BỆNH VIỆC BẮC THĂNG LONG
BẮC THĂNG LONG HOSPITAL

(84-24).0889.615.815

Email: bvbtl@hanoi.gov.vn

BỆNH VIỆC BẮC THĂNG LONG
BẮC THĂNG LONG HOSPITAL

PHÁP LUẬT - ĐỜI SỐNG

Pháp luật - Đời sống

Mức xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm về bảo vệ dữ liệu cá nhân

Chính phủ ban hành Nghị định số 330/2026/NĐ-CP ngày 19/8/2026 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Trong đó, đáng chú ý là quy định xử lý các hành vi vi phạm liên quan đến bảo vệ dữ liệu cá nhân. Nghị định này gồm 4 chương, 82 điều quy định về hành vi vi phạm hành chính; hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc và hành vi vi phạm hành chính đang thực hiện; hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính; đối tượng bị xử phạt; thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền cụ thể theo từng chức danh và thẩm quyền lập biên bản đối với vi phạm hành chính; việc thi hành các hình thức xử phạt vi phạm hành chính, các biện pháp khắc phục hậu quả trong từng lĩnh vực an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Các hành vi vi phạm hành chính khác có liên quan đến lĩnh vực an ninh mạng và lĩnh vực bảo vệ dữ liệu cá nhân nhưng không được quy định tại Nghị định này thì áp dụng theo quy định tại các nghị định đó của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước có liên quan để xử phạt. Trường hợp một hành vi đồng thời vi phạm quy định của Nghị định này và nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước khác, cơ quan có thẩm quyền phải xác định đúng bản chất hành vi và căn cứ pháp lý để áp dụng xử phạt. Trường hợp hành vi đồng thời được quy định tại Nghị định này và nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước khác thì áp dụng Nghị định này nếu hành vi vi phạm trên lĩnh vực an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân; trường hợp dấu hiệu cấu thành hành vi vi phạm nghĩa vụ, trách nhiệm, điều cấm khác thuộc phạm vi quản lý nhà nước chuyên ngành khác thì áp dụng nghị định của lĩnh vực đó. Đối tượng, nguyên tắc áp dụng 1. Cá nhân, tổ chức Việt Nam; cá nhân, tổ chức nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong phạm vi lãnh thổ, vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trên tàu bay mang quốc tịch Việt Nam, tàu biển mang cờ quốc tịch Việt Nam (sau đây gọi là cá nhân, tổ chức), trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác. 2. Tổ chức quy định tại khoản 1 nêu trên bao gồm: a) Doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, các đơn vị phụ thuộc doanh nghiệp; b) Tổ chức được thành lập theo quy định của Luật Hợp tác xã; c) Tổ chức được thành lập theo quy định của Luật Đầu tư; d) Tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, các tổ chức xã hội khác; đ) Doanh nghiệp nước ngoài hoặc chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp nước ngoài cung cấp dịch vụ viễn thông, Internet, dịch vụ cung cấp nội dung trên không gian mạng, công nghệ thông tin, an ninh mạng, cung cấp dịch vụ xuyên biên giới; cơ quan, tổ chức nước ngoài trực tiếp tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động xử lý dữ liệu cá nhân của công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch đang sinh sống tại Việt Nam đã được cấp giấy chứng nhận căn cước; e) Điểm cung cấp dịch vụ viễn thông, trò chơi điện tử công cộng, truy nhập Internet công cộng; g) Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nội dung thông tin trên mạng viễn thông di động và không gian mạng; h) Đơn vị sự nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức phi chính phủ nước ngoài sử dụng tần số vô tuyến điện; i) Nhà đăng ký tên miền; tổ chức, doanh nghiệp đăng ký tên miền; k) Chủ quản hệ thống thông tin và đơn vị vận hành hệ thống thông tin; l) Tổ chức khác theo quy định của pháp luật. 3. Hộ kinh doanh, hộ gia đình, cộng đồng dân cư thực hiện hành vi vi phạm hành chính quy định tại Nghị định này bị áp dụng mức phạt tiền như đối với cá nhân vi phạm hành chính. 4. Bộ Quốc phòng quản lý về an ninh mạng đối với nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; Bộ Công an quản lý về an ninh mạng đối với các đơn vị quân đội có hoạt động dân sự, kinh tế theo thẩm quyền; đối với các nội dung giao thoa (nếu có), Bộ Công an và Bộ Quốc phòng thống nhất quy chế phối hợp. Xử phạt hành chính đối với các vi phạm về bảo vệ dữ liệu cá nhân Về bảo vệ dữ liệu cá nhân, Nghị định quy định xử phạt hành chính đối với các vi phạm quy định về: Nguyên tắc bảo vệ dữ liệu cá nhân và các hành vi bị nghiêm cấm; lợi dụng hoạt động bảo vệ dữ liệu cá nhân để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật; xử lý dữ liệu cá nhân gây ảnh hưởng đến an

Góc nhìn pháp lý vụ “phù phép” lợn bệnh thành đồ hộp

Trong quá trình giải quyết vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng cũng sẽ đánh giá đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị can. Những ngày qua, vụ việc Công an TP Hải Phòng triệt phá đường dây tiêu thụ thịt lợn nhiễm bệnh, “phù phép” thành các sản phẩm thịt đóng hộp xảy ra tại Công ty CP Đồ hộp Hạ Long, thu giữ 130 tấn thịt lợn trong đó có 120 tấn thịt nhiễm bệnh dịch tả lợn châu Phi khiến nhiều người không khỏi hoang mang, bức xúc. Dưới các bài viết của Dân trí, nhiều người mong muốn cơ quan chức năng xét xử mức án nghiêm khắc nhất đối với 9 đối tượng đã bị khởi tố trong đường dây. Vậy dưới góc độ pháp lý, khung hình phạt có thể áp dụng đối với tội danh trong vụ việc này ra sao? Theo Điều 317 Bộ luật Hình sự 2015, người thực hiện một trong các hành vi sau sẽ bị xử lý hình sự về tội Vi phạm quy định về an toàn thực phẩm: Thứ nhất, sử dụng các loại chất mà biết là cấm sử dụng hoặc ngoài danh mục được sử dụng trong sản xuất thực phẩm mà sản phẩm trị giá từ 10 triệu đồng trở lên hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý hình sự về hành vi này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; Thứ hai, sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc bị tiêu hủy để chế biến thực phẩm hoặc cung cấp, bán thực phẩm mà biết là có nguồn gốc từ nhóm động vật nêu trên mà sản phẩm trị giá từ 10 triệu đồng trở lên hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý hình sự về hành vi này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; Thứ ba, sử dụng các loại chất mà biết là chưa được phép sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành tại Việt Nam trong sản xuất thực phẩm mà sản phẩm trị giá từ 100 triệu đồng trở lên hoặc từ 50 triệu đồng trở lên nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý hình sự về hành vi này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; Thứ tư, nhập khẩu, cung cấp hoặc bán thực phẩm mà biết là có sử dụng các loại chất cấm sử dụng hoặc ngoài danh mục được phép sử dụng trị giá từ 10 triệu đồng trở lên; thu lợi bất chính từ 5 triệu đồng trở lên; đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc đã bị kết án về hành vi này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; Thứ năm, nhập khẩu, cung cấp hoặc bán thực phẩm mà biết là có sử dụng các chất chưa được phép sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành tại Việt Nam trị giá từ 100 triệu đồng trở lên; thu lợi bất chính từ 50 triệu đồng trở lên; thực phẩm trị giá từ 50 triệu đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính từ 20 triệu đồng trở lên nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc kết án về hành vi này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; Thứ sáu, thực hiện một trong các hành vi nêu trên hoặc chế biến, cung cấp, bán thực phẩm mà biết là không bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật, quy định về an toàn thực phẩm gây ngộ độc, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của từ 5 người trở lên hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác từ 31% trở lên. Tùy thuộc các yếu tố như mức độ thiệt hại về tài sản, sức khỏe, tính mạng con người, tổng giá trị thực phẩm không đảm bảo hay số tiền thu lợi bất chính, người phạm tội có thể bị áp dụng các tình tiết định khung theo quy định tại Điều 317 Bộ luật Hình sự 2015. Đối với các tình tiết quy định tại khoản 4 Điều này, việc xử lý hình sự sẽ được áp dụng nếu hành vi thuộc các tình tiết định khung như làm chết 3 người trở lên; gây ngộ độc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của 201 người trở lên; thực phẩm có giá trị 500 triệu đồng trở lên; thu lợi bất chính 300 triệu đồng trở lên hay thực phẩm có sử dụng nguyên liệu là động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy trị giá 500 triệu đồng trở lên. Khung hình phạt có thể áp dụng theo khoản này là phạt tù 12-20 năm. Như vậy, với việc Công an TP Hải Phòng khởi tố bị can về tội Vi phạm quy định về an toàn thực phẩm theo khoản 4, Điều 317 Bộ luật Hình sự 2015, người phạm tội có thể bị truy tố với khung hình phạt là 12-20 năm tù. Ngoài ra, theo Điều 54 Bộ luật Hình sự 2015, trong quá trình giải quyết Vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng cũng sẽ đánh giá đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị can. Nếu bị can có từ 2 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, căn cứ Điều 54 Bộ luật Hình sự 2015, cơ quan tiến hành tố tụng có thể áp dụng mức phạt thấp hơn so với mức phạt về tội danh bị xử lý theo quy định của pháp luật. https://dantri.com.vn/ban-doc/goc-nhin-phap-ly-vu-phu-phep-lon-benh-thanh-do-hop-20260109174006506.htm

Bộ Y tế ban hành danh mục 35 bệnh nghề nghiệp được hưởng BHXH

Bộ Y tế vừa ban hành Thông tư 60/2025/TT-BYT quy định về bệnh nghề nghiệp được hưởng BHXH và hướng dẫn chẩn đoán, giám định mức suy giảm khả năng lao động do bệnh nghề nghiệp. Nhóm bệnh STT Tên bệnh nghề nghiệp I. Bệnh bụi phổi – đường hô hấp 1 Bệnh bụi phổi silic nghề nghiệp 2 Bệnh bụi phổi amiăng nghề nghiệp 3 Bệnh bụi phổi bông nghề nghiệp 4 Bệnh bụi phổi talc nghề nghiệp 5 Bệnh bụi phổi than nghề nghiệp 6 Bệnh viêm phế quản mạn tính nghề nghiệp 7 Bệnh hen nghề nghiệp II. Bệnh nhiễm độc hóa chất, kim loại nặng 8 Bệnh nhiễm độc chì nghề nghiệp 9 Bệnh nhiễm độc nghề nghiệp do benzen và đồng đẳng 10 Bệnh nhiễm độc thủy ngân nghề nghiệp 11 Bệnh nhiễm độc mangan nghề nghiệp 12 Bệnh nhiễm độc 2,4,6-Trinitrotoluen (TNT) nghề nghiệp 13 Bệnh nhiễm độc arsenic nghề nghiệp 14 Bệnh nhiễm độc hóa chất bảo vệ thực vật nghề nghiệp (nhóm phosphor hữu cơ và carbamat) 15 Bệnh nhiễm độc nicotin nghề nghiệp 16 Bệnh nhiễm độc carbon monoxide nghề nghiệp 17 Bệnh nhiễm độc cadmi nghề nghiệp III. Bệnh do yếu tố vật lý 18 Bệnh điếc nghề nghiệp do tiếng ồn 19 Bệnh giảm áp nghề nghiệp 20 Bệnh nghề nghiệp do rung toàn thân 21 Bệnh nghề nghiệp do rung cục bộ 22 Bệnh phóng xạ nghề nghiệp 23 Bệnh đục thể thủy tinh nghề nghiệp IV. Bệnh da nghề nghiệp 24 Bệnh nốt dầu nghề nghiệp 25 Bệnh sạm da nghề nghiệp 26 Bệnh viêm da tiếp xúc nghề nghiệp do crôm 27 Bệnh da nghề nghiệp do tiếp xúc môi trường ẩm ướt, lạnh kéo dài 28 Bệnh da nghề nghiệp do tiếp xúc với cao su tự nhiên và hóa chất phụ gia cao su V. Bệnh truyền nhiễm liên quan nghề nghiệp 29 Bệnh Leptospira nghề nghiệp 30 Bệnh viêm gan vi rút B nghề nghiệp 31 Bệnh lao nghề nghiệp 32 Nhiễm HIV do tai nạn rủi ro nghề nghiệp 33 Bệnh viêm gan vi rút C nghề nghiệp VI. Bệnh ung thư, bệnh đặc biệt 34 Bệnh ung thư trung biểu mô nghề nghiệp 35 Bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona (COVID-19) nghề nghiệp Thông tư là căn cứ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm quyền lợi cho người lao động bị ảnh hưởng sức khỏe do điều kiện lao động, đồng thời thay thế các quy định trước đây đã không còn phù hợp. 35 bệnh nghề nghiệp được hưởng BHXH Theo Điều 3 Thông tư 60/2025/TT-BYT, Danh mục bệnh nghề nghiệp được hưởng BHXH gồm 35 bệnh, chia thành 6 nhóm chính. Nhóm bệnh bụi phổi – đường hô hấp gồm 7 bệnh như: bụi phổi silic, bụi phổi amiăng, bụi phổi than, viêm phế quản mạn tính nghề nghiệp, hen nghề nghiệp… Nhóm bệnh nhiễm độc hóa chất, kim loại nặng gồm 10 bệnh, trong đó có nhiễm độc chì, benzen, thủy ngân, mangan, arsenic, cadmi, carbon monoxide… Nhóm bệnh do yếu tố vật lý gồm 6 bệnh như điếc nghề nghiệp do tiếng ồn, bệnh giảm áp, bệnh do rung toàn thân, rung cục bộ, phóng xạ nghề nghiệp, đục thể thủy tinh nghề nghiệp. Nhóm bệnh da nghề nghiệp gồm 5 bệnh liên quan đến tiếp xúc hóa chất, môi trường ẩm ướt, lạnh kéo dài hoặc cao su tự nhiên. Nhóm bệnh truyền nhiễm liên quan nghề nghiệp gồm 5 bệnh như lao nghề nghiệp, viêm gan B, viêm gan C nghề nghiệp, nhiễm HIV do tai nạn rủi ro nghề nghiệp. Nhóm bệnh ung thư, bệnh đặc biệt gồm ung thư trung biểu mô nghề nghiệp và COVID-19 nghề nghiệp. Nguyên tắc chẩn đoán, điều trị và giám định Thông tư 60/2025/TT-BYT quy định, người lao động sau khi được chẩn đoán mắc bệnh nghề nghiệp phải hạn chế tiếp xúc với yếu tố gây bệnh, được điều trị theo hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế; các bệnh nhiễm độc nghề nghiệp phải được thải độc, giải độc kịp thời. Người sử dụng lao động có trách nhiệm giới thiệu người lao động đi khám giám định y khoa để xác định mức suy giảm khả năng lao động, làm căn cứ hưởng chế độ BHXH; đồng thời bảo đảm việc điều trị, điều dưỡng, phục hồi chức năng theo quy định. Một số bệnh nghề nghiệp không có khả năng điều trị ổn định và các trường hợp ung thư liên quan nghề nghiệp phải chuyển giám định ngay để bảo đảm quyền lợi cho người lao động. Căn cứ bổ sung bệnh nghề nghiệp vào danh mục Theo Thông tư, việc bổ sung bệnh nghề nghiệp được hưởng BHXH dựa trên các tiêu chí như: Xác định được mối liên hệ giữa yếu tố có hại trong lao động với bệnh cụ thể; Tỉ lệ mắc bệnh ở nhóm lao động tiếp xúc cao hơn nhóm không tiếp xúc; Bệnh đã được quốc tế công nhận là bệnh nghề nghiệp, dù chưa đủ điều kiện nghiên cứu tại Việt Nam. Đáng chú ý, nhiều bệnh có thể xuất hiện sau nhiều năm tiếp xúc, kể cả khi người lao động đã nghỉ hưu hoặc chuyển sang công việc khác. Thông tư 60/2025/TT-BYT có hiệu lực từ ngày 15/2/2026, đồng thời bãi bỏ Thông tư 15/2016/TT-BYT và Thông tư 02/2023/TT-BYT về bệnh nghề nghiệp được hưởng BHXH. Việc ban hành Thông tư mới được kỳ vọng sẽ nâng cao hiệu quả quản lý bệnh nghề nghiệp, đồng thời giúp người lao động không bỏ sót quyền lợi BHXH chính đáng của mình./. https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/linh-vuc-bao-hiem-y-te.aspx?ItemID=25982&CateID=169  

Điểm mới tại Thông tư 01/2025/TT-BYT về khám chữa bệnh BHYT (tham khảo)

Thông tư 01 hướng dẫn một số điều của Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi năm 2024 với nhiều quy định liên quan trực tiếp tới quyền lợi của người bệnh, đặc biệt là những người mắc các bệnh ung thư, bệnh hiểm nghèo từ 01/01/2025. 1. Từ 01/01/2025, người mắc bệnh hiểm nghèo không cần giấy chuyển viện Theo quy định trước đây, nếu muốn điều trị tại tuyến trên, người bệnh phải xin giấy chuyển tuyến hàng năm, vì cứ 31/12 hàng năm là hết hạn giấy chuyển tuyến được bảo hiểm y tế (BHYT) chi trả, khiến người bệnh buộc phải làm thủ tục xin chuyển tuyến, rất vất vả, và nhiều khi phải đi lại xa xôi… Tuy nhiên, từ 01/01/2025, người bệnh đã được chẩn đoán mắc bệnh hiếm, bệnh hiểm nghèo, bệnh cần sử dụng kỹ thuật cao thuộc danh mục 62 bệnh hiếm, bệnh hiểm nghèo được ban hành tại Phụ lục I Thông tư 01/2025/TT-BYT có thể đến thẳng cơ sở y tế chuyên sâu để điều trị mà không cần phải xin giấy chuyển viện như trước đây. Cụ thể, danh mục 62 bệnh hiếm, bệnh hiểm nghèo gồm (tham khảo): STT Tên bệnh, nhóm bệnh và các trường hợp Tình trạng, điều kiện 1. Viêm màng não do lao (G01*) 2. U lao màng não (G07*) 3. Lao khác của hệ thần kinh 4. Lao hệ thần kinh, không xác định (G99.8*) 5. Nhiễm mycobacteria ở phổi 6. Nhiễm histoplasma capsulatum ở phổi cấp tính 7. Nhiễm nấm blastomyces ở phổi cấp tính 8. Nhiễm nấm paracoccidioides ở phổi 9. Nhiễm sporotrichum ở phổi (J99.8*) 10. Nhiễm aspergillus ở phổi xâm lấn 11. Nhiễm cryptococcus ở phổi 12. Nhiễm mucor ở phổi 13. Nhiễm mucor lan toả 14. U ác tụy Người bệnh được hưởng quyền lợi ngay trong lượt khám bệnh, chữa bệnh có kết quả chẩn đoán xác định mắc bệnh. 15. U ác tuyến ức Người bệnh được hưởng quyền lợi ngay trong lượt khám bệnh, chữa bệnh có kết quả chẩn đoán xác định mắc bệnh. 16. U ác của tim, trung thất và màng phổi Người bệnh được hưởng quyền lợi ngay trong lượt khám bệnh, chữa bệnh có kết quả chẩn đoán xác định mắc bệnh. 17. U ác của xương và sụn khớp ở vị trí khác và không xác định Người bệnh được hưởng quyền lợi ngay trong lượt khám bệnh, chữa bệnh có kết quả chẩn đoán xác định mắc bệnh. 18. U ác của mãng não Người bệnh được hưởng quyền lợi ngay trong lượt khám bệnh, chữa bệnh có kết quả chẩn đoán xác định mắc bệnh. 19. U ác của não Người bệnh được hưởng quyền lợi ngay trong lượt khám bệnh, chữa bệnh có kết quả chẩn đoán xác định mắc bệnh. 20. U ác của tủy sống, dây thần kinh sọ và các phần khác của hệ thần kinh trung ương Người bệnh được hưởng quyền lợi ngay trong lượt khám bệnh, chữa bệnh có kết quả chẩn đoán xác định mắc bệnh. 21. U ác thứ phát của não và màng não Người bệnh được hưởng quyền lợi ngay trong lượt khám bệnh, chữa bệnh có kết quả chẩn đoán xác định mắc bệnh. 22. Nhóm u ác tính Có đủ 02 điều kiện sau đây: – Người dưới 18 tuổi. – Không áp dụng đối với trường hợp đã được chẩn đoán xác định nhưng không có chỉ định điều trị đặc hiệu. 23. U ác của hệ lympho, hệ tạo máu và các mô liên quan Không áp dụng đối với trường hợp đã được chẩn đoán xác định nhưng không có chỉ định điều trị đặc hiệu. 24. Hội chứng loạn sản tủy xương Không áp dụng đối với trường hợp đã được chẩn đoán xác định nhưng không có chỉ định điều trị đặc hiệu. 25. Các thể suy tủy xương khác Không áp dụng đối với trường hợp đã được chẩn đoán xác định nhưng không có chỉ định điều trị đặc hiệu. 26. Bệnh tăng đông máu khác (Hội chứng kháng phospho lipid) 27. Hội chứng thực bào tế bào máu liên quan đến nhiễm trùng 28. Bệnh đái tháo đường phụ thuộc insuline (Có đa biến chứng) Có biến chứng loét bàn chân độ 2 hoặc có bệnh thận mạn giai đoạn 3 trở lên hoặc có ít nhất 02 trong số các biến chứng: tim mạch, mắt, thần kinh, mạch máu. 29. Bệnh đái tháo đường không phụ thuộc insuline (Có đa biến chứng) Có biến chứng loét bàn chân độ 2 hoặc có bệnh thận mạn giai đoạn 3 trở lên. 30. Rối loạn chuyển hóa acid amin thơm Người dưới 18 tuổi. 31. Rối loạn chuyển hóa acid amin chuỗi nhánh và rối loạn chuyển hóa acid béo Người dưới 18 tuổi. 32. Các rối loạn khác của chuyển hóa acid amin Người dưới 18 tuổi. 33. Nhóm rối loạn dự trữ thể tiêu bào (Bệnh Pompe, bệnh MPS, Bệnh Gaucher, Bệnh Fabry) Người bệnh được hưởng quyền lợi ngay trong lượt khám bệnh, chữa bệnh có kết quả chẩn đoán xác định mắc bệnh. 34. Rối loạn chuyển hóa đồng (bao gồm cả bệnh Wilson) Bệnh Wilson có biến chứng (có một trong các biến chứng của xơ gan, suy gan cấp, tối cấp, suy thận cấp, rối loạn vận động, rối loạn vận ngôn, rối loạn tâm thần, sa sút trí tuệ, động kinh bệnh cơ tim, rối loạn nhịp tim). 35. Thoái hóa dạng bột Không áp dụng đối với trường hợp đã được chẩn đoán xác định nhưng không có chỉ định điều trị đặc hiệu. 36. Rối loạn trầm cảm tái diễn – Kháng thuốc. – Người bệnh được hưởng quyền lợi ngay trong lượt khám bệnh, chữa bệnh có kết quả chẩn đoán xác định mắc bệnh. 37. Rối loạn ám ảnh nghi thức 38. Viêm não, viêm tủy và viêm

Từ hôm nay, thu nhập bao nhiêu không phải đóng thuế?

Từ 1/1/2026, chính sách tăng mức giảm trừ gia cảnh cho cả người nộp thuế và người phụ thuộc có hiệu lực sẽ giúp hàng triệu người được giảm thuế thu nhập so với quy định hiện hành. Luật Thuế thu nhập cá nhân (sửa đổi) có hiệu lực thi hành từ 1/7/2026. Riêng các nội dung liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú sẽ được áp dụng ngay từ kỳ tính thuế năm 2026, tức là từ 1/1/2026. Thu nhập 17 triệu/tháng chưa phải nộp thuế thu nhập Một trong những điểm đáng chú ý nhất của Luật sửa đổi này là việc nâng mức giảm trừ gia cảnh cho bản thân người nộp thuế và người phụ thuộc. Cụ thể, theo quy định mới, mức giảm trừ đối với người nộp thuế tăng từ 11 triệu đồng lên 15,5 triệu đồng/tháng, tương đương 186 triệu đồng/năm; mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc tăng từ 4 triệu đồng lên 6,2 triệu đồng/tháng. Với mức giảm trừ gia cảnh mới, cá nhân không có người phụ thuộc có thu nhập dưới 17 triệu đồng/tháng (sau khi trừ các khoản bảo hiểm bắt buộc) sẽ được miễn thuế thu nhập cá nhân (TNCN) kể từ năm 2026. Trường hợp này, mức đóng bảo hiểm xã hội được tính trên toàn bộ thu nhập, tương ứng 10,5% (gồm 8% bảo hiểm xã hội, 1,5% bảo hiểm y tế và 1% bảo hiểm thất nghiệp), tương đương 1,785 triệu đồng/tháng. Tổng mức giảm trừ đạt 17,285 triệu đồng, cao hơn thu nhập chịu thuế nên cá nhân không phát sinh nghĩa vụ thuế. Tương tự, cá nhân có thu nhập 24 triệu đồng/tháng và 1 người phụ thuộc cũng không phải nộp thuế TNCN sau khi trừ các khoản bảo hiểm bắt buộc. Với trường hợp có 2 người phụ thuộc, cá nhân có thu nhập 31 triệu đồng/tháng sẽ chưa phải nộp thuế khi áp dụng biểu thuế lũy tiến từng phần theo quy định mới. Bên cạnh đó, Luật Thuế TNCN sửa đổi cũng mở rộng các khoản được giảm trừ, bao gồm các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo và các khoản chi cho y tế, giáo dục – đào tạo của người nộp thuế và người phụ thuộc. Các khoản chi này phải đáp ứng đầy đủ điều kiện về hóa đơn, chứng từ theo quy định và không được chi trả từ các nguồn khác. Biểu thuế rút gọn còn 5 bậc Một thay đổi đáng chú ý khác là việc thu gọn biểu thuế lũy tiến từng phần từ 7 bậc xuống còn 5 bậc, đồng thời nới rộng khoảng cách giữa các bậc thuế. Theo đó, các mức thuế suất lần lượt là 5%, 10%, 20%, 30% và 35%. Mức thuế suất 5% áp dụng cho thu nhập tính thuế đến 10 triệu đồng/tháng, trong khi mức cao nhất 35% áp dụng cho phần thu nhập vượt 100 triệu đồng/tháng. Biểu thuế mới được đánh giá là giúp tất cả cá nhân đang nộp thuế theo các bậc hiện hành đều được giảm nghĩa vụ thuế. Với biểu thuế mới, tất cả cá nhân đang thực hiện nộp thuế ở các bậc hiện nay đều được giảm nghĩa vụ thuế so với biểu thuế hiện hành. Biểu thuế mới cũng khắc phục việc tăng đột ngột tại một số bậc, đảm bảo tính hợp lý hơn của biểu thuế. Riêng với bậc 5, mức thuế suất vẫn là 35%. Bộ Tài chính cho biết đây là mức thuế suất trung bình, không quá cao cũng không thấp so với các nước trên thế giới cũng như trong khu vực ASEAN. Một số nước trong khu vực như Thái Lan, Indonesia, Philippines cũng đang quy định mức thuế suất ở bậc thuế cao nhất là 35%; Trung Quốc là 45%. Theo Bộ Tài chính, nếu điều chỉnh mức thuế suất cao nhất từ 35% xuống 30% như một số đề xuất, chính sách có thể bị nhìn nhận là ưu đãi thuế cho nhóm người giàu. Tăng thuế tiêu thụ đặc biệt với rượu, bia Ngoài Luật Thuế thu nhập cá nhân (sửa đổi), Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2025 cũng có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2026, với các chính sách hướng đến việc điều tiết tiêu dùng các mặt hàng có hại cho sức khỏe như hút thuốc, uống bia, rượu, tiêu thụ đường… Đối với mặt hàng thuốc lá, luật giữ nguyên mức thuế suất thuế tỷ lệ phần trăm hiện hành (75%) và bổ sung mức thuế tuyệt đối theo lộ trình 5 năm từ 2027 đến 2031. Đối với mặt hàng rượu, bia, Luật tăng thuế suất thuế tỷ lệ phần trăm theo lộ trình 5%/năm trong 5 năm 2027-2031. Đối với nước giải khát theo Tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) có hàm lượng đường trên 5 g/100 ml, luật quy định mức thuế suất 8% (từ năm 2027) và 10% (từ năm 2028). Đáng chú ý, theo quy định trước đó, tất cả điều hòa nhiệt độ công suất từ 90.000 BTU trở xuống đều thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt. Tuy nhiên, từ 1/1/2026, chỉ điều hòa nhiệt độ công suất trên 24.000 BTU đến 90.000 BTU mới thuộc đối tượng chịu thuế. https://znews.vn/tu-hom-nay-thu-nhap-bao-nhieu-khong-phai-dong-thue-post1615930.html

Công bố Lệnh của Chủ tịch nước về 14 luật và 1 pháp lệnh

Chiều 31/12, tại Phủ Chủ tịch, Văn phòng Chủ tịch nước tổ chức họp báo công bố Lệnh của Chủ tịch nước công bố các luật, pháp lệnh đã được Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XV thông qua. 14 luật và 1 pháp lệnh này gồm: Luật An ninh mạng; Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Luật Dẫn độ; Luật Phòng, chống ma túy; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Lý lịch tư pháp; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến an ninh trật tự; Luật Thi hành án hình sự; Luật Tương trợ tư pháp về hình sự; Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú; Luật Bảo vệ bí mật nhà nước; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp; Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân; Luật Tình trạng khẩn cấp; Luật Viên chức; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Cảnh sát môi trường. Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước, Trợ lý Chủ tịch nước Cấn Đình Tài, chủ trì Họp báo. Phân cấp, phân quyền, cắt giảm thủ tục hành chính Luật An ninh mạng có 8 chương, 45 điều. Luật hoàn thiện và thống nhất hệ thống khái niệm làm nền tảng cho quản lý và bảo vệ an ninh mạng, bao gồm, an ninh mạng, an ninh thông tin mạng, an ninh dữ liệu và không gian mạng quốc gia. Việc chuẩn hóa các khái niệm này giúp xác định rõ phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng của Luật, khắc phục tình trạng chồng chéo, phân tán trong các quy định trước đây; đồng thời tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho tổ chức thi hành và áp dụng pháp luật về an ninh mạng. Luật cũng đã bổ sung, cụ thể hóa các hành vi bị nghiêm cấm gắn với sự phát triển của khoa học, công nghệ và các phương thức hoạt động mới trên không gian mạng. Đồng thời, Luật hoàn thiện cơ chế bảo vệ an ninh mạng theo cấp độ đối với hệ thống thông tin. Quy định việc phân loại hệ thống thông tin theo 5 cấp độ an ninh mạng làm căn cứ áp dụng các biện pháp bảo vệ tương ứng với mức độ rủi ro… Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù có 4 chương, 48 điều. Việc ban hành Luật nhằm hoàn thiện pháp luật về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù theo hướng nhân đạo, toàn diện, cụ thể, đồng bộ, thống nhất, khả thi, ổn định, thúc đẩy hợp tác quốc tế trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; bảo đảm tốt hơn quyền con người của người đang chấp hành án phạt tù; góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý cho việc ký kết và thực hiện các điều ước quốc tế về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Luật quy định Bộ Công an là cơ quan Trung ương về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và quy định vai trò, nhiệm vụ của cơ quan Trung ương về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, trong đó có trách nhiệm lập yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Luật Dẫn độ có 4 chương, 45 điều. Luật Dẫn độ đã thể chế hóa quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về tăng cường hội nhập quốc tế, cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực tư pháp; tuân thủ Hiến pháp năm 2013 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; bảo đảm các quy định của Luật có tính khả thi, phù hợp với điều kiện, tình hình Việt Nam trong giai đoạn hiện nay; kế thừa các quy định còn phù hợp điều chỉnh lĩnh vực này của Luật Tương trợ tư pháp năm 2007; tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm xây dựng pháp luật của một số nước về dẫn độ. Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 gồm 8 chương, 56 điều. Trên cơ sở nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm quốc tế và quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên về giám sát điện tử, Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 đã bổ sung quy định về biện pháp giám sát điện tử theo hướng xác định đối tượng áp dụng (3 đối tượng) gồm: Người cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng; người bị quản lý sau cai nghiện; người điều trị nghiện ma túy bằng thuốc thay thế; quy định về thẩm quyền áp dụng giao Trưởng Công an xã; quy định trách nhiệm của người bị giám sát điện tử và giao Chính phủ quy định chi tiết về thiết bị, đối tượng; quy định điều kiện, thời hạn, trình tự, thủ tục, xử lý vi phạm trong việc áp dụng biện pháp giám sát điện tử. Việc bổ sung quy định này bảo đảm phù hợp với quy định của Hiến pháp về quyền con người, đồng thời đảm bảo tính linh hoạt trong áp dụng khi cần phải thay đổi các quy định cho phù hợp với thực tiễn. Luật sửa đổi, bổ sung quy định về thời hạn cai nghiện ma túy (Điều 29) đối với người cai nghiện ma

Chính sách BHYT từ năm 2026: Mở rộng quyền lợi khám, chữa bệnh, nâng cao mức hưởng cho người tham gia.

Chính sách BHYT bước vào giai đoạn cải cách quan trọng với nhiều thay đổi mang tính đột phá, mở rộng quyền lợi cho người tham gia, đặc biệt là các nhóm yếu thế trong xã hội. Theo các Nghị quyết của Quốc hội và lộ trình hoàn thiện chính sách an sinh xã hội, người dân sẽ được thụ hưởng mức chi trả cao hơn, phạm vi quyền lợi rộng hơn và tiếp cận dịch vụ y tế ngày càng công bằng, bền vững.   Thêm nhiều quyền lợi cho người đi khám bệnh chữa bệnh. Ảnh: Internet 11 nhóm được hưởng 100% chi phí khám chữa bệnh Năm 2026, mức hưởng của người tham gia BHYT được thực hiện theo quy định tại Điểm a, Khoản 1, Điều 22, Luật BHYT năm 2024. Cụ thể gồm 11 nhóm: Thứ nhất là sĩ quan quân đội nhân dân, quân nhân chuyên nghiệp đang tại ngũ; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ và sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật đang công tác trong lực lượng công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân. Thứ hai là hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân đang tại ngũ; hạ sĩ quan, chiến sĩ nghĩa vụ trong công an nhân dân; học viên quân đội, học viên công an, học viên cơ yếu hưởng sinh hoạt phí là người Việt Nam. Thứ ba là học viên quân đội, học viên công an, học viên cơ yếu hưởng sinh hoạt phí là người nước ngoài. Thứ tư là học viên đào tạo sĩ quan dự bị từ 3 tháng trở lên chưa tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế. Thứ năm là dân quân thường trực. Thứ sáu là người có công với cách mạng theo quy định của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng; cựu chiến binh. Thứ bảy là trẻ em dưới 6 tuổi. Thứ tám là thân nhân của liệt sĩ, người có công nuôi dưỡng liệt sĩ theo quy định của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng. Thứ chín là người thuộc hộ gia đình nghèo; người dân tộc thiểu số thuộc hộ gia đình cận nghèo đang cư trú tại xã, thôn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; người dân tộc thiểu số đang cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn; người đang cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; người đang sinh sống tại xã đảo, huyện đảo. Thứ mười là người đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng; người đang hưởng trợ cấp nuôi dưỡng hằng tháng theo quy định của pháp luật có liên quan; người đang hưởng trợ cấp tuất hằng tháng mà thuộc đối tượng hưởng trợ cấp xã hội. Cuối cùng là người từ đủ 75 tuổi trở lên đang hưởng trợ cấp tuất hằng tháng, người từ đủ 70 tuổi đến dưới 75 tuổi thuộc hộ cận nghèo đang hưởng trợ cấp tuất hàng tháng. Thuốc tiếp tục là “tấm lá chắn” tài chính, giúp người dân yên tâm chăm sóc sức khỏe Thêm 3 trường hợp được hưởng 100% chi phí khám chữa bệnh Ngoài 11 nhóm trên, các nhóm tham gia BHYT khác chỉ được hưởng mức chi trả 80%-95% chi phí khám chữa bệnh. Tuy nhiên, các nhóm này vẫn được hưởng mức chi trả 100% chi phí khám chữa bệnh trong 3 trường hợp được quy định tại Điểm b, Điểm c và Điểm d Khoản 1 Điều 22 Luật BHYT năm 2024. Thứ nhất là trường hợp chi phí cho một lần khám bệnh, chữa bệnh thấp hơn 15% mức lương cơ sở (hiện là 351.000 đồng). Thứ hai là trường hợp người bệnh đến khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc cấp khám bệnh, chữa bệnh ban đầu. Các cơ sở này bao gồm: Trạm y tế; cơ sở khám bệnh, chữa bệnh y học gia đình; trạm y tế quân – dân y, phòng khám quân – dân y; trung tâm y tế cấp huyện có hoạt động khám bệnh, chữa bệnh được cấp giấy phép hoạt động theo hình thức tổ chức là phòng khám; y tế cơ quan, đơn vị, tổ chức; cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc cấp khám bệnh, chữa bệnh ban đầu trong quân đội, công an… Thứ ba là trường hợp người bệnh có thời gian tham gia BHYT 5 năm liên tục trở lên và có số tiền cùng chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong năm lớn hơn 6 lần mức tham chiếu (mức này trong năm 2026 là: 2.340.000 đồng x 6 lần = 14.040.000 đồng). Với việc tăng mức hưởng, mở rộng phạm vi chi trả và ưu tiên các nhóm yếu thế, chính sách BHYT từ năm 2026 hướng tới giảm mạnh chi tiền túi của người bệnh. Mục tiêu được đặt ra là đưa tỷ lệ chi trả phí KCB của người dân xuống dưới 30% trong giai đoạn 2028 – 2030. Đây là bước đi đột phá nhằm bảo đảm công bằng trong tiếp cận dịch vụ y tế, hạn chế tình trạng người dân rơi vào nghèo đói do chi phí khám, chữa bệnh. Theo định hướng của Quốc hội và Chính phủ, việc mở rộng quyền lợi BHYT từ năm 2026 là nền tảng cho lộ trình dài hạn: Nghiên cứu điều chỉnh mức đóng BHYT phù hợp với khả năng của người dân, đồng thời tiếp tục nâng mức hưởng; Mở rộng thêm danh mục thuốc, kỹ thuật; thí điểm chi trả dịch vụ phòng bệnh, sàng lọc bệnh phổ biến; tiến tới bao phủ BHYT toàn dân một cách bền vững; Hướng tới mục tiêu miễn phí một số dịch vụ y tế

Từ 2026, người dân có quyền yêu cầu xóa dữ liệu cá nhân

Từ ngày 1/1/2026, khi Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân có hiệu lực, người dân lần đầu được trao quyền yêu cầu xóa dữ liệu của mình khỏi hệ thống của các tổ chức, doanh nghiệp. Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân gồm 5 chương, 39 điều, được ban hành nhằm cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp về quyền con người, quyền riêng tư, đồng thời thiết lập khuôn khổ pháp lý thống nhất cho hoạt động thu thập, xử lý và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong môi trường số. Quyền yêu cầu xóa dữ liệu cá nhân được luật hóa Theo quy định tại điểm l khoản 1 Điều 9, chủ thể dữ liệu có quyền xóa hoặc yêu cầu xóa dữ liệu cá nhân của mình. Quyền này được cụ thể hóa tại Điều 16 của Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân. Cụ thể, chủ thể dữ liệu có thể yêu cầu bên kiểm soát dữ liệu xóa dữ liệu cá nhân trong trường hợp dữ liệu không còn cần thiết cho mục đích thu thập ban đầu; khi chủ thể dữ liệu rút lại sự đồng ý theo quy định tại Điều 12; hoặc khi chủ thể dữ liệu phản đối việc xử lý và bên kiểm soát, xử lý dữ liệu không có căn cứ pháp lý hợp pháp để tiếp tục (khoản 1 Điều 16). So với trước đây, khi việc xóa hay gỡ bỏ thông tin chủ yếu phụ thuộc vào chính sách nội bộ của doanh nghiệp hoặc thỏa thuận dân sự, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân đã xác lập đây là một quyền của chủ thể dữ liệu, đồng thời đặt ra nghĩa vụ tương ứng đối với bên kiểm soát và xử lý dữ liệu. Ví dụ, trước đây, khi một người dùng ngừng sử dụng ứng dụng vay tiền hoặc mua sắm trực tuyến thì dữ liệu cá nhân như số điện thoại, địa chỉ, thông tin giao dịch vẫn có thể tiếp tục bị doanh nghiệp lưu trữ, thậm chí dùng cho mục đích tiếp thị, nếu điều này phù hợp với chính sách nội bộ hoặc điều khoản người dùng đã chấp thuận. Người dùng nếu muốn xóa thông tin thường chỉ có thể “đề nghị” và phụ thuộc vào thiện chí của doanh nghiệp. Nhưng từ ngày 1/1/2026, trong trường hợp dữ liệu không còn cần thiết cho mục đích ban đầu hoặc người dùng rút lại sự đồng ý, cá nhân có quyền yêu cầu xóa dữ liệu. Và lúc này, doanh nghiệp với tư cách là bên kiểm soát, xử lý dữ liệu có nghĩa vụ xem xét và thực hiện yêu cầu này, trừ các trường hợp pháp luật cho phép tiếp tục lưu trữ. Luật cũng quy định nguyên tắc về sự đồng ý của chủ thể dữ liệu. Theo khoản 2 và khoản 3 Điều 11, sự đồng ý phải được thể hiện rõ ràng, cụ thể bằng hình thức phù hợp theo quy định của pháp luật; sự im lặng hoặc không phản hồi của cá nhân không được coi là sự đồng ý trong việc xử lý dữ liệu cá nhân. Quyền xóa dữ liệu không phải là quyền tuyệt đối Cùng với việc trao quyền cho chủ thể dữ liệu, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân xác định rõ các trường hợp bên kiểm soát dữ liệu được phép từ chối yêu cầu xóa dữ liệu cá nhân. Theo khoản 3 Điều 16, yêu cầu xóa dữ liệu có thể không được chấp nhận nếu việc lưu trữ dữ liệu là nghĩa vụ theo quy định của luật khác; phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; hoặc dữ liệu được xử lý bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án theo quy định của pháp luật. Các quy định này nhằm bảo đảm sự cân bằng giữa quyền riêng tư của cá nhân với yêu cầu quản lý nhà nước, lợi ích công cộng và việc thực thi pháp luật. Siết chặt quản lý, bảo vệ dữ liệu cá nhân Bên cạnh quyền yêu cầu xóa dữ liệu, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân thiết lập nhiều nguyên tắc quản lý mới đối với hoạt động xử lý dữ liệu. Theo khoản 4 Điều 6, hành vi mua, bán dữ liệu cá nhân trái phép là hành vi bị nghiêm cấm. Luật đồng thời phân loại dữ liệu cá nhân thông thường và dữ liệu cá nhân nhạy cảm. Theo khoản 4 Điều 2, dữ liệu cá nhân nhạy cảm bao gồm các thông tin như tình trạng sức khỏe, tài chính, dữ liệu sinh trắc học, đời sống riêng tư, quan điểm chính trị… và việc xử lý loại dữ liệu này phải tuân thủ các yêu cầu bảo vệ nghiêm ngặt hơn theo quy định của luật. Dữ liệu cá nhân của trẻ em được xác định là đối tượng cần được bảo vệ ở mức độ cao hơn. Theo Điều 20, việc xử lý dữ liệu cá nhân của trẻ em phải đáp ứng các điều kiện chặt chẽ về sự đồng ý và các biện pháp bảo đảm an toàn phù hợp. Với hiệu lực từ đầu năm 2026, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân được kỳ vọng sẽ góp phần tăng cường bảo vệ quyền riêng tư của người dân, đồng thời định hình rõ hơn trách nhiệm của các tổ chức, doanh nghiệp trong hoạt động thu thập và xử lý dữ liệu cá nhân. https://vnexpress.net/tu-2026-nguoi-dan-co-quyen-yeu-cau-xoa-du-lieu-ca-nhan-4999068.html

Hợp đồng lao động điện tử có giá trị pháp lý như văn bản giấy từ năm 2026

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 337/2025/NĐ-CP quy định về hợp đồng lao động điện tử, khẳng định giá trị pháp lý tương đương hợp đồng bằng văn bản giấy, đồng thời đặt ra các nguyên tắc, điều kiện và lộ trình triển khai nhằm thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực lao động, việc làm. Ngày 24/12/2025, Chính phủ ban hành Nghị định số 337/2025/NĐ-CP quy định về hợp đồng lao động điện tử. Theo đó, hợp đồng lao động điện tử là hợp đồng được giao kết, thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về lao động và pháp luật về giao dịch điện tử, có giá trị pháp lý như hợp đồng lao động bằng văn bản giấy. Theo quy định, việc giao kết và thực hiện hợp đồng lao động điện tử phải tuân thủ quy định của pháp luật về lao động, về giao dịch điện tử, về an toàn thông tin mạng, về dữ liệu, về bảo vệ dữ liệu cá nhân, về lưu trữ và quy định tại Nghị định này. Hợp đồng lao động điện tử phải được gửi cho người lao động và người sử dụng lao động dưới hình thức thông điệp dữ liệu thông qua phương tiện điện tử phù hợp theo thỏa thuận của các bên. Khuyến khích sử dụng hợp đồng lao động điện tử thay thế cho hợp đồng lao động bằng văn bản giấy trong quản trị nhân sự của người sử dụng lao động, trong giải quyết thủ tục hành chính liên quan đến hợp đồng lao động. Chủ thể tham gia hoạt động giao kết, thực hiện hợp đồng lao động điện tử bao gồm: Người lao động và người sử dụng lao động có thẩm quyền giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 18 Bộ luật Lao động; nhà cung cấp eContract bảo đảm điều kiện quy định. Nghị định số 337/2025/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026. Chậm nhất đến ngày 01/7/2026, Nền tảng hợp đồng lao động điện tử phải được đưa vào vận hành chính thức và việc giao kết, thực hiện hợp đồng lao động điện tử sẽ được triển khai đồng bộ theo quy định của Nghị định này từ thời điểm đó./. https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/linh-vuc-bao-hiem-xa-hoi.aspx?ItemID=25904&CateID=168

Người từ 75 tuổi hưởng hưu trí được BHYT chi trả 100% chi phí khám, chữa bệnh

Nghị quyết được Quốc hội vừa thông qua, cho phép mở rộng quyền lợi chăm sóc sức khỏe và giảm chi phí y tế cho người dân. Sáng 11/12 vừa qua, Quốc hội thông qua Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá cho công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân với 431/433 đại biểu Quốc hội tán thành. Để mở rộng quyền lợi chăm sóc sức khỏe và giảm chi phí y tế cho người dân, Nghị quyết quy định thực hiện tăng tỷ lệ, mức thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT; chi cho khám sàng lọc, chẩn đoán, điều trị sớm một số bệnh và đối tượng ưu tiên từ Quỹ BHYT theo lộ trình phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, khả năng cân đối của ngân sách Nhà nước, Quỹ BHYT. Cụ thể, người tham gia BHYT là đối tượng thuộc hộ gia đình cận nghèo, người cao tuổi từ đủ 75 tuổi trở lên đang hưởng trợ cấp hưu trí xã hội, được áp dụng mức hưởng 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi được hưởng của người tham gia BHYT. Quốc hội thông qua Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá cho công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Ảnh: Quochoi.vn. Quốc hội cũng quyết định tăng tỷ lệ mức hưởng trong phạm vi được hưởng của người tham gia BHYT cho đối tượng chính sách xã hội, người yếu thế, người có thu nhập thấp và một số đối tượng cần ưu tiên khác. Quỹ BHYT chi cho khám sàng lọc, chẩn đoán và điều trị sớm một số bệnh. Cũng theo nghị quyết của Quốc hội, từ 01/01/2030 sẽ thực hiện chính sách miễn viện phí ở mức cơ bản trong phạm vi được hưởng của người tham gia BHYT theo lộ trình phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, khả năng cân đối của Quỹ BHYT và việc tăng mức đóng BHYT. Quốc hội định hướng tổ chức thực hiện thí điểm đa dạng hóa các gói BHYT, đa dạng các loại hình cung ứng dịch vụ bảo hiểm y tế và thực hiện BHYT bổ sung do các doanh nghiệp bảo hiểm cung cấp theo nhu cầu của người dân khi đủ điều kiện thực hiện. Chính phủ sẽ quy định đối tượng và lộ trình tăng mức hưởng trong phạm vi được hưởng của người tham gia BHYT; danh mục bệnh và lộ trình thực hiện việc chi từ quỹ BHYT cho khám sàng lọc, chẩn đoán và điều trị sớm một số bệnh, đảm bảo phù hợp với việc tăng mức đóng BHYT từ năm 2027. Bên cạnh các chính sách hướng tới người bệnh, Nghị quyết cũng dành sự quan tâm đặc biệt tới đội ngũ nhân viên y tế, lực lượng nòng cốt của hệ thống chăm sóc sức khỏe. Theo đó, bác sĩ y khoa, bác sĩ y học cổ truyền, bác sĩ răng hàm mặt, bác sĩ y học dự phòng và dược sĩ khi được tuyển dụng vào chức danh nghề nghiệp tương ứng sẽ được xếp lương từ bậc 2 cho đến khi có quy định mới về tiền lương. Quy định này góp phần cải thiện thu nhập, tạo động lực để thu hút và giữ chân nhân lực chất lượng cao cho ngành y. Nghị quyết cũng quy định mức phụ cấp ưu đãi nghề ở mức 100% đối với những người thường xuyên, trực tiếp làm chuyên môn y tế trong các lĩnh vực đặc thù như tâm thần, pháp y, pháp y tâm thần, hồi sức cấp cứu, giải phẫu bệnh. Đối với nhân viên y tế làm việc tại trạm y tế cấp xã, cơ sở y tế dự phòng, mức phụ cấp ưu đãi nghề đạt 100% nếu công tác tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng khó khăn, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo; các khu vực còn lại hưởng mức tối thiểu 70%. Đặc biệt, nhằm bảo đảm an toàn cho nhân viên y tế, Quốc hội khẳng định rõ các hành vi xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng hoặc xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nhân viên y tế sẽ bị xử lý nghiêm theo quy định pháp luật, từ kỷ luật, xử phạt hành chính đến truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng thời buộc phải bồi thường thiệt hại và xin lỗi công khai./. https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/linh-vuc-bao-hiem-y-te.aspx?ItemID=25854&CateID=169

Quốc hội thông qua Luật Dân số: Từ năm 2026, lao động sinh con thứ hai được nghỉ thai sản tới 7 tháng

Luật Dân số quy định thời gian nghỉ thai sản với lao động nữ là 7 tháng, hỗ trợ tài chính cho phụ nữ sinh đủ 2 con trước 35 tuổi và ưu tiên mua nhà ở xã hội với người có từ 2 con đẻ trở lên. Sáng 10/12, với 448/450 đại biểu có mặt tán thành (chiếm 94,71%), Quốc hội chính thức thông qua Luật Dân số gồm 8 chương, 30 điều. Luật sẽ có hiệu lực từ ngày 1/7/2026. Trình bày báo cáo tóm tắt dự án Luật, Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan cho biết dự án lần này thể hiện bước chuyển quan trọng, đưa trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang tiếp cận dân số và phát triển. Luật quy định về truyền thông – giáo dục dân số; duy trì mức sinh thay thế; giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh; thích ứng già hóa dân số; nâng cao chất lượng dân số; cùng các điều kiện bảo đảm thực hiện công tác dân số. Để duy trì mức sinh thay thế, Luật bổ sung nhiều chính sách mới. Đáng chú ý, lao động nữ sinh con thứ hai được nghỉ thai sản 7 tháng; lao động nam được nghỉ 10 ngày làm việc khi vợ sinh con. So với quy định hiện hành, thời gian nghỉ của lao động nữ tăng thêm một tháng. Luật cũng bổ sung các chính sách hỗ trợ tài chính: hỗ trợ phụ nữ dân tộc thiểu số rất ít người khi sinh con; hỗ trợ phụ nữ tại những địa phương có mức sinh thấp; và hỗ trợ phụ nữ sinh đủ hai con trước 35 tuổi. Đặc biệt, người có từ hai con đẻ trở lên sẽ được ưu tiên mua, thuê mua hoặc thuê nhà ở xã hội. Chính phủ được giao quy định mức hưởng cụ thể theo điều kiện kinh tế – xã hội từng thời kỳ. Quốc hội thông qua Luật Dân số (nguồn: Internet) Luật Dân số đặt ra khung chính sách tổng thể, gắn với các lĩnh vực lao động, việc làm, tiền lương, BHXH, BHYT, trợ cấp, giáo dục, chăm sóc sức khỏe và nhà ở, nhằm ổn định và duy trì mức sinh thay thế bền vững. Cũng trong sáng 10/12, Quốc hội thông qua Luật Phòng bệnh với 93,02% đại biểu tán thành. Luật gồm 6 chương, 46 điều và có hiệu lực từ ngày 1/7/2026. Một nội dung được quan tâm lớn là quy định về khám sức khỏe định kỳ và khám sàng lọc miễn phí. Để bảo đảm nguồn lực thực hiện, Chính phủ đã điều chỉnh quy định theo hướng đa dạng hóa nguồn kinh phí, gồm ngân sách nhà nước, xã hội hóa và đặc biệt là nguồn từ Quỹ BHYT. Điều 44 của Luật sửa đổi, bổ sung Luật BHYT, cho phép Quỹ BHYT chi trả chi phí khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc miễn phí theo lộ trình phù hợp với khả năng cân đối quỹ. Bộ trưởng Đào Hồng Lan nhận định đây là bước đột phá quan trọng nhằm thể chế hóa các Nghị quyết số 20 và 72. Luật cũng hoàn thiện các quy định về phòng chống bệnh không lây nhiễm, rối loạn tâm thần và dinh dưỡng, hướng tới quản lý nguy cơ, tăng cường sàng lọc và phát hiện sớm bệnh, đặc biệt với nhóm yếu thế và vùng khó khăn. Nội dung phòng chống bệnh truyền nhiễm được điều chỉnh trên cơ sở bài học từ đại dịch COVID-19, khắc phục các bất cập và phù hợp với bối cảnh mới. Đối với Quỹ phòng bệnh, Luật yêu cầu tách bạch mục tiêu – nhiệm vụ của quỹ để tăng tính minh bạch. Quỹ được bổ sung nhiệm vụ chi cho khám sức khỏe định kỳ và sàng lọc miễn phí nhằm bảo đảm nguồn lực ổn định cho chính sách mới. Các vấn đề về kỹ thuật văn bản, thống nhất pháp luật, thuật ngữ, hành vi bị nghiêm cấm và trách nhiệm của cơ quan quản lý – báo chí đã được rà soát, chỉnh lý kỹ lưỡng trước khi Luật được Quốc hội thông qua./. https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/kinh-te-xa-hoi.aspx?ItemID=25812&CateID=170

Đặt Lịch Khám

    Đặt Lịch Khám