khá phổ biến ở người đang điều trị bệnh huyết áp hoặc tiểu đường. Dù hiếm khi đe dọa tính mạng, tình trạng này có thể khiến người bệnh khó chịu, nặng chân, khó mang giày dép và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Hai loại thuốc thường gặp nhất gây ra hiện tượng này là amlodipine (trị tăng huyết áp) và pioglitazone (trị đái tháo đường): – Amlodipine là thuốc hạ huyết áp thuộc nhóm chẹn kênh canxi, giúp giãn mạch máu để cải thiện lưu thông và giảm huyết áp. Tuy nhiên, việc giãn các động mạch nhỏ đồng thời khiến dịch trong lòng mạch dễ rò rỉ ra mô kẽ, dẫn đến sưng nhẹ ở chi dưới. – Trong khi đó, pioglitazone là thuốc giúp kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân tiểu đường type 2 bằng cách tăng nhạy cảm với insulin, lại có xu hướng giữ nước và natri trong cơ thể. Điều này khiến một lượng dịch dư thừa tích tụ tại các mô mềm, biểu hiện rõ nhất ở vùng bàn chân và mắt cá chân. Cả hai loại thuốc đều có thể gây sưng phù nhẹ, đặc biệt ở người lớn tuổi hoặc người dùng liều cao. Một loại thuốc khác cũng có thể gây sưng tương tự là pregabalin, thường được kê để điều trị đau dây thần kinh do tiểu đường hoặc các nguyên nhân khác. Pregabalin làm tăng tính thấm mao mạch và gây ứ đọng tĩnh mạch, từ đó dẫn đến phù nề rõ hơn, nhất là khi sử dụng lâu dài. Phù, sưng chân là hiện tường thường gặp khi dùng một số thuốc trị tiểu đường, huyết áp. 2. Vì sao thuốc lại khiến chân bị sưng phù? Hiện tượng phù chân do thuốc được gọi là phù ngoại biên do thuốc. Cơ chế hình thành liên quan đến sự thay đổi cân bằng dịch giữa lòng mạch và mô kẽ. Khi mạch máu giãn rộng (như trong trường hợp dùng amlodipine), áp lực trong mao mạch giảm, khiến dịch dễ rò ra ngoài. Với các thuốc như pioglitazone, nguyên nhân lại là do giữ nước và natri trong cơ thể, làm tăng thể tích dịch tuần hoàn và dẫn đến ứ đọng ở chi dưới. Ở những người có bệnh nền tim mạch, suy thận hoặc suy tĩnh mạch, hiện tượng này càng dễ xảy ra. Người cao tuổi, ít vận động hoặc phải đứng, ngồi lâu trong ngày cũng có nguy cơ cao hơn. Đáng chú ý, tác dụng phụ này thường nhẹ và có thể kiểm soát được, không nên hiểu lầm là dấu hiệu bệnh lý nghiêm trọng. 3. Khi nào cần báo cho bác sĩ? Nếu nhận thấy chân sưng, nặng, có vết lõm khi ấn, giày dép chật hơn hoặc cảm giác căng tức vùng cổ chân, hãy thông báo với bác sĩ điều trị, đặc biệt nếu tình trạng xuất hiện sau khi bắt đầu dùng thuốc mới. Việc bác sĩ xác định đúng nguyên nhân rất quan trọng, vì sưng chân còn có thể liên quan đến các bệnh lý khác như suy tim, bệnh thận hoặc rối loạn tĩnh mạch. Bệnh nhân không nên tự ý ngừng thuốc hoặc điều chỉnh liều khi thấy sưng. Việc ngừng thuốc đột ngột có thể khiến huyết áp tăng vọt hoặc đường huyết tăng cao, gây biến chứng tim mạch nghiêm trọng. Trong một số trường hợp, bác sĩ có thể: Giảm liều thuốc hoặc chuyển sang thuốc cùng nhóm ít gây phù hơn. Kê thêm thuốc lợi tiểu nhẹ để hỗ trợ đào thải dịch dư. Khuyến nghị thay đổi thời điểm dùng thuốc, chẳng hạn dùng buổi sáng thay vì buổi tối. Việc theo dõi định kỳ giúp kiểm soát tốt cả bệnh lý và tác dụng phụ, đồng thời ngăn ngừa biến chứng lâu dài. 4. Cách giảm sưng và phòng ngừa tái phát Đối với sưng phù nhẹ, người bệnh có thể áp dụng một số biện pháp hỗ trợ đơn giản: Kê cao chân khi nằm hoặc nghỉ ngơi để giúp dịch trở lại hệ tuần hoàn. Hạn chế ăn mặn, giảm lượng natri nạp vào cơ thể. Tập vận động nhẹ nhàng như đi bộ, xoay cổ chân hoặc cử động các ngón chân thường xuyên. Không ngồi hoặc đứng một tư thế quá lâu, tránh làm máu ứ đọng ở chi dưới. Theo dõi cân nặng và vòng cổ chân hằng tuần để phát hiện sớm thay đổi bất thường. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng các biện pháp này chỉ hỗ trợ, không thay thế cho việc đánh giá y khoa. Nếu sưng ngày càng nặng, kèm theo khó thở, mệt mỏi, đau ngực hoặc tăng cân nhanh, cần đến ngay cơ sở y tế để loại trừ nguyên nhân tim mạch hoặc thận. 5. Người bệnh không ngừng thuốc vì lo sợ Amlodipine, pioglitazone và pregabalin là những thuốc có hiệu quả đã được chứng minh, được dùng rộng rãi và an toàn khi có chỉ định đúng. Việc xuất hiện phù nhẹ không có nghĩa là thuốc không hợp hay gây độc. Thực tế, phần lớn trường hợp sưng phù sẽ giảm sau vài tuần cơ thể thích nghi, hoặc biến mất khi bác sĩ điều chỉnh liều. Nếu bệnh nhân tự ngừng amlodipine vì thấy chân sưng, khiến huyết áp tăng cao đột ngột nguy hiểm. Trong khi chỉ cần đổi thuốc khác hoặc thêm một thuốc lợi tiểu

Vì sao đái tháo đường gây suy thận?

Đái tháo đường là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây bệnh thận mạn tính, chiếm tỷ lệ cao nhất trong các trường hợp suy thận giai đoạn cuối phải điều trị thay thế thận như lọc máu chu kỳ, lọc màng bụng, ghép thận… Cơ chế chính gây bệnh là tổn thương vi mạch tại cầu thận do tình trạng tăng đường huyết kéo dài. Glucose máu cao dẫn đến dày màng đáy cầu thận, tăng sinh tế bào trung mô và xơ hóa cầu thận, làm giảm khả năng lọc chọn lọc của màng lọc. Hậu quả là albumin niệu xuất hiện, phản ánh giai đoạn sớm của bệnh thận do đái tháo đường. Khi đường huyết không được kiểm soát, quá trình xơ hóa cầu thận tiến triển dần, dẫn đến giảm mức lọc cầu thận (eGFR), tăng albumin niệu, rồi chuyển sang bệnh thận mạn tính (CKD) và cuối cùng là suy thận giai đoạn cuối (ESKD). Người mắc bệnh thận do đái tháo đường thường không có triệu chứng trong giai đoạn đầu. Khi tổn thương tiến triển, các biểu hiện có thể xuất hiện như mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn, ngứa da, sưng phù tay chân, tiểu ít hoặc tiểu đêm nhiều, huyết áp tăng cao. Những dấu hiệu này thường đến chậm nên nhiều bệnh nhân chỉ phát hiện khi chức năng thận đã giảm đáng kể. Anh nên tầm soát định kỳ để phòng ngừa biến chứng thận do đái tháo đường. Người bệnh nên theo dõi huyết áp, đường máu, cân nặng định kỳ và tầm soát chỉ số microalbumin niệu và mức lọc cầu thận ít nhất mỗi 3-6 tháng một lần. Anh không tự ý ngừng hoặc thay đổi thuốc hạ đường huyết, thuốc huyết áp khi chưa có chỉ định. Duy trì chế độ ăn lành mạnh, ngủ đủ giấc, kiểm tra sức khỏe định kỳ chính là biện pháp hiệu quả nhất để bảo vệ thận và kéo dài tuổi thọ. Khi đã mắc bệnh thận do đái tháo đường, việc điều trị chủ yếu tập trung làm chậm tiến triển và bảo tồn phần chức năng thận còn lại. Bác sĩ thường chỉ định thuốc kiểm soát đường huyết, huyết áp, kết hợp với chế độ ăn hạn chế muối, đường và đạm tránh lạm dụng thuốc, thực phẩm gây độc thận. Người bệnh nên duy trì cân nặng hợp lý, tập luyện đều đặn, tránh hút thuốc và uống rượu bia. Nếu người bệnh nặng, chức năng thận giảm dưới ngưỡng cho phép, bác sĩ chỉ định điều trị thay thế thận bằng các phương pháp lọc máu, lọc màng bụng hoặc ghép thận. https://vnexpress.net/vi-sao-dai-thao-duong-gay-suy-than-4958482.html

Nhận diện sớm bệnh Alzheimer và cách phòng ngừa hiệu quả

Azheimer là nguyên nhân phổ biến nhất gây sa sút trí tuệ ở người cao tuổi, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trí nhớ, ngôn ngữ và hành vi. Nhận biết sớm triệu chứng và chủ động phòng ngừa là cách hiệu quả để làm chậm tiến triển bệnh và nâng cao chất lượng cuộc sống. Các giai đoạn của bệnh Alzheimer  Bệnh Alzheimer là một trong những nguyên nhân phổ biến gây chứng suy giảm trí nhớ, chiếm khoảng 60 – 80% các trường hợp. Đây là một bệnh lý ảnh hưởng nghiêm trọng đến não bộ, tác động đến trí nhớ, tư duy, ngôn ngữ và hành vi của người bệnh. Nguy cơ phát triển bệnh Alzheimer tăng dần theo độ tuổi, đặc biệt từ sau 65 tuổi. Để hiểu rõ hơn về diễn tiến của bệnh, dưới đây là mô tả cụ thể các giai đoạn của Alzheimer: Giai đoạn nhẹ Ở giai đoạn này, người bệnh chỉ gặp một số khó khăn trong việc quản lý cuộc sống hàng ngày, nhưng vẫn có thể sống độc lập. Tuy nhiên, hành vi, cảm xúc và tâm trạng có thể bắt đầu thay đổi. Lúc này người bệnh và gia đình nên dành thời gian tìm hiểu về bệnh. Vai trò của người chăm sóc rất quan trọng: hỗ trợ người bệnh thông qua trò chuyện, tư vấn nhẹ nhàng và đồng cảm. Người bệnh có thể gặp khó khăn trong việc hoàn thành các hoạt động hàng ngày như lái xe, nấu ăn… vì vậy cần sự hỗ trợ hoặc thay thế từ người thân. Giai đoạn vừa Ở giai đoạn trung bình, các biểu hiện suy giảm trí nhớ và chức năng nhận thức trở nên rõ rệt hơn: Suy giảm trí nhớ nghiêm trọng: Quên cả hiện tại lẫn quá khứ. Rối loạn ngôn ngữ: Nói không trôi chảy, sai ngữ pháp. Rối loạn tri giác: Mất định hướng, có thể lạc ngay cả trong môi trường quen thuộc. Rối loạn hành vi: Không thực hiện đúng các công việc thường ngày như nấu ăn, mặc quần áo, mua sắm… Người bệnh dần mất khả năng tự lập. Dù vẫn có thể ăn uống, tắm rửa hoặc thực hiện một số việc đơn giản, nhưng thường cần được nhắc nhở, hỗ trợ. Ngoài ra, họ dễ bị lạc đường, quên tắt bếp, làm việc lặp đi lặp lại như lục lọi ngăn kéo hoặc đi lại vô thức. Những hành vi bất thường như tức giận, nghi ngờ, thậm chí là hung hăng có thể xảy ra – do những tổn thương nhận thức của bệnh gây ra. Ở giai đoạn này, người bệnh thường khó diễn đạt suy nghĩ và hiểu người khác, đồng thời nhầm lẫn giữa quá khứ và hiện tại. Việc chăm sóc có thể đòi hỏi người thân phải dành toàn bộ thời gian để hỗ trợ. Giai đoạn nặng Đây là giai đoạn bệnh tiến triển nặng, người bệnh cần được chăm sóc toàn diện. Các vấn đề về lời nói và ngôn ngữ khiến giao tiếp gần như không thể. Họ không còn tự thực hiện các hoạt động cơ bản như ăn uống, vệ sinh cá nhân và thường xuyên nhầm lẫn người thân quen. Khả năng kiểm soát cơ thể và phối hợp vận động cũng suy giảm đáng kể. Ở giai đoạn này, việc chăm sóc tại nhà có thể không đủ đáp ứng nhu cầu y tế và tinh thần. Gia đình nên cân nhắc kết hợp chăm sóc chuyên nghiệp tại các cơ sở điều dưỡng hoặc trung tâm chuyên biệt dành cho người sa sút trí tuệ. Ngăn ngừa bệnh Alzheimer thế nào? Bệnh Alzheimer là hệ quả của quá trình lão hóa tự nhiên của não bộ. Tuy nhiên, thời điểm khởi phát và mức độ trầm trọng có thể bị chi phối bởi lối sống, chế độ dinh dưỡng và các yếu tố sức khoẻ. Một số biện pháp phòng ngừa và giảm nguy cơ bao gồm: Ăn uống khoa học Duy trì chế độ ăn giàu dinh dưỡng, cân bằng các nhóm chất, ưu tiên rau củ, trái cây tươi, ngũ cốc nguyên hạt, dầu thực vật, các chế phẩm từ sữa… Hạn chế thịt đỏ, đường tinh luyện và các chất kích thích như rượu, bia, thuốc lá… Phòng ngừa bệnh tim mạch Khoảng 80% người bị Alzheimer có liên quan đến các bệnh lý tim mạch. Việc kiểm soát huyết áp, mỡ máu, tiểu đường… góp phần ngăn ngừa và làm chậm tiến triển bệnh. Tập thể dục đều đặn Tập luyện giúp cải thiện tuần hoàn máu lên não, giảm căng thẳng và làm chậm sự thoái hóa tế bào thần kinh. Người bệnh nên chọn hình thức vận động phù hợp với thể trạng và tuổi tác. Tránh chấn thương vùng đầu Chấn thương đầu, đặc biệt dẫn tới bất tỉnh, có liên quan đến nguy cơ cao phát triển Alzheimer. Do đó, cần thận trọng khi chơi thể thao hoặc tham gia giao thông. Ngủ đủ và đúng giờ Rối loạn giấc ngủ ảnh hưởng đến 25% – 50% người mắc Alzheimer, tùy theo giai đoạn. Giấc ngủ sâu, đúng giờ không chỉ tốt cho sức khỏe tổng thể mà còn góp phần bảo vệ chức năng não bộ. Alzheimer là căn bệnh tiến triển âm thầm nhưng tác động sâu sắc đến chất lượng cuộc sống của người bệnh và gia đình. Việc phát hiện sớm, hiểu rõ từng giai đoạn bệnh, chăm sóc đúng cách và duy trì lối sống lành mạnh là chìa khóa giúp làm chậm quá trình sa sút trí tuệ, bảo vệ sức khỏe tinh thần và thể chất cho người cao tuổi. https://suckhoedoisong.vn/nhan-dien-som-benh-alzheimer-va-cach-phong-ngua-hieu-qua-169251022075154002.htm

Biểu hiện sớm của bệnh glôcôm

Glôcôm gây tổn thương cho dây thần kinh thị giác và có khả năng di truyền trong gia đình. Bệnh có thể xuất hiện ở mọi lứa tuổi, nhưng thường gặp hơn ở người lớn tuổi, đặc biệt là những người trên 60. Đây cũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến mù lòa ở nhóm tuổi này. Vậy, biểu hiện sớm của bệnh glôcôm là gì? Bệnh glôcôm (Glaucoma hay thiên đầu thống) là bệnh về mắt gây tổn thương dây thần kinh thị giác, với mức độ nghiêm trọng tăng dần theo thời gian. Nguyên nhân chính là do áp lực trong nhãn cầu tăng cao, gây tổn thương dây thần kinh thị giác. Khi áp suất nội nhãn tăng, nó có thể chèn ép và làm tổn thương dây thần kinh thị giác – cầu nối truyền tải thông tin từ mắt đến não. Nếu tình trạng này không được điều trị, glôcôm có thể dẫn đến mất thị lực vĩnh viễn, thậm chí gây mù trong vòng vài năm. Yếu tố làm tăng nguy cơ mắc glôcôm Bệnh glôcôm thường ảnh hưởng đến người trên 40 tuổi, nhưng người trẻ, trẻ em, thậm chí trẻ sơ sinh cũng có thể mắc bệnh. Những người bị tiểu đường có nguy cơ mắc bệnh gấp đôi. Một số yếu tố làm tăng nguy cơ mắc glôcôm gồm: Tiền sử gia đình có người mắc bệnh glôcôm. Viễn thị (đối với bệnh tăng nhãn áp góc đóng). Cận thị (đối với glôcôm góc mở). Huyết áp cao hoặc quá thấp. Sử dụng corticosteroid trong thời gian dài. Chấn thương hoặc phẫu thuật mắt trước đó. Bệnh glôcôm thường gặp ở tuổi trung niên vì vậy cần thăm khám khi có biểu hiện bất thường. Biểu hiện sớm của glôcôm Tùy từng nguyên nhân gây bệnh mà glôcôm có những biểu hiện khác nhau: Đối với glôcôm góc mở Glôcôm góc mở là loại tăng nhãn áp phổ biến nhất, xảy ra khi mắt không thoát dịch hiệu quả, giống như ống dẫn lưu bị tắc. Điều này dẫn đến áp lực trong mắt tăng cao dần, gây tổn thương dây thần kinh thị giác. Bệnh không gây đau hay thay đổi thị lực ngay từ đầu. Hầu hết người mắc glôcôm góc mở không có triệu chứng rõ ràng; nếu có, thường chỉ xuất hiện khi bệnh đã tiến triển nặng với dấu hiệu mất thị lực ngoại vi. Đối với glôcôm góc đóng Glôcôm góc đóng xảy ra khi chân mống mắt áp sát với góc thoát nước và gây ứ đọng thủy dịch. Khi góc thoát nước bị chặn hoàn toàn, áp suất trong mắt tăng nhanh chóng, gọi là cơn cấp tính, có thể dẫn đến mù lòa. Các triệu chứng của glôcôm góc đóng thường xuất hiện nhanh và rõ ràng, gồm: Nhìn thấy quầng sáng quanh đèn. Mất thị lực. Đỏ mắt. Mắt mờ đục (đặc biệt ở trẻ sơ sinh). Đau bụng hoặc nôn mửa. Đau mắt, đau đầu dữ dội. Đối với glôcôm thứ phát Glôcôm thứ phát là hậu quả của các bệnh lý khác như đục thủy tinh thể hoặc do sử dụng thuốc corticosteroid. Phẫu thuật mắt cũng có thể gây ra glôcôm nhưng ít phổ biến hơn. Các triệu chứng của glôcôm thứ phát gồm: Đau đầu dữ dội. Đau mắt. Buồn nôn và ói mửa. Nhìn thấy quầng sáng quanh đèn. Đỏ mắt. Khi có những triệu chứng này, cần điều trị ngay để tránh nguy cơ mù lòa. Đối với glôcôm bẩm sinh Trẻ sơ sinh mắc glôcôm bẩm sinh thường có khiếm khuyết ở góc tiền phòng – nơi thoát thủy dịch chính của mắt – làm chậm hoặc ngăn cản quá trình dẫn lưu dịch. Các triệu chứng bao gồm: Mắt mờ đục, chớp mắt nhiều, chảy nước mắt nhiều, nhạy cảm với ánh sáng và đau đầu. Bệnh có thể mang tính di truyền trong gia đình. Chẩn đoán bệnh glôcôm Để chẩn đoán chính xác, bác sĩ có thể thực hiện các xét nghiệm sau: Khám mắt giãn đồng tử: Giúp bác sĩ quan sát dây thần kinh thị giác phía sau mắt. Soi góc: Kiểm tra góc giữa mống mắt và giác mạc để xem hệ thống thoát nước của mắt có bị tắc hay không. Chụp cắt lớp quang học (OCT): Giúp phát hiện thay đổi ở dây thần kinh thị giác. Đo nhãn áp: Kiểm tra áp suất trong mắt để xác định tình trạng tăng nhãn áp. Đo độ dày giác mạc: Giúp đánh giá ảnh hưởng của giác mạc đến nhãn áp. Khám bằng đèn khe: Kiểm tra kỹ lưỡng các cấu trúc bên trong mắt. Kiểm tra thị lực và thị trường: Đánh giá khả năng nhìn và phát hiện mất thị lực ngoại vi. Lời khuyên thầy thuốc Bệnh glôcôm thường gặp ở tuổi trung niên và tổn thương do bệnh gây ra cho dây thần kinh thị giác không thể phục hồi. Tuy nhiên, điều trị và kiểm tra thường xuyên có thể giúp làm chậm tiến trình bệnh, ngăn ngừa mất thị lực — đặc biệt nếu phát hiện sớm. Các phương pháp điều trị tập trung vào việc hạ áp suất nội nhãn, bao gồm: Thuốc nhỏ mắt theo đơn. Thuốc uống. Điều trị bằng laser. Phẫu thuật, hoặc kết hợp các phương pháp trên. Do đó, nếu nghi ngờ mắc bệnh, cần đến ngay cơ sở y tế để được thăm khám. Đặc biệt, trong gia đình có người thân mắc glôcôm, nguy cơ mắc bệnh có thể tăng lên đến 9 lần, và càng nhiều người trong gia đình mắc thì nguy cơ này càng cao. https://suckhoedoisong.vn/bieu-hien-som-cua-benh-glocom-169251017201530752.htm

Vaccine ung thư: Hiểu đúng để không kỳ vọng sai

Thông tin về “vaccine ung thư” đang thu hút sự quan tâm của nhiều người. Tuy nhiên, các bác sĩ khuyến cáo cần hiểu đúng bản chất loại vaccine này để tránh hiểu lầm và kỳ vọng quá mức. Bệnh viện Hữu Nghị vừa tiếp nhận một trường hợp bệnh nhân nam 70 tuổi. Bệnh nhân không có triệu chứng gì đặc biệt, được thực hiện nội soi đại tràng để tầm soát ung thư đại trực tràng. Rất may, trong quá trình nội soi đã phát hiện polyp. Bệnh nhân được tiến hành cắt hớt – một kỹ thuật nội soi tiêu hóa. Trường hợp này nếu giải phẫu bệnh polyp cho kết quả là ung thư, thì việc điều trị cũng chỉ cần phẫu thuật là đủ. Bác sĩ khuyến cáo ngoài việc tiêm phòng vaccine ung thư cho một số chỉ định, người dân vẫn nên chủ động phòng tránh ung thư bằng cách duy trì lối sống lành mạnh và khám sức khỏe định kỳ nhằm phát hiện sớm ung thư qua tầm soát. Ca bệnh phát hiện ra polyp nhờ tầm soát ung thư đại trực tràng. Bệnh viện Hữu Nghị cũng vừa có buổi làm việc với đoàn công tác của Trung tâm Ung thư Napalkov (Liên bang Nga). Buổi làm việc này nhận được nhiều sự quan tâm của bệnh nhân, với nguyện vọng được tham gia các thử nghiệm lâm sàng. Trong thời gian gần đây, thông tin một số trung tâm nghiên cứu quốc tế, trong đó có các trung tâm của Liên bang Nga, đang tiến hành các thử nghiệm liên quan đến loại vaccine này. Tuy nhiên, để hiểu đúng, cần phân biệt rõ hai khái niệm: vaccine phòng ngừa ung thư và vaccine điều trị ung thư. Vaccine phòng ngừa ung thư là gì? Một số loại vaccine hiện nay có thể ngăn ngừa virus gây ung thư, ví dụ: Vaccine HPV giúp phòng ung thư cổ tử cung, hậu môn, hầu họng… Vaccine viêm gan B giúp giảm nguy cơ ung thư gan. Những loại vaccine này không ngăn chặn trực tiếp tế bào ung thư, mà ngăn virus gây ra quá trình dẫn đến sự hình thành ung thư. Đây là dạng vaccine phòng bệnh, tương tự như vaccine cúm hay sởi. Vaccine có vai trò nhất định trong phòng một số loại ung thư. Ảnh minh họa. Vaccine điều trị ung thư là gì? Đây là lĩnh vực nghiên cứu mới, trong đó các nhà khoa học tìm cách kích hoạt hệ miễn dịch của cơ thể để tấn công các tế bào ung thư đã hình thành. Tuy nhiên, đa số vaccine điều trị vẫn đang ở giai đoạn thử nghiệm lâm sàng, hiệu quả còn hạn chế và chưa được ứng dụng rộng rãi. Do vậy, vaccine không thể thay thế lối sống lành mạnh và tầm soát ung thư. Hiện nay chưa có loại vaccine nào giúp con người “tránh bị ung thư” nói chung. Cách phòng ngừa ung thư hiệu quả nhất vẫn là sống lành mạnh: Không hút thuốc, hạn chế rượu bia. Duy trì cân nặng hợp lý, ăn nhiều rau xanh và trái cây. Tập thể dục đều đặn, ngủ đủ giấc, hạn chế căng thẳng, stress. Khám sức khỏe định kỳ và tầm soát ung thư theo khuyến cáo của bác sĩ. Như vậy, vaccine có vai trò nhất định trong phòng một số loại ung thư, nhưng chìa khóa bảo vệ sức khỏe vẫn nằm ở lối sống lành mạnh và khám sức khỏe định kỳ phát hiện sớm ung thư qua tầm soát. https://suckhoedoisong.vn/vaccine-ung-thu-hieu-dung-de-khong-ky-vong-sai-169251005180556201.htm Đọc thêm: Miễn dịch trị liệu ung thư – bước tiến vượt bậc của y học hiện đại

Robot phẫu thuật mở hy vọng sống cho người ung thư phổi

Ung thư phổi cướp đi sinh mạng hàng triệu người toàn cầu mỗi năm, song phẫu thuật robot và những tiến bộ điều trị đang đem lại cơ hội sống cao hơn cho các bệnh nhân. Tại Việt Nam, ung thư phổi là nguyên nhân tử vong do ung thư cao thứ hai sau ung thư gan, với khoảng 22.500 ca tử vong mỗi năm, chiếm gần 19% tổng số. Dù các phương pháp điều trị đã có nhiều tiến bộ, thực tế cho thấy đa số bệnh nhân được chẩn đoán ở giai đoạn muộn, khiến tiên lượng sống còn không cao. Tùy vào giai đoạn bệnh, bác sĩ có thể chỉ định phẫu thuật cắt bỏ khối u hoặc toàn bộ thùy phổi, hóa trị và xạ trị khi bệnh đã tiến triển. Hiện nay, điều trị nhắm trúng đích và miễn dịch đạt nhiều tiến bộ mới, mang lại cơ hội sống cho nhiều bệnh nhân giai đoạn muộn. Phòng mổ robot tại Bệnh viện Chợ Rẫy. Ảnh: Bệnh viện cung cấp “Xu hướng điều trị bằng robot ngày càng tăng, nhiều khuyến cáo xem đây là lựa chọn hàng đầu cho bệnh nhân ung thư phổi nhờ tính an toàn, hiệu quả và khả năng cải thiện chất lượng sống“, TS.BS Nguyễn Hoàng Bình, Trưởng khoa Ngoại Lồng ngực, Bệnh viện Chợ Rẫy, phát biểu tại hội nghị khoa học ngày 2/10. Theo bác sĩ Bình, phương pháp này sử dụng hình ảnh 3D phóng đại gấp 10 lần, giúp bác sĩ quan sát rõ và thao tác chính xác. Cánh tay robot có độ linh hoạt cao, không bị run tay hay vướng chạm, nhờ đó hạn chế biến chứng, giảm đau sau mổ và rút ngắn thời gian nằm viện. Phẫu thuật robot còn cho phép xử lý những ca khó như cắt trọn một bên phổi khi khối u xâm lấn phế quản, đồng thời nạo vét hạch trung thất để đánh giá chính xác giai đoạn bệnh. Việc xác định đúng giai đoạn là yếu tố then chốt giúp tiên lượng và định hướng điều trị hiệu quả hơn. Các nghiên cứu quốc tế cho thấy tỷ lệ sống sau 5 năm của bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn sớm được phẫu thuật bằng robot đạt trên 77%, giai đoạn hai là 70%. Tỷ lệ biến chứng và tử vong sau mổ chỉ dưới 3%, thấp hơn đáng kể so với các phương pháp khác. Trước đây, mổ mở là phương pháp phổ biến nhưng để lại vết mổ lớn, gây đau nhiều và đòi hỏi thời gian hồi phục lâu. Phẫu thuật nội soi ra đời sau đó tuy ít xâm lấn hơn nhưng vẫn còn hạn chế. Sự xuất hiện của phẫu thuật robot từ những năm 2000 được xem là bước tiến quan trọng trong điều trị căn bệnh này, mang lại kết quả tốt hơn cho cả người bệnh và đội ngũ y tế. TS.BS Nguyễn Hoàng Bình, Trưởng khoa Ngoại Lồng ngực, Bệnh viện Chợ Rẫy, tại hội nghị khoa học ngày 2/10. Ảnh: Bệnh viện cung cấp Các yếu tố nguy cơ chính gồm hút thuốc lá, khói thuốc thụ động, ô nhiễm không khí, tiền sử gia đình và tiếp xúc lâu dài với môi trường độc hại. Ung thư phổi khi có triệu chứng như ho, đau ngực, đau lưng… thường là ở giai đoạn muộn, phần lớn người bệnh tình cờ phát hiện nhờ khám sức khỏe định kỳ. Người bình thường nên khám sức khỏe định kỳ hàng năm, đến bác sĩ đúng chuyên khoa khi có dấu hiệu bất thường. Bệnh nhân tuân thủ điều trị, không nghe theo các phương pháp dân gian truyền miệng, bỏ lỡ thời gian vàng, dẫn đến hậu quả đáng tiếc. https://vnexpress.net/robot-phau-thuat-mo-hy-vong-song-cho-nguoi-ung-thu-phoi-4946420.html Đọc thêm: Tuổi mắc ung thư phổi ở Việt Nam trẻ hơn thế giới 10 năm Sàng lọc tầm soát – chìa khóa chiến thắng ung thư phổi

PGS.TS Nguyễn Lân Hiếu: 5 sai lầm khi dùng thuốc chống đông

‘Dùng thuốc chống đông mà ngắt quãng hay uống bù hôm sau là sai lầm nghiêm trọng nhất’, PGS.TS Nguyễn Lân Hiếu nhấn mạnh. Ông chỉ ra loạt ngộ nhận phổ biến khiến việc điều trị kém hiệu quả, thậm chí nguy hiểm. Theo PGS.TS Nguyễn Lân Hiếu, Giám đốc Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, thuốc chống đông (kháng đông) là nhóm thuốc được sử dụng phổ biến cho bệnh nhân tim mạch. Tuy nhiên, ngay cả nhiều bác sĩ chuyên khoa cũng có thể nhầm lẫn khi chỉ định và theo dõi, khiến hiệu quả điều trị giảm, thậm chí tiềm ẩn nguy hiểm cho người bệnh. Phân biệt chống đông và chống ngưng tập tiểu cầu PGS.TS Nguyễn Lân Hiếu cho biết, cần phân biệt rõ thuốc chống đông đường uống (gồm kháng Vitamin K tổng hợp và thế hệ mới – NOAC) với thuốc chống ngưng tập tiểu cầu (Aspirin, Clopidogrel, Ticagrelor). Thuốc chống đông giúp ngăn hình thành cục máu đông trong buồng tim và mạch máu, trong khi thuốc chống ngưng tập tiểu cầu hạn chế hiện tượng máu đông ở những vết nứt, vỡ thành mạch. “Có thể hình dung: thuốc chống đông “đánh thẳng” vào quá trình tạo cục máu đông, còn thuốc chống ngưng tập tiểu cầu giống như ‘lực lượng vệ sinh’ làm sạch lòng mạch. Vì thế, việc dùng thuốc chống đông phức tạp hơn rất nhiều về chỉ định, theo dõi và chỉnh liều”, ông Hiếu giải thích. Không có liều cố định cho mọi bệnh nhân Một sai lầm phổ biến là cho rằng thuốc kháng Vitamin K tổng hợp luôn bắt đầu với liều 1 mg. Thực tế, đây chỉ là thói quen kê đơn. Liều lượng cần cá thể hóa dựa trên tuổi, cân nặng, tình trạng tim mạch… Có trường hợp phải chia nhỏ đến 1/8 viên, hoặc uống xen kẽ nhiều mức liều khác nhau. “Bác sĩ càng cẩn thận dò liều thì bệnh nhân càng có cơ hội đạt hiệu quả tối ưu”, ông Hiếu nhấn mạnh. Thuốc thế hệ mới vẫn cần theo dõi Nhiều người tin rằng thuốc chống đông thế hệ mới không cần theo dõi xét nghiệm. Nguyên tắc là đúng, nhưng nếu xuất hiện các dấu hiệu bất thường như chảy máu chân răng, xuất huyết dưới da…, người bệnh vẫn cần đi khám và xét nghiệm. Thực tế đã ghi nhận nhiều ca xuất huyết nội tạng, thậm chí xuất huyết não, khởi phát từ những triệu chứng rất mơ hồ khi dùng NOAC. Chế độ ăn và thủ thuật Một hiểu lầm khác là dùng thuốc kháng đông thì tuyệt đối không ăn cải xanh. Trên thực tế, chỉ cần hạn chế thực phẩm giàu Vitamin K khi hiệu quả điều trị chưa đạt. Ngược lại, nếu chỉ số INR quá cao, bác sĩ thậm chí còn khuyên ăn thêm cải xanh để cân bằng. Bên cạnh đó, quan niệm “đang dùng thuốc chống đông thì không được làm thủ thuật như nhổ răng, đặt implant” cũng không chính xác. Trong các trường hợp này, bác sĩ có thể ngừng thuốc uống, chuyển sang tiêm thuốc chống đông ngắn hạn như Enoxaparin, sau đó dừng trước thủ thuật 12 giờ. Với phẫu thuật cấp cứu, đã có các thuốc trung hòa chuyên biệt để xử trí. Sai lầm nghiêm trọng nhất: Ngừng thuốc hoặc uống bù PGS.TS Nguyễn Lân Hiếu cảnh báo: “Nhiều bệnh nhân cho rằng thuốc chống đông có thể dùng ngắt quãng, hoặc nếu quên thì uống bù hôm sau. Đây là sai lầm nguy hiểm nhất. Khi đang dùng mà ngừng đột ngột, nguy cơ đông máu tăng vọt (thrombosis rebound). Nếu quên, tuyệt đối không được uống bù. Đây là nguyên tắc quan trọng nhất trong điều trị”. Nguyễn Hà/VOV.VN http://hibaomoi.com/pgs-ts-nguyen-lan-hieu-5-sai-lam-khi-dung-thuoc-chong-dong-c53372932.epi?zdlink=Uo9XRcHoRsba8ZeYOszjBcLmQI8i8cblSo8wUo9pOsXbRMLVTN9i8ZeYUc5iRoqsDJ4vDpaqDZOwN2zSBo8i8c5mS6ba8ZeYDZKnEJSvD3Os8drz

Biến chứng nguy hiểm hẹp van động mạch chủ và cách điều trị

Động mạch chủ là động mạch lớn nhất trong cơ thể đưa máu từ tim đi nuôi toàn bộ cơ thể. Hẹp van động mạch chủ có thể dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm đe doạ tính mạng như: suy tim, đột tử… Động mạch chủ là động mạch lớn nhất trong cơ thể đưa máu từ tim đi nuôi toàn bộ cơ thể. Van động mạch chủ là lá van ngăn cách giữa động mạch chủ và tâm thất trái. Hẹp van động mạch chủ là nguyên nhân thường gặp nhất gây tắc nghẽn đường tống máu của tâm thất trái. Biểu hiện của hẹp van động mạch chủ Nguyên nhân gây hẹp van động mạch chủ là do: thoái hoá van động mạch chủ; hẹp van động mạch chủ sau thấp tim; bệnh lý van động mạch chủ hai lá van; bệnh Paget, suy thận giai đoạn cuối… Biểu hiện kinh điển của hẹp van động mạch chủ là tam chứng: đau ngực, khó thở, ngất, thường xuất hiện khi hẹp nặng. Có thể xảy ra đột tử do rối loạn nhịp thất. Khám lâm sàng, bắt mạch sẽ thấy mạch nhỏ, nảy chậm (rõ nhất ở động mạch cảnh); nghe tim có tiếng thổi tâm thu tống máu ở phía trên bên phải xương ức, lan lên cổ, đạt cường độ cao nhất vào đầu đến giữa tâm thu. Biến chứng hẹp van động mạch chủ Hẹp van động mạch chủ có thể dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm đe doạ tính mạng: Suy tim. Rối loạn nhịp tim: rối loạn nhịp thất (Ngoại tâm thu, nhịp nhanh thất, rung thất,…), rối loạn nhịp nhĩ (Rung nhĩ hay gây ra các đợt suy tim cấp do mất cơ chế bóp bù của tâm nhĩ, giảm lưu lượng nhĩ – thất, giảm cung lượng tim). Đột tử. Tắc mạch do các mảnh vôi hóa, xơ vữa, mảnh sùi… Hội chứng vành cấp. Điều trị hẹp van động mạch chủ Điều trị hẹp van động mạch chủ gồm: Điều trị nội khoa Chưa có phương pháp điều trị nội khoa nào được chứng minh là có thể ngăn ngừa quá trình tiến triển của bệnh hay cải thiện tiên lượng bệnh. Một số thuốc (lợi tiểu, chẹn beta giao cảm, …) có thể giúp cải thiện triệu chứng của bệnh. Phẫu thuật thay van động mạch chủ cơ học hoặc sinh học Là phương pháp điều trị hiệu quả với tỷ lệ tử vong quanh phẫu thuật là 1%, biến chứng sau phẫu thuật là 1%/năm tại các trung tâm có nhiều kinh nghiệm, tuy nhiên số liệu từ những nghiên cứu sổ bộ quốc gia cho thấy tỷ lệ tử vong quanh phẫu thuật khoảng 3%. Van sinh học nên được lựa chọn cho những bệnh nhân lớn tuổi, và cũng có thể được sử dụng ở những bệnh nhân trẻ tuổi nếu muốn tránh nguy cơ huyết khối hoặc xuất huyết (ước tính khoảng 2 – 4 %/ năm). Nong van động mạch chủ bằng bóng qua da Chỉ là phương pháp điều trị thay thế tạm thời cho phẫu thuật hoặc thay van động mạch chủ qua đường ống thông đối với bệnh nhân hẹp van động mạch chủ nặng vì biến chứng xung quanh thủ thuật và tỷ lệ tái hẹp cao. Thay van động mạch chủ qua đường ống thông (TAVI) Thay van động mạch chủ qua đường ống thông là thủ thuật xâm lấn tối thiểu như một phương pháp thay thế cho phẫu thuật thay van nhân tạo đối với những bệnh nhân hẹp van động mạch chủ nặng có chỉ định thay van với chỉ định ngày càng được mở rộng. https://suckhoedoisong.vn/bien-chung-nguy-hiem-hep-van-dong-mach-chu-va-cach-dieu-tri-169250928180318394.htm

Bệnh viện Bắc Thăng Long điều trị thành công ca bệnh Whitmore

Bệnh nhân nam N.V.Q (60 tuổi), địa chỉ Sơn Đoài, xã Sóc Sơn Hà Nội, có tiền sử lạm dụng rượu, xơ gan. Cách ngày vào cấp cứu viện 2 tháng, bệnh nhân xuất hiện triệu chứng sốt cao, mệt mỏi về chiều, bệnh nhân tự uống thuốc hạ sốt thấy đỡ hơn, sau đó thỉnh thoảng sốt lại 2, 3 ngày rồi lại tự hết sốt, kèm theo mệt mỏi, chán ăn, gầy sút cân (khoảng 7,5 kg/ 2 tháng), bệnh nhân đã đi khám tại một số bệnh viện tuyến TW và được chẩn đoán: Viêm trào ngược dạ dày, tăng men gan, kê đơn thuốc điều trị tại nhà. Về nhà 1 tuần bệnh nhân đi ngoài phân lỏng 3 đến 4 lần/ ngày, sốt cao rét run, ho, mệt nhiều. Ngày 2/9/2025, bệnh nhân vào bệnh viện Bắc Thăng Long khám và điều trị. Bệnh nhân được khám và làm các xét nghiệm cận lâm sàng, cấy máu và định danh vi khuẩn và chẩn đoán xác định nhiễm khuẩn huyết do vi khuẩn Burkholderia pseudomallei (bệnh Whitmore).   Sau điều trị 5 ngày bằng kháng sinh, truyền dịch, điều trị triệu chứng, đến hiện tại bệnh nhân hết sốt, không đi ngoài, không nôn, đỡ mệt, ăn uống được. BSCKII. Nguyễn Quốc Tế, Trưởng khoa Hồi sức tích cực cho biết, bệnh Whitmore (hay còn gọi bệnh Melioidosis) là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở người và động vật do vi khuẩn Burkholderia pseudomallei gây ra. Bệnh có biểu hiện lâm sàng rất đa dạng, khó chẩn đoán và tỷ lệ tử vong cao, nhất là ở những trường hợp viêm phổi nặng, nhiễm trùng huyết và sốc nhiễm trùng. Bệnh lây truyền chủ yếu do tiếp xúc với nguồn đất, nước có chứa vi khuẩn qua các vết trầy xước ngoài da. Những người có sức đề kháng bị suy giảm, có bệnh lý nền như đái tháo đường, nghiện rượu, bệnh gan, thận, bệnh phổi mạn tính có nguy cơ mắc bệnh cao. Hiện chưa có vắc xin phòng bệnh Whitmore. Khi nghi ngờ nhiễm bệnh cần đến cơ sở y tế chuyên sâu để được tư vấn, khám, phát hiện và điều trị kịp thời. Để dự phòng bệnh, cần chú ý đảm bảo vệ sinh cá nhân, thường xuyên rửa tay với xà phòng và nước sạch; thực hiện ăn chín, uống nước đun sôi để nguội, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm; hạn chế tiếp xúc trực tiếp với đất, nước bẩn, đặc biệt tại những nơi bị ô nhiễm nặng… Phòng CTXH  

Bác sĩ chỉ dấu hiệu phân biệt giữa đột tử và đột quỵ

Đột tử và đột quỵ đều diễn tiến đột ngột, nếu không được cấp cứu kịp thời sẽ dẫn đến tử vong hoặc di chứng của thiếu oxy não kéo dài không hồi phục. Theo ThS.BS Đoàn Dư Mạnh, Thành viên Hội Bệnh mạch máu Việt Nam, điểm giống nhau giữa đột quỵ và đột tử tim là đều thấy người bệnh đột nhiên ngã quỵ và mất ý thức, nếu không được cấp cứu kịp thời sẽ dẫn đến tử vong hoặc di chứng của thiếu oxy não kéo dài không hồi phục. “Đột quỵ và đột tử tim là đều rất nguy hiểm, cần phải xử trí càng sớm càng tốt”… Bác sĩ Mạnh chỉ ra cách phân biệt bệnh nhân đột quỵ, đột tử và hướng xử trí kịp thời khi phát hiện. Dấu hiệu nhận biết Đột tử: Bệnh nhân đột ngột ôm ngực (nhiều người sau cấp cứu mô tả đau dữ dội như tảng đá đè lên ngực), ngã gục và mất ý thức rất nhanh, nếu có kiến thức nghe tim hoặc bắt mạch cảnh mạch bẹn thấy mất mạch. Dấu hiệu của đột tử là bệnh nhân đột ngột ôm ngực, ngã gục và mất ý thức rất nhanh. Hình minh họa Đột quỵ não: Bệnh nhân có thể đau đầu dữ dội hoặc nói khó, méo miệng, yếu hoặc mất cảm giác 1/2 người. Một số trường hợp còn đại tiểu tiện không tự chủ, sau đó ngất, rồi đến mất ý thức, nếu phát hiện sớm kiểm tra tim và mạch vẫn còn đập, muộn có thể thấy mất mạch, ngừng tim. Nguyên nhân Đột tử: Tim ngừng đột ngột 2/3 từ nhồi máu cơ tim do xơ vữa mạch vành, ngoài ra do các bệnh như viêm cơ tim, huyết khối trong tim, shock tim, rung thất, các bất thường điện tim hội chứng Brugada, block nhĩ thất… Đột quỵ não: 2/3 từ nhồi máu não huyết khối gây tắc mạch não do xơ vữa mạch bong ra trôi lên não, gây tắc hoặc huyết khối từ tim văng lên gây tắc mạch. 1/3 từ xuất huyết não do huyết áp tăng đột ngột, làm vỡ túi phình mạch não có từ trước gây xuất huyết. Các triệu chứng chính Đột tử: Diễn biến cực nhanh, đau ngực như mô tả ở trên, khó thở, mất ý thức, mất mạch tim rất nhanh. Đột quỵ: Nhận diện nhanh các triệu chứng điển hình của đột quỵ thông qua nguyên tắc F.A.S.T: – Méo miệng (Face Drooping – F): Méo miệng một bên, biểu hiện rõ nhất khi cười, nhe răng, đôi khi có cảm giác tê một bên mặt. – Yếu liệt tay chân (Arm weakness – A): Một bên tay chân yếu, liệt hay mất cảm giác; tay rơi xuống khi được yêu cầu đưa lên cao, một tay rơi xuống. – Ngôn ngữ bất thường (Speech difficulty – S): Không thể nói, không thể hiểu lời nói. Có thể yêu cầu người bệnh lặp lại một câu nói đơn giản để xem họ có thể lặp lại được hay không. – Thời gian (Timing – T): Thời gian là sự sống còn của não, vì vậy bệnh nhân cần được đưa đến cơ sở y tế sớm nhất. Tri giác có thể bất thường, nhưng kiểm tra tim vẫn còn đập, mạch còn nảy. Cơ quan tổn thương Đột tử: Ảnh hưởng toàn bộ cơ thể do tim ngừng đập, mất cấp máu đến toàn bộ cơ thể. Đột quỵ: Bị ảnh hưởng 1/2 cơ thể như méo miệng một bên, yếu liệt một bên trái hoặc phải cơ thể, đương nhiên kéo dài cũng bị toàn bộ và tử vong. Xử trí Đột tử: Cần lập tức ép tim cấp cứu, song song với gọi 115, hồi sinh tim phổi càng sớm càng tốt. Quá 5′ não thiếu oxy sẽ tổn thương không phục hồi. Đột quỵ: Gọi 115 càng sớm càng tốt, đến cơ sở chuyên khoa có đơn vị đột quỵ cấp cứu trong thời gian “vàng” (< 6 tiếng) càng sớm càng tốt, nếu mất mạch tim mới ép tim trong quá trình đợi 115. Tỷ lệ tử vong Đột tử: Rất cao, lên đến hơn 90%. Đột quỵ: Nếu không cấp cứu kịp cũng có nguy cơ tử vong cao, nhưng thấp hơn đột tử. Phòng ngừa Đột tử: Cần có lối sống lành mạnh, tập thể thao, bỏ thuốc lá, bỏ rượu bia, giảm cân nếu thừa cân, kiểm soát huyết áp, rối loạn lipid máu, tiểu đường, kiểm tra sức khoẻ định kỳ, đặc biệt chú ý vấn đề tim mạch: điện tim, siêu âm tim, chụp mạch vành nếu có nguy cơ cao hoặc tiền sử hẹp mạch vành bằng DSA, CT Photon. Đột quỵ: Kiểm soát lối sống (tương tự phòng ngừa đột tử), kiểm tra sức khoẻ định kỳ, đặc biệt ở người có nguy cơ cao hoặc tiền sử từng đột quỵ: điện tim, siêu âm tim, siêu âm mạch cảnh, chụp mạch não bằng MRI hoặc CT Photon. Lưu ý thêm, cả hai tình trạng đều cần được cấp cứu ngay lập tức. Quy tắc F.A.S.T giúp nhận biết đột quỵ não nhanh chóng. Với đột tử tim, triệu chứng đau ngực và ngất xỉu là dấu hiệu cần hành động ngay. Đặc biệt, không nhầm lẫn với trúng gió (đi cạo gió) hoặc cấp cứu theo kiểu truyền miệng như chích máu đầu ngón tay. https://daibieunhandan.vn/bac-si-chi-dau-hieu-phan-biet-giua-dot-tu-va-dot-quy-10383093.html

Đặt Lịch Khám

    Đặt Lịch Khám