BỆNH VIỆN BẮC THĂNG LONG
BAC THANG LONG HOSPITAL

(84) 889 615 815

Email: thugopy.bvbtl@gmail.com

Hoạt Động Nghiên Cứu

Pháp luật - BHXH

Luật Phục hồi, phá sản năm 2025: Những điểm mới nổi bật về BHXH

Từ ngày 01/3/2026, Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 chính thức có hiệu lực thi hành. Luật đã bổ sung nhiều quy định nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm y tế; đồng thời cũng có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khăn, tái cơ cấu sản xuất kinh doanh.   https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/Infographic.aspx?ItemID=26435&CateID=184  

Bộ Y tế thí điểm bảo lãnh tạm ứng viện phí khi nhập viện

Bộ Y tế cho biết đang thí điểm mô hình mới theo hướng cho phép một người đăng ký bảo lãnh viện phí với ngân hàng cho cả gia đình, tạo điều kiện để cơ sở y tế thực hiện “chữa bệnh trước, thanh toán sau”. Thông tin được Bộ Y tế công bố tại Hội nghị triển khai công tác khám, chữa bệnh năm 2026, tổ chức ngày 02/02. Tại Hội nghị, Bộ Y tế chính thức vận hành Cổng bảo lãnh thanh toán viện phí. Bệnh viện Đa khoa Hà Đông (Hà Nội) là đơn vị đầu tiên trong 15 cơ sở y tế thí điểm hoàn tất kết nối và đưa vào sử dụng. Ngành y tế sẽ sớm triển khai tại Bệnh viện Đa khoa Nông nghiệp và mở rộng 13 bệnh viện còn lại trong thời gian tới. Các đại biểu bấm nút khai trương Cổng bảo lãnh thanh toán viện phí ngày 2/2. Phát biểu tại Hội nghị, Tiến sĩ Nguyễn Huy Lương, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh cho biết, những năm qua, ngành Y tế đã phát triển mạnh mẽ, đặc biệt trong ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số. Nhiều kỹ thuật y học hiện đại như mổ robot, xạ trị proton, can thiệp tim mạch… đang được triển khai tại Việt Nam. Tuy nhiên, một nghịch lý tồn tại, trong khi chuyên môn y tế không ngừng được nâng cao thì quy trình thu viện phí tại nhiều cơ sở khám chữa bệnh vẫn còn lạc hậu. Hiện nay, hầu hết các bệnh viện, từ công lập đến tư nhân, từ tuyến tỉnh đến tuyến trung ương, người bệnh vẫn phải tạm ứng viện phí trước khi điều trị. Điều này xảy ra ngay cả với người có thẻ BHYT, dù đã có nhiều chỉ đạo yêu cầu không thu tạm ứng và cắt giảm thủ tục hành chính trong khám chữa bệnh. Đối với bệnh nhân nội trú, một đợt điều trị thường kéo dài và phát sinh nhiều khoản chi phí. Người bệnh phải liên tục chờ đợi làm xét nghiệm, thực hiện kỹ thuật rồi tiếp tục chờ nộp thêm viện phí. Với những ca điều trị chi phí lớn như phẫu thuật, can thiệp tim mạch, đặt stent, số tiền có thể lên tới hàng trăm triệu đồng. “Không ít trường hợp dù có tiền trong tài khoản ngân hàng nhưng khi đang nằm viện, người bệnh không đủ điều kiện về sức khỏe hoặc thủ tục để tự thực hiện giao dịch thanh toán”, ông Nguyễn Huy Lương chia sẻ. Trước đó, Bộ Y tế đã ban hành Bộ tiêu chí chất lượng bệnh viện, trong đó quy định việc thu viện phí phải thuận tiện, công khai, minh bạch; người bệnh có thể được cấp tài khoản thanh toán ảo, nộp viện phí một lần khi ra viện, thậm chí được tín chấp bằng thẻ tín dụng. Tuy nhiên, trên thực tế, các quy định này vẫn chưa được triển khai rộng rãi. Từ thực tiễn trên, ông Nguyễn Huy Lương cho rằng, cổng bảo lãnh viện phí là giải pháp nhân văn và phù hợp. Mô hình này giúp người bệnh yên tâm nhập viện, không lo thiếu tiền điều trị, không phải tạm ứng hay hoàn ứng nhiều lần, đồng thời chủ động hơn về tài chính, kể cả với những ca bệnh có chi phí lớn. Một điểm đáng chú ý của mô hình bảo lãnh viện phí là tính linh hoạt và cộng đồng. Một người có thể bảo lãnh cho nhiều người khác; ngược lại, một bệnh nhân cũng có thể được nhiều người cùng bảo lãnh. Chỉ cần mỗi người bảo lãnh một khoản nhỏ, khi cộng lại có thể đủ để chi trả cho những ca điều trị tốn kém, qua đó chia sẻ rủi ro và hỗ trợ lẫn nhau trong cộng đồng. Tại Hà Nội, Bệnh viện Đa khoa Hà Đông đã thử nghiệm mô hình này. Ông Nguyễn Thành Vinh, Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Hà Đông cho biết, kết quả triển khai ban đầu có khoảng 70% bệnh nhân khám dịch vụ sử dụng bảo lãnh viện phí. Thời gian xử lý tại bộ phận tiếp đón và thu ngân giảm khoảng 30%, đặc biệt rút ngắn đáng kể thời gian tạm ứng và hoàn ứng. Việc áp dụng mô hình không ảnh hưởng đến quy trình hoạt động chung của bệnh viện. Tỷ lệ hài lòng của người bệnh và người nhà đạt 100% theo khảo sát thực tế. Đa số người bệnh đánh giá cao sự tiện lợi khi không phải xếp hàng chờ tạm ứng, nộp tiền nhiều lần. Người nhà bệnh nhân cảm thấy yên tâm hơn khi đã chủ động đăng ký bảo lãnh; người bệnh khi đi khám chỉ cần sử dụng bảo lãnh để làm thủ tục./. https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/linh-vuc-bao-hiem-y-te.aspx?ItemID=26154&CateID=169

Quy định bảo đảm an toàn bức xạ trong y tế

Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Thông tư 59/2025/TT-BKHCN quy định về bảo đảm an toàn bức xạ và ứng phó sự cố bức xạ và hạt nhân, trong đó quy định về bảo đảm an toàn bức xạ trong y tế. Yêu cầu chung về bảo đảm an toàn đối với thiết bị bức xạ, thiết bị sử dụng trong y học hạt nhân Thông tư nêu rõ các yêu cầu chung về bảo đảm an toàn đối với thiết bị bức xạ, thiết bị sử dụng trong y học hạt nhân: Thiết bị bức xạ sử dụng cho chẩn đoán, điều trị bệnh và thiết bị được sử dụng trong y học hạt nhân phải có chứng chỉ chất lượng thể hiện việc đáp ứng các yêu cầu về bảo đảm an toàn theo tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. Trường hợp không có tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia thì áp dụng tiêu chuẩn quốc tế tương đương của Ủy ban Kỹ thuật điện quốc tế (IEC), Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO). Có tài liệu kèm theo thiết bị, bao gồm tài liệu về thông số kỹ thuật của thiết bị, hướng dẫn vận hành và bảo trì, hướng dẫn an toàn. Tài liệu hướng dẫn vận hành, hướng dẫn an toàn phải được dịch ra tiếng Việt. Chỉ dẫn vận hành, ký hiệu viết tắt và giá trị vận hành trên bảng điều khiển của thiết bị bức xạ phải bằng tiếng Việt hoặc bằng ngôn ngữ phù hợp với ngôn ngữ mà người vận hành máy sử dụng. Thiết bị bức xạ phải có cơ cấu kiểm soát chùm tia bức xạ, bảo đảm chỉ thị rõ ràng và tin cậy trạng thái chùm tia đang “ngắt” hay “mở”. Thiết bị bức xạ phải có cơ cấu để khu trú chùm tia cho mục đích kiểm soát chùm tia chỉ vào vùng cơ thể người bệnh cần chẩn đoán hoặc điều trị. Trường bức xạ phát ra trong vùng để chẩn đoán hay điều trị trên người bệnh phải đồng đều; mức độ không đồng đều của trường bức xạ phải được nhà cung cấp chỉ rõ trong tài liệu kỹ thuật của thiết bị. Yêu cầu an toàn đối với thiết bị X-quang chẩn đoán dùng trong y tế Theo Thông tư, thiết bị X-quang chẩn đoán dùng trong y tế ngoài việc thực hiện các yêu cầu chung về bảo đảm an toàn đối với thiết bị bức xạ, thiết bị sử dụng trong y học hạt nhân còn phải bảo đảm các yêu cầu sau: Mức bức xạ rò của đầu bóng phát tia X không vượt quá 1 mGy/giờ tại khoảng cách 1m từ vỏ đầu bóng phát tia X lấy trung bình trên diện tích không vượt quá 100 cm2 cho mọi chế độ làm việc của thiết bị được nhà sản xuất khuyến cáo; giá trị lọc cố định của hệ đầu bóng phát X-quang trong đơn vị milimét nhôm tương đương (mm Al) phải ghi rõ trên vỏ hộp chứa bóng. Có hệ kiểm tra kích thước chùm tia bằng nguồn sáng, trừ thiết bị X- quang chụp răng sử dụng phim đặt sau huyệt ổ răng và thiết bị X-quang chụp vú; các thông số điện áp phát (kV), dòng bóng phát (mA), thời gian phát tia (s) hoặc hàng số phát tia (mAs) phải được hiển thị trên tủ điều khiển khi đặt chế độ làm việc và khi chụp. Đối với thiết bị X-quang có chế độ chụp, việc phát tia phải được chấm dứt sau khi đạt được giá trị đặt trước như: thời gian hoặc giá trị mAs hoặc giá trị liều chiếu xạ. Đối với thiết bị X-quang có chế độ chiếu, chụp phải có bộ kiểm soát chế độ phát tia tự động (AEC) hoặc công tắc điều khiển phát tia dạng bấm và giữ, bảo đảm thiết bị chỉ phát tia nếu công tắc được bấm, giữ chặt và ngừng phát tia khi thả công tắc. Thiết bị X-quang di động phải có cáp nối đủ dài để bảo đảm khoảng cách giữa người vận hành thiết bị và bóng phát tối thiểu 2 mét. Đối với thiết bị bức xạ khác, khoảng cách này tối thiểu là 3m. Thiết bị X-quang tăng sáng truyền hình dùng trong can thiệp phải có các tấm che chắn cao su chì lắp tại bàn người bệnh để che chắn các tia bức xạ ảnh hưởng đến nhân viên và hệ che chắn treo trên trần để sử dụng cho mục đích bảo vệ mắt và tuyến giáp của nhân viên khi theo dõi người bệnh. Các tấm che chắn cao su chì phải bảo đảm có chiều dày che chắn không nhỏ hơn 0,5 milimét chì tương đương. Ngoài ra, Thông tư còn quy định các yêu cầu an toàn đối với thiết bị xạ trị; yêu cầu an toàn đối với nguồn phóng xạ kín và thuốc phóng xạ; yêu cầu an toàn đối với thiết bị đo bức xạ, thiết bị và dụng cụ bảo vệ an toàn bức xạ… Xem chi tiết Thông tư tại đây https://baochinhphu.vn/quy-dinh-bao-dam-an-toan-buc-xa-trong-y-te-102260122105314144.htm

Truyền thông chính sách: Chìa khóa để pháp luật đi vào cuộc sống

Theo Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng, truyền thông chính sách cần được coi là quy trình bắt buộc trong xây dựng và thi hành pháp luật, thực hiện sớm, bài bản và đồng bộ, nhằm nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận xã hội và bảo đảm hiệu lực thực thi pháp luật.   Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng chủ trì Phiên họp của Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật Trung ương – Ảnh: Báo Chính phủ Sáng 15.1, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng, Ủy viên Trung ương Đảng, chủ trì Phiên họp của Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật Trung ương đánh giá kết quả triển khai nhiệm vụ năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026. Phiên họp có sự tham dự của đại diện các bộ, cơ quan ngang bộ cùng các cơ quan báo chí chủ lực như Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam. Đổi mới mạnh mẽ phổ biến, giáo dục pháp luật trong giai đoạn mới Theo Bộ Tư pháp, năm 2025, Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật Trung ương và Bộ Tư pháp – Cơ quan thường trực của Hội đồng – đã chủ động ban hành theo thẩm quyền hoặc tham mưu trình Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Hội đồng ban hành 48 văn bản để triển khai các nhiệm vụ. Đồng thời, đôn đốc, chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương kịp thời tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) đối với các luật, nghị quyết được Quốc hội thông qua tại các kỳ họp thứ 8, 9, 10 và kỳ họp bất thường thứ 9. Trong năm 2025, cả nước đã tổ chức hơn 216.000 hoạt động PBGDPL trực tiếp, thu hút trên 23 triệu lượt người tham dự; tổ chức gần 5.000 cuộc thi tìm hiểu pháp luật với hơn 2 triệu lượt người tham gia. Nhiều bộ, ngành, địa phương triển khai tích cực như Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Tài chính và các tỉnh: Tuyên Quang, Đồng Nai, Tây Ninh, Vĩnh Long, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Thanh Hóa… Cơ quan Thường trực Hội đồng đã tổng hợp, phân loại hàng trăm mô hình PBGDPL hiệu quả, đồng thời chỉ đạo nhân rộng, đặc biệt là các mô hình ứng dụng công nghệ số. Trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, Bộ Tư pháp đã phối hợp các bộ, ngành nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung Nghị định số 55/2019/NĐ-CP; phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức hội thảo nhận diện các điểm nghẽn trong lĩnh vực đất đai; tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Đồng thời, Bộ Tư pháp đã trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình “Hỗ trợ pháp lý liên ngành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh giai đoạn 2026–2030”. Cơ quan Thường trực Hội đồng cũng đã tổ chức các đoàn công tác làm việc với các cơ quan báo chí, truyền thông chủ lực để nắm bắt tình hình triển khai công tác truyền thông chính sách, PBGDPL. Nhân rộng mô hình hiệu quả, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số Các cơ quan báo chí trung ương đã chủ động tham gia sâu vào truyền thông chính sách. Đài Truyền hình Việt Nam xây dựng chuyên mục “Tiêu điểm chính sách” về các chính sách có tác động lớn đến xã hội, được người dân và doanh nghiệp ghi nhận, đánh giá cao. Nhiều bộ, ngành, cơ quan trung ương như Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Y tế, Bộ Tư pháp cùng các cơ quan báo chí chủ lực đã lồng ghép các chuyên mục, chuyên trang, dòng sự kiện về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả truyền thông chính sách. Thứ trưởng Bộ Tư pháp khẳng định, năm 2025, Hội đồng các cấp đã triển khai nhiệm vụ kịp thời, đa dạng về hình thức, chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số. Kết quả hoạt động của Hội đồng góp phần nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành về vai trò của công tác PBGDPL, trợ giúp pháp lý; bảo đảm quyền được thông tin pháp luật của người dân và doanh nghiệp. Đại diện Bộ Công an cho biết, Bộ đã triển khai nhiều mô hình PBGDPL thiết thực như phối hợp tuyên truyền pháp luật cho phạm nhân tại các trại giam; tổ chức các cuộc thi viết, cấp phát hàng nghìn đầu sách pháp luật, tủ sách pháp luật. Đồng thời, đổi mới hình thức tuyên truyền pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa, gắn nội dung pháp luật với đời sống thực tiễn. Truyền thông chính sách phải đồng bộ, bài bản Phát biểu kết luận phiên họp, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ghi nhận và đánh giá cao những nỗ lực, kết quả đạt được của Hội đồng trong năm 2025, góp phần nâng cao hiệu quả công tác PBGDPL, trợ giúp pháp lý và hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Tuy nhiên, Phó Thủ tướng cũng chỉ rõ một số tồn tại, hạn chế như tiến độ thực hiện một số nhiệm vụ còn chậm, phối hợp liên ngành chưa chặt chẽ; truyền thông chính sách chưa thực sự hiệu quả, việc bố trí và sử dụng kinh phí còn vướng mắc. Nhấn mạnh nhiệm vụ năm 2026, Phó Thủ tướng

Thanh niên “3 không” – khoảng trống kép về tâm lý và an sinh xã hội

Trong bức tranh phát triển kinh tế – xã hội hiện nay, thanh niên luôn được xác định là lực lượng lao động nòng cốt, giữ vai trò quan trọng trong tăng trưởng và phát triển dài hạn của đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh bộ phận thanh niên có việc làm ổn định, được đào tạo bài bản và tham gia đầy đủ các chính sách an sinh xã hội, vẫn tồn tại một nhóm không nhỏ rơi vào tình trạng “3 không”: không có việc làm, không tham gia học tập và đào tạo. Đây là nhóm đối tượng đang đứng trước nhiều rủi ro và trở thành khoảng trống đáng lo ngại trong hệ thống an sinh xã hội. Theo số liệu thống kê được tổng hợp từ báo cáo của Cục Thống kê (Tổng cục Thống kê – Bộ Tài chính) về tình hình lao động, việc làm quý IV và cả năm 2025, chỉ tính riêng trong quý IV/2025, cả nước có khoảng 1,4 triệu thanh niên không có việc làm, không tham gia học tập và đào tạo, chiếm 10,2% tổng số thanh niên cả nước. Những con số này phản ánh rõ thực trạng một bộ phận người trẻ đang gặp khó khăn trong tiếp cận việc làm bền vững, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với công tác định hướng nghề nghiệp, đào tạo kỹ năng và tạo việc làm cho lao động trẻ trong bối cảnh thị trường lao động đang chịu tác động mạnh mẽ của chuyển đổi số và phát triển khoa học – công nghệ. Thực tế cho thấy, thanh niên “3 không” chủ yếu làm việc trong khu vực phi chính thức, lao động tự do, việc làm thời vụ hoặc ngắn hạn. Thu nhập của nhóm này thường thấp, thiếu ổn định và dễ bị tổn thương trước các cú sốc kinh tế – xã hội. Việc không có hợp đồng lao động đồng nghĩa với việc không được bảo vệ bởi pháp luật lao động, không được tham gia BHXH bắt buộc, không có bảo hiểm thất nghiệp và không có lương hưu khi hết tuổi lao động. Những rủi ro này khiến cuộc sống của người trẻ luôn tiềm ẩn bất ổn, nhất là khi gặp phải các biến cố về sức khỏe hoặc mất nguồn thu nhập. Chia sẻ về thực trạng này, anh Lê Tuấn Hùng, đại diện Công ty Phát triển nhân sự Hoàng Hà (Hà Nội), cho rằng nhiều bạn trẻ cần nhìn nhận lại kỳ vọng nghề nghiệp của bản thân, có cái nhìn thực tế hơn về thị trường lao động và sẵn sàng bắt đầu từ những công việc phù hợp với năng lực hiện có. Theo anh Hùng, việc chấp nhận làm việc, rèn luyện kỷ luật và thái độ nghề nghiệp từ những vị trí ban đầu sẽ tạo nền tảng quan trọng để người trẻ từng bước nâng cao tay nghề, gia tăng giá trị bản thân và mở rộng cơ hội việc làm trong tương lai. Cùng với đó, người trẻ cần chủ động học tập, trang bị thêm kỹ năng mới, mạnh dạn bước ra khỏi vùng an toàn và thích nghi với yêu cầu của thị trường lao động hiện đại. Trong bối cảnh nhiều ngành nghề truyền thống bị thu hẹp, việc tiếp cận kỹ năng số, ngoại ngữ và các kỹ năng mềm trở thành yếu tố then chốt giúp thanh niên nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng tham gia vào khu vực việc làm chính thức. Không chỉ đối mặt với rủi ro về kinh tế, nhóm thanh niên “3 không” còn chịu áp lực lớn về tâm lý. Việc thiếu một “tấm lưới” an sinh khiến nhiều người trẻ sống trong trạng thái lo lắng, bất an, e ngại rủi ro, thậm chí trì hoãn những quyết định quan trọng của cuộc đời như lập gia đình, sinh con hay đầu tư học tập nâng cao kỹ năng. Khoảng trống an sinh vì thế không chỉ là câu chuyện của chính sách, mà còn tác động trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực và sự phát triển bền vững của xã hội trong dài hạn. Thực tế cũng cho thấy, một bộ phận thanh niên hiện nay vẫn còn tâm lý coi trọng thu nhập trước mắt, xem việc tham gia BHXH, BHYT là một khoản chi phí thay vì là sự đầu tư cho tương lai. Khi còn trẻ, khỏe mạnh, nhiều người ít quan tâm đến rủi ro ốm đau, tai nạn hay tuổi già không có nguồn thu nhập ổn định. Chính tâm lý chủ quan này khiến tỷ lệ tham gia BHXH tự nguyện và BHYT hộ gia đình trong nhóm thanh niên “3 không” còn ở mức thấp, làm gia tăng nguy cơ mất an sinh khi gặp biến cố. Trong bối cảnh đó, BHXH và BHYT được xác định là hai trụ cột quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội, góp phần bảo vệ người lao động nói chung và thanh niên nói riêng trước những rủi ro của cuộc sống và thị trường lao động. BHYT giúp người trẻ tiếp cận dịch vụ y tế kịp thời, giảm gánh nặng chi phí khám chữa bệnh, đặc biệt trong những tình huống phát sinh đột ngột. BHXH tự nguyện tạo nền tảng an sinh lâu dài, giúp người lao động có nguồn thu nhập ổn định khi hết tuổi lao động, giảm nguy cơ rơi vào nghèo đói khi về già. Những năm qua, việc tuân thủ Luật BHXH, Luật BHYT trong các cơ quan, doanh nghiệp ngày càng được nâng cao, tạo điều kiện để lao động trẻ tham gia BHXH, BHYT từ sớm và đúng quy định. Tuy nhiên, để thu hẹp khoảng trống an sinh đối với nhóm thanh niên “3 không”, cần có sự vào cuộc đồng bộ của cả

Góc nhìn pháp lý vụ “phù phép” lợn bệnh thành đồ hộp

Trong quá trình giải quyết vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng cũng sẽ đánh giá đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị can. Những ngày qua, vụ việc Công an TP Hải Phòng triệt phá đường dây tiêu thụ thịt lợn nhiễm bệnh, “phù phép” thành các sản phẩm thịt đóng hộp xảy ra tại Công ty CP Đồ hộp Hạ Long, thu giữ 130 tấn thịt lợn trong đó có 120 tấn thịt nhiễm bệnh dịch tả lợn châu Phi khiến nhiều người không khỏi hoang mang, bức xúc. Dưới các bài viết của Dân trí, nhiều người mong muốn cơ quan chức năng xét xử mức án nghiêm khắc nhất đối với 9 đối tượng đã bị khởi tố trong đường dây. Vậy dưới góc độ pháp lý, khung hình phạt có thể áp dụng đối với tội danh trong vụ việc này ra sao? Theo Điều 317 Bộ luật Hình sự 2015, người thực hiện một trong các hành vi sau sẽ bị xử lý hình sự về tội Vi phạm quy định về an toàn thực phẩm: Thứ nhất, sử dụng các loại chất mà biết là cấm sử dụng hoặc ngoài danh mục được sử dụng trong sản xuất thực phẩm mà sản phẩm trị giá từ 10 triệu đồng trở lên hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý hình sự về hành vi này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; Thứ hai, sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc bị tiêu hủy để chế biến thực phẩm hoặc cung cấp, bán thực phẩm mà biết là có nguồn gốc từ nhóm động vật nêu trên mà sản phẩm trị giá từ 10 triệu đồng trở lên hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý hình sự về hành vi này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; Thứ ba, sử dụng các loại chất mà biết là chưa được phép sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành tại Việt Nam trong sản xuất thực phẩm mà sản phẩm trị giá từ 100 triệu đồng trở lên hoặc từ 50 triệu đồng trở lên nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý hình sự về hành vi này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; Thứ tư, nhập khẩu, cung cấp hoặc bán thực phẩm mà biết là có sử dụng các loại chất cấm sử dụng hoặc ngoài danh mục được phép sử dụng trị giá từ 10 triệu đồng trở lên; thu lợi bất chính từ 5 triệu đồng trở lên; đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc đã bị kết án về hành vi này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; Thứ năm, nhập khẩu, cung cấp hoặc bán thực phẩm mà biết là có sử dụng các chất chưa được phép sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành tại Việt Nam trị giá từ 100 triệu đồng trở lên; thu lợi bất chính từ 50 triệu đồng trở lên; thực phẩm trị giá từ 50 triệu đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính từ 20 triệu đồng trở lên nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc kết án về hành vi này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; Thứ sáu, thực hiện một trong các hành vi nêu trên hoặc chế biến, cung cấp, bán thực phẩm mà biết là không bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật, quy định về an toàn thực phẩm gây ngộ độc, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của từ 5 người trở lên hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác từ 31% trở lên. Tùy thuộc các yếu tố như mức độ thiệt hại về tài sản, sức khỏe, tính mạng con người, tổng giá trị thực phẩm không đảm bảo hay số tiền thu lợi bất chính, người phạm tội có thể bị áp dụng các tình tiết định khung theo quy định tại Điều 317 Bộ luật Hình sự 2015. Đối với các tình tiết quy định tại khoản 4 Điều này, việc xử lý hình sự sẽ được áp dụng nếu hành vi thuộc các tình tiết định khung như làm chết 3 người trở lên; gây ngộ độc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của 201 người trở lên; thực phẩm có giá trị 500 triệu đồng trở lên; thu lợi bất chính 300 triệu đồng trở lên hay thực phẩm có sử dụng nguyên liệu là động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy trị giá 500 triệu đồng trở lên. Khung hình phạt có thể áp dụng theo khoản này là phạt tù 12-20 năm. Như vậy, với việc Công an TP Hải Phòng khởi tố bị can về tội Vi phạm quy định về an toàn thực phẩm theo khoản 4, Điều 317 Bộ luật Hình sự 2015, người phạm tội có thể bị truy tố với khung hình phạt là 12-20 năm tù. Ngoài ra, theo Điều 54 Bộ luật Hình sự 2015, trong quá trình giải quyết Vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng cũng sẽ đánh giá đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị can. Nếu bị can có từ 2 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, căn cứ Điều 54 Bộ luật Hình sự 2015, cơ quan tiến hành tố tụng có thể áp dụng mức phạt thấp hơn so với mức phạt về tội danh bị xử lý theo quy định của pháp luật. https://dantri.com.vn/ban-doc/goc-nhin-phap-ly-vu-phu-phep-lon-benh-thanh-do-hop-20260109174006506.htm

Bộ Y tế ban hành danh mục 35 bệnh nghề nghiệp được hưởng BHXH

Bộ Y tế vừa ban hành Thông tư 60/2025/TT-BYT quy định về bệnh nghề nghiệp được hưởng BHXH và hướng dẫn chẩn đoán, giám định mức suy giảm khả năng lao động do bệnh nghề nghiệp. Nhóm bệnh STT Tên bệnh nghề nghiệp I. Bệnh bụi phổi – đường hô hấp 1 Bệnh bụi phổi silic nghề nghiệp 2 Bệnh bụi phổi amiăng nghề nghiệp 3 Bệnh bụi phổi bông nghề nghiệp 4 Bệnh bụi phổi talc nghề nghiệp 5 Bệnh bụi phổi than nghề nghiệp 6 Bệnh viêm phế quản mạn tính nghề nghiệp 7 Bệnh hen nghề nghiệp II. Bệnh nhiễm độc hóa chất, kim loại nặng 8 Bệnh nhiễm độc chì nghề nghiệp 9 Bệnh nhiễm độc nghề nghiệp do benzen và đồng đẳng 10 Bệnh nhiễm độc thủy ngân nghề nghiệp 11 Bệnh nhiễm độc mangan nghề nghiệp 12 Bệnh nhiễm độc 2,4,6-Trinitrotoluen (TNT) nghề nghiệp 13 Bệnh nhiễm độc arsenic nghề nghiệp 14 Bệnh nhiễm độc hóa chất bảo vệ thực vật nghề nghiệp (nhóm phosphor hữu cơ và carbamat) 15 Bệnh nhiễm độc nicotin nghề nghiệp 16 Bệnh nhiễm độc carbon monoxide nghề nghiệp 17 Bệnh nhiễm độc cadmi nghề nghiệp III. Bệnh do yếu tố vật lý 18 Bệnh điếc nghề nghiệp do tiếng ồn 19 Bệnh giảm áp nghề nghiệp 20 Bệnh nghề nghiệp do rung toàn thân 21 Bệnh nghề nghiệp do rung cục bộ 22 Bệnh phóng xạ nghề nghiệp 23 Bệnh đục thể thủy tinh nghề nghiệp IV. Bệnh da nghề nghiệp 24 Bệnh nốt dầu nghề nghiệp 25 Bệnh sạm da nghề nghiệp 26 Bệnh viêm da tiếp xúc nghề nghiệp do crôm 27 Bệnh da nghề nghiệp do tiếp xúc môi trường ẩm ướt, lạnh kéo dài 28 Bệnh da nghề nghiệp do tiếp xúc với cao su tự nhiên và hóa chất phụ gia cao su V. Bệnh truyền nhiễm liên quan nghề nghiệp 29 Bệnh Leptospira nghề nghiệp 30 Bệnh viêm gan vi rút B nghề nghiệp 31 Bệnh lao nghề nghiệp 32 Nhiễm HIV do tai nạn rủi ro nghề nghiệp 33 Bệnh viêm gan vi rút C nghề nghiệp VI. Bệnh ung thư, bệnh đặc biệt 34 Bệnh ung thư trung biểu mô nghề nghiệp 35 Bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona (COVID-19) nghề nghiệp Thông tư là căn cứ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm quyền lợi cho người lao động bị ảnh hưởng sức khỏe do điều kiện lao động, đồng thời thay thế các quy định trước đây đã không còn phù hợp. 35 bệnh nghề nghiệp được hưởng BHXH Theo Điều 3 Thông tư 60/2025/TT-BYT, Danh mục bệnh nghề nghiệp được hưởng BHXH gồm 35 bệnh, chia thành 6 nhóm chính. Nhóm bệnh bụi phổi – đường hô hấp gồm 7 bệnh như: bụi phổi silic, bụi phổi amiăng, bụi phổi than, viêm phế quản mạn tính nghề nghiệp, hen nghề nghiệp… Nhóm bệnh nhiễm độc hóa chất, kim loại nặng gồm 10 bệnh, trong đó có nhiễm độc chì, benzen, thủy ngân, mangan, arsenic, cadmi, carbon monoxide… Nhóm bệnh do yếu tố vật lý gồm 6 bệnh như điếc nghề nghiệp do tiếng ồn, bệnh giảm áp, bệnh do rung toàn thân, rung cục bộ, phóng xạ nghề nghiệp, đục thể thủy tinh nghề nghiệp. Nhóm bệnh da nghề nghiệp gồm 5 bệnh liên quan đến tiếp xúc hóa chất, môi trường ẩm ướt, lạnh kéo dài hoặc cao su tự nhiên. Nhóm bệnh truyền nhiễm liên quan nghề nghiệp gồm 5 bệnh như lao nghề nghiệp, viêm gan B, viêm gan C nghề nghiệp, nhiễm HIV do tai nạn rủi ro nghề nghiệp. Nhóm bệnh ung thư, bệnh đặc biệt gồm ung thư trung biểu mô nghề nghiệp và COVID-19 nghề nghiệp. Nguyên tắc chẩn đoán, điều trị và giám định Thông tư 60/2025/TT-BYT quy định, người lao động sau khi được chẩn đoán mắc bệnh nghề nghiệp phải hạn chế tiếp xúc với yếu tố gây bệnh, được điều trị theo hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế; các bệnh nhiễm độc nghề nghiệp phải được thải độc, giải độc kịp thời. Người sử dụng lao động có trách nhiệm giới thiệu người lao động đi khám giám định y khoa để xác định mức suy giảm khả năng lao động, làm căn cứ hưởng chế độ BHXH; đồng thời bảo đảm việc điều trị, điều dưỡng, phục hồi chức năng theo quy định. Một số bệnh nghề nghiệp không có khả năng điều trị ổn định và các trường hợp ung thư liên quan nghề nghiệp phải chuyển giám định ngay để bảo đảm quyền lợi cho người lao động. Căn cứ bổ sung bệnh nghề nghiệp vào danh mục Theo Thông tư, việc bổ sung bệnh nghề nghiệp được hưởng BHXH dựa trên các tiêu chí như: Xác định được mối liên hệ giữa yếu tố có hại trong lao động với bệnh cụ thể; Tỉ lệ mắc bệnh ở nhóm lao động tiếp xúc cao hơn nhóm không tiếp xúc; Bệnh đã được quốc tế công nhận là bệnh nghề nghiệp, dù chưa đủ điều kiện nghiên cứu tại Việt Nam. Đáng chú ý, nhiều bệnh có thể xuất hiện sau nhiều năm tiếp xúc, kể cả khi người lao động đã nghỉ hưu hoặc chuyển sang công việc khác. Thông tư 60/2025/TT-BYT có hiệu lực từ ngày 15/2/2026, đồng thời bãi bỏ Thông tư 15/2016/TT-BYT và Thông tư 02/2023/TT-BYT về bệnh nghề nghiệp được hưởng BHXH. Việc ban hành Thông tư mới được kỳ vọng sẽ nâng cao hiệu quả quản lý bệnh nghề nghiệp, đồng thời giúp người lao động không bỏ sót quyền lợi BHXH chính đáng của mình./. https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/linh-vuc-bao-hiem-y-te.aspx?ItemID=25982&CateID=169  

Điểm mới tại Thông tư 01/2025/TT-BYT về khám chữa bệnh BHYT (tham khảo)

Thông tư 01 hướng dẫn một số điều của Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi năm 2024 với nhiều quy định liên quan trực tiếp tới quyền lợi của người bệnh, đặc biệt là những người mắc các bệnh ung thư, bệnh hiểm nghèo từ 01/01/2025. 1. Từ 01/01/2025, người mắc bệnh hiểm nghèo không cần giấy chuyển viện Theo quy định trước đây, nếu muốn điều trị tại tuyến trên, người bệnh phải xin giấy chuyển tuyến hàng năm, vì cứ 31/12 hàng năm là hết hạn giấy chuyển tuyến được bảo hiểm y tế (BHYT) chi trả, khiến người bệnh buộc phải làm thủ tục xin chuyển tuyến, rất vất vả, và nhiều khi phải đi lại xa xôi… Tuy nhiên, từ 01/01/2025, người bệnh đã được chẩn đoán mắc bệnh hiếm, bệnh hiểm nghèo, bệnh cần sử dụng kỹ thuật cao thuộc danh mục 62 bệnh hiếm, bệnh hiểm nghèo được ban hành tại Phụ lục I Thông tư 01/2025/TT-BYT có thể đến thẳng cơ sở y tế chuyên sâu để điều trị mà không cần phải xin giấy chuyển viện như trước đây. Cụ thể, danh mục 62 bệnh hiếm, bệnh hiểm nghèo gồm (tham khảo): STT Tên bệnh, nhóm bệnh và các trường hợp Tình trạng, điều kiện 1. Viêm màng não do lao (G01*) 2. U lao màng não (G07*) 3. Lao khác của hệ thần kinh 4. Lao hệ thần kinh, không xác định (G99.8*) 5. Nhiễm mycobacteria ở phổi 6. Nhiễm histoplasma capsulatum ở phổi cấp tính 7. Nhiễm nấm blastomyces ở phổi cấp tính 8. Nhiễm nấm paracoccidioides ở phổi 9. Nhiễm sporotrichum ở phổi (J99.8*) 10. Nhiễm aspergillus ở phổi xâm lấn 11. Nhiễm cryptococcus ở phổi 12. Nhiễm mucor ở phổi 13. Nhiễm mucor lan toả 14. U ác tụy Người bệnh được hưởng quyền lợi ngay trong lượt khám bệnh, chữa bệnh có kết quả chẩn đoán xác định mắc bệnh. 15. U ác tuyến ức Người bệnh được hưởng quyền lợi ngay trong lượt khám bệnh, chữa bệnh có kết quả chẩn đoán xác định mắc bệnh. 16. U ác của tim, trung thất và màng phổi Người bệnh được hưởng quyền lợi ngay trong lượt khám bệnh, chữa bệnh có kết quả chẩn đoán xác định mắc bệnh. 17. U ác của xương và sụn khớp ở vị trí khác và không xác định Người bệnh được hưởng quyền lợi ngay trong lượt khám bệnh, chữa bệnh có kết quả chẩn đoán xác định mắc bệnh. 18. U ác của mãng não Người bệnh được hưởng quyền lợi ngay trong lượt khám bệnh, chữa bệnh có kết quả chẩn đoán xác định mắc bệnh. 19. U ác của não Người bệnh được hưởng quyền lợi ngay trong lượt khám bệnh, chữa bệnh có kết quả chẩn đoán xác định mắc bệnh. 20. U ác của tủy sống, dây thần kinh sọ và các phần khác của hệ thần kinh trung ương Người bệnh được hưởng quyền lợi ngay trong lượt khám bệnh, chữa bệnh có kết quả chẩn đoán xác định mắc bệnh. 21. U ác thứ phát của não và màng não Người bệnh được hưởng quyền lợi ngay trong lượt khám bệnh, chữa bệnh có kết quả chẩn đoán xác định mắc bệnh. 22. Nhóm u ác tính Có đủ 02 điều kiện sau đây: – Người dưới 18 tuổi. – Không áp dụng đối với trường hợp đã được chẩn đoán xác định nhưng không có chỉ định điều trị đặc hiệu. 23. U ác của hệ lympho, hệ tạo máu và các mô liên quan Không áp dụng đối với trường hợp đã được chẩn đoán xác định nhưng không có chỉ định điều trị đặc hiệu. 24. Hội chứng loạn sản tủy xương Không áp dụng đối với trường hợp đã được chẩn đoán xác định nhưng không có chỉ định điều trị đặc hiệu. 25. Các thể suy tủy xương khác Không áp dụng đối với trường hợp đã được chẩn đoán xác định nhưng không có chỉ định điều trị đặc hiệu. 26. Bệnh tăng đông máu khác (Hội chứng kháng phospho lipid) 27. Hội chứng thực bào tế bào máu liên quan đến nhiễm trùng 28. Bệnh đái tháo đường phụ thuộc insuline (Có đa biến chứng) Có biến chứng loét bàn chân độ 2 hoặc có bệnh thận mạn giai đoạn 3 trở lên hoặc có ít nhất 02 trong số các biến chứng: tim mạch, mắt, thần kinh, mạch máu. 29. Bệnh đái tháo đường không phụ thuộc insuline (Có đa biến chứng) Có biến chứng loét bàn chân độ 2 hoặc có bệnh thận mạn giai đoạn 3 trở lên. 30. Rối loạn chuyển hóa acid amin thơm Người dưới 18 tuổi. 31. Rối loạn chuyển hóa acid amin chuỗi nhánh và rối loạn chuyển hóa acid béo Người dưới 18 tuổi. 32. Các rối loạn khác của chuyển hóa acid amin Người dưới 18 tuổi. 33. Nhóm rối loạn dự trữ thể tiêu bào (Bệnh Pompe, bệnh MPS, Bệnh Gaucher, Bệnh Fabry) Người bệnh được hưởng quyền lợi ngay trong lượt khám bệnh, chữa bệnh có kết quả chẩn đoán xác định mắc bệnh. 34. Rối loạn chuyển hóa đồng (bao gồm cả bệnh Wilson) Bệnh Wilson có biến chứng (có một trong các biến chứng của xơ gan, suy gan cấp, tối cấp, suy thận cấp, rối loạn vận động, rối loạn vận ngôn, rối loạn tâm thần, sa sút trí tuệ, động kinh bệnh cơ tim, rối loạn nhịp tim). 35. Thoái hóa dạng bột Không áp dụng đối với trường hợp đã được chẩn đoán xác định nhưng không có chỉ định điều trị đặc hiệu. 36. Rối loạn trầm cảm tái diễn – Kháng thuốc. – Người bệnh được hưởng quyền lợi ngay trong lượt khám bệnh, chữa bệnh có kết quả chẩn đoán xác định mắc bệnh. 37. Rối loạn ám ảnh nghi thức 38. Viêm não, viêm tủy và viêm

Từ hôm nay, thu nhập bao nhiêu không phải đóng thuế?

Từ 1/1/2026, chính sách tăng mức giảm trừ gia cảnh cho cả người nộp thuế và người phụ thuộc có hiệu lực sẽ giúp hàng triệu người được giảm thuế thu nhập so với quy định hiện hành. Luật Thuế thu nhập cá nhân (sửa đổi) có hiệu lực thi hành từ 1/7/2026. Riêng các nội dung liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú sẽ được áp dụng ngay từ kỳ tính thuế năm 2026, tức là từ 1/1/2026. Thu nhập 17 triệu/tháng chưa phải nộp thuế thu nhập Một trong những điểm đáng chú ý nhất của Luật sửa đổi này là việc nâng mức giảm trừ gia cảnh cho bản thân người nộp thuế và người phụ thuộc. Cụ thể, theo quy định mới, mức giảm trừ đối với người nộp thuế tăng từ 11 triệu đồng lên 15,5 triệu đồng/tháng, tương đương 186 triệu đồng/năm; mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc tăng từ 4 triệu đồng lên 6,2 triệu đồng/tháng. Với mức giảm trừ gia cảnh mới, cá nhân không có người phụ thuộc có thu nhập dưới 17 triệu đồng/tháng (sau khi trừ các khoản bảo hiểm bắt buộc) sẽ được miễn thuế thu nhập cá nhân (TNCN) kể từ năm 2026. Trường hợp này, mức đóng bảo hiểm xã hội được tính trên toàn bộ thu nhập, tương ứng 10,5% (gồm 8% bảo hiểm xã hội, 1,5% bảo hiểm y tế và 1% bảo hiểm thất nghiệp), tương đương 1,785 triệu đồng/tháng. Tổng mức giảm trừ đạt 17,285 triệu đồng, cao hơn thu nhập chịu thuế nên cá nhân không phát sinh nghĩa vụ thuế. Tương tự, cá nhân có thu nhập 24 triệu đồng/tháng và 1 người phụ thuộc cũng không phải nộp thuế TNCN sau khi trừ các khoản bảo hiểm bắt buộc. Với trường hợp có 2 người phụ thuộc, cá nhân có thu nhập 31 triệu đồng/tháng sẽ chưa phải nộp thuế khi áp dụng biểu thuế lũy tiến từng phần theo quy định mới. Bên cạnh đó, Luật Thuế TNCN sửa đổi cũng mở rộng các khoản được giảm trừ, bao gồm các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo và các khoản chi cho y tế, giáo dục – đào tạo của người nộp thuế và người phụ thuộc. Các khoản chi này phải đáp ứng đầy đủ điều kiện về hóa đơn, chứng từ theo quy định và không được chi trả từ các nguồn khác. Biểu thuế rút gọn còn 5 bậc Một thay đổi đáng chú ý khác là việc thu gọn biểu thuế lũy tiến từng phần từ 7 bậc xuống còn 5 bậc, đồng thời nới rộng khoảng cách giữa các bậc thuế. Theo đó, các mức thuế suất lần lượt là 5%, 10%, 20%, 30% và 35%. Mức thuế suất 5% áp dụng cho thu nhập tính thuế đến 10 triệu đồng/tháng, trong khi mức cao nhất 35% áp dụng cho phần thu nhập vượt 100 triệu đồng/tháng. Biểu thuế mới được đánh giá là giúp tất cả cá nhân đang nộp thuế theo các bậc hiện hành đều được giảm nghĩa vụ thuế. Với biểu thuế mới, tất cả cá nhân đang thực hiện nộp thuế ở các bậc hiện nay đều được giảm nghĩa vụ thuế so với biểu thuế hiện hành. Biểu thuế mới cũng khắc phục việc tăng đột ngột tại một số bậc, đảm bảo tính hợp lý hơn của biểu thuế. Riêng với bậc 5, mức thuế suất vẫn là 35%. Bộ Tài chính cho biết đây là mức thuế suất trung bình, không quá cao cũng không thấp so với các nước trên thế giới cũng như trong khu vực ASEAN. Một số nước trong khu vực như Thái Lan, Indonesia, Philippines cũng đang quy định mức thuế suất ở bậc thuế cao nhất là 35%; Trung Quốc là 45%. Theo Bộ Tài chính, nếu điều chỉnh mức thuế suất cao nhất từ 35% xuống 30% như một số đề xuất, chính sách có thể bị nhìn nhận là ưu đãi thuế cho nhóm người giàu. Tăng thuế tiêu thụ đặc biệt với rượu, bia Ngoài Luật Thuế thu nhập cá nhân (sửa đổi), Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2025 cũng có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2026, với các chính sách hướng đến việc điều tiết tiêu dùng các mặt hàng có hại cho sức khỏe như hút thuốc, uống bia, rượu, tiêu thụ đường… Đối với mặt hàng thuốc lá, luật giữ nguyên mức thuế suất thuế tỷ lệ phần trăm hiện hành (75%) và bổ sung mức thuế tuyệt đối theo lộ trình 5 năm từ 2027 đến 2031. Đối với mặt hàng rượu, bia, Luật tăng thuế suất thuế tỷ lệ phần trăm theo lộ trình 5%/năm trong 5 năm 2027-2031. Đối với nước giải khát theo Tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) có hàm lượng đường trên 5 g/100 ml, luật quy định mức thuế suất 8% (từ năm 2027) và 10% (từ năm 2028). Đáng chú ý, theo quy định trước đó, tất cả điều hòa nhiệt độ công suất từ 90.000 BTU trở xuống đều thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt. Tuy nhiên, từ 1/1/2026, chỉ điều hòa nhiệt độ công suất trên 24.000 BTU đến 90.000 BTU mới thuộc đối tượng chịu thuế. https://znews.vn/tu-hom-nay-thu-nhap-bao-nhieu-khong-phai-dong-thue-post1615930.html

Công bố Lệnh của Chủ tịch nước về 14 luật và 1 pháp lệnh

Chiều 31/12, tại Phủ Chủ tịch, Văn phòng Chủ tịch nước tổ chức họp báo công bố Lệnh của Chủ tịch nước công bố các luật, pháp lệnh đã được Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XV thông qua. 14 luật và 1 pháp lệnh này gồm: Luật An ninh mạng; Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Luật Dẫn độ; Luật Phòng, chống ma túy; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Lý lịch tư pháp; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến an ninh trật tự; Luật Thi hành án hình sự; Luật Tương trợ tư pháp về hình sự; Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú; Luật Bảo vệ bí mật nhà nước; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp; Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân; Luật Tình trạng khẩn cấp; Luật Viên chức; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Cảnh sát môi trường. Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước, Trợ lý Chủ tịch nước Cấn Đình Tài, chủ trì Họp báo. Phân cấp, phân quyền, cắt giảm thủ tục hành chính Luật An ninh mạng có 8 chương, 45 điều. Luật hoàn thiện và thống nhất hệ thống khái niệm làm nền tảng cho quản lý và bảo vệ an ninh mạng, bao gồm, an ninh mạng, an ninh thông tin mạng, an ninh dữ liệu và không gian mạng quốc gia. Việc chuẩn hóa các khái niệm này giúp xác định rõ phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng của Luật, khắc phục tình trạng chồng chéo, phân tán trong các quy định trước đây; đồng thời tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho tổ chức thi hành và áp dụng pháp luật về an ninh mạng. Luật cũng đã bổ sung, cụ thể hóa các hành vi bị nghiêm cấm gắn với sự phát triển của khoa học, công nghệ và các phương thức hoạt động mới trên không gian mạng. Đồng thời, Luật hoàn thiện cơ chế bảo vệ an ninh mạng theo cấp độ đối với hệ thống thông tin. Quy định việc phân loại hệ thống thông tin theo 5 cấp độ an ninh mạng làm căn cứ áp dụng các biện pháp bảo vệ tương ứng với mức độ rủi ro… Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù có 4 chương, 48 điều. Việc ban hành Luật nhằm hoàn thiện pháp luật về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù theo hướng nhân đạo, toàn diện, cụ thể, đồng bộ, thống nhất, khả thi, ổn định, thúc đẩy hợp tác quốc tế trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; bảo đảm tốt hơn quyền con người của người đang chấp hành án phạt tù; góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý cho việc ký kết và thực hiện các điều ước quốc tế về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Luật quy định Bộ Công an là cơ quan Trung ương về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và quy định vai trò, nhiệm vụ của cơ quan Trung ương về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, trong đó có trách nhiệm lập yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Luật Dẫn độ có 4 chương, 45 điều. Luật Dẫn độ đã thể chế hóa quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về tăng cường hội nhập quốc tế, cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực tư pháp; tuân thủ Hiến pháp năm 2013 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; bảo đảm các quy định của Luật có tính khả thi, phù hợp với điều kiện, tình hình Việt Nam trong giai đoạn hiện nay; kế thừa các quy định còn phù hợp điều chỉnh lĩnh vực này của Luật Tương trợ tư pháp năm 2007; tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm xây dựng pháp luật của một số nước về dẫn độ. Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 gồm 8 chương, 56 điều. Trên cơ sở nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm quốc tế và quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên về giám sát điện tử, Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 đã bổ sung quy định về biện pháp giám sát điện tử theo hướng xác định đối tượng áp dụng (3 đối tượng) gồm: Người cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng; người bị quản lý sau cai nghiện; người điều trị nghiện ma túy bằng thuốc thay thế; quy định về thẩm quyền áp dụng giao Trưởng Công an xã; quy định trách nhiệm của người bị giám sát điện tử và giao Chính phủ quy định chi tiết về thiết bị, đối tượng; quy định điều kiện, thời hạn, trình tự, thủ tục, xử lý vi phạm trong việc áp dụng biện pháp giám sát điện tử. Việc bổ sung quy định này bảo đảm phù hợp với quy định của Hiến pháp về quyền con người, đồng thời đảm bảo tính linh hoạt trong áp dụng khi cần phải thay đổi các quy định cho phù hợp với thực tiễn. Luật sửa đổi, bổ sung quy định về thời hạn cai nghiện ma túy (Điều 29) đối với người cai nghiện ma

Chính sách BHYT từ năm 2026: Mở rộng quyền lợi khám, chữa bệnh, nâng cao mức hưởng cho người tham gia.

Chính sách BHYT bước vào giai đoạn cải cách quan trọng với nhiều thay đổi mang tính đột phá, mở rộng quyền lợi cho người tham gia, đặc biệt là các nhóm yếu thế trong xã hội. Theo các Nghị quyết của Quốc hội và lộ trình hoàn thiện chính sách an sinh xã hội, người dân sẽ được thụ hưởng mức chi trả cao hơn, phạm vi quyền lợi rộng hơn và tiếp cận dịch vụ y tế ngày càng công bằng, bền vững.   Thêm nhiều quyền lợi cho người đi khám bệnh chữa bệnh. Ảnh: Internet 11 nhóm được hưởng 100% chi phí khám chữa bệnh Năm 2026, mức hưởng của người tham gia BHYT được thực hiện theo quy định tại Điểm a, Khoản 1, Điều 22, Luật BHYT năm 2024. Cụ thể gồm 11 nhóm: Thứ nhất là sĩ quan quân đội nhân dân, quân nhân chuyên nghiệp đang tại ngũ; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ và sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật đang công tác trong lực lượng công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân. Thứ hai là hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân đang tại ngũ; hạ sĩ quan, chiến sĩ nghĩa vụ trong công an nhân dân; học viên quân đội, học viên công an, học viên cơ yếu hưởng sinh hoạt phí là người Việt Nam. Thứ ba là học viên quân đội, học viên công an, học viên cơ yếu hưởng sinh hoạt phí là người nước ngoài. Thứ tư là học viên đào tạo sĩ quan dự bị từ 3 tháng trở lên chưa tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế. Thứ năm là dân quân thường trực. Thứ sáu là người có công với cách mạng theo quy định của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng; cựu chiến binh. Thứ bảy là trẻ em dưới 6 tuổi. Thứ tám là thân nhân của liệt sĩ, người có công nuôi dưỡng liệt sĩ theo quy định của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng. Thứ chín là người thuộc hộ gia đình nghèo; người dân tộc thiểu số thuộc hộ gia đình cận nghèo đang cư trú tại xã, thôn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; người dân tộc thiểu số đang cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn; người đang cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; người đang sinh sống tại xã đảo, huyện đảo. Thứ mười là người đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng; người đang hưởng trợ cấp nuôi dưỡng hằng tháng theo quy định của pháp luật có liên quan; người đang hưởng trợ cấp tuất hằng tháng mà thuộc đối tượng hưởng trợ cấp xã hội. Cuối cùng là người từ đủ 75 tuổi trở lên đang hưởng trợ cấp tuất hằng tháng, người từ đủ 70 tuổi đến dưới 75 tuổi thuộc hộ cận nghèo đang hưởng trợ cấp tuất hàng tháng. Thuốc tiếp tục là “tấm lá chắn” tài chính, giúp người dân yên tâm chăm sóc sức khỏe Thêm 3 trường hợp được hưởng 100% chi phí khám chữa bệnh Ngoài 11 nhóm trên, các nhóm tham gia BHYT khác chỉ được hưởng mức chi trả 80%-95% chi phí khám chữa bệnh. Tuy nhiên, các nhóm này vẫn được hưởng mức chi trả 100% chi phí khám chữa bệnh trong 3 trường hợp được quy định tại Điểm b, Điểm c và Điểm d Khoản 1 Điều 22 Luật BHYT năm 2024. Thứ nhất là trường hợp chi phí cho một lần khám bệnh, chữa bệnh thấp hơn 15% mức lương cơ sở (hiện là 351.000 đồng). Thứ hai là trường hợp người bệnh đến khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc cấp khám bệnh, chữa bệnh ban đầu. Các cơ sở này bao gồm: Trạm y tế; cơ sở khám bệnh, chữa bệnh y học gia đình; trạm y tế quân – dân y, phòng khám quân – dân y; trung tâm y tế cấp huyện có hoạt động khám bệnh, chữa bệnh được cấp giấy phép hoạt động theo hình thức tổ chức là phòng khám; y tế cơ quan, đơn vị, tổ chức; cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc cấp khám bệnh, chữa bệnh ban đầu trong quân đội, công an… Thứ ba là trường hợp người bệnh có thời gian tham gia BHYT 5 năm liên tục trở lên và có số tiền cùng chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong năm lớn hơn 6 lần mức tham chiếu (mức này trong năm 2026 là: 2.340.000 đồng x 6 lần = 14.040.000 đồng). Với việc tăng mức hưởng, mở rộng phạm vi chi trả và ưu tiên các nhóm yếu thế, chính sách BHYT từ năm 2026 hướng tới giảm mạnh chi tiền túi của người bệnh. Mục tiêu được đặt ra là đưa tỷ lệ chi trả phí KCB của người dân xuống dưới 30% trong giai đoạn 2028 – 2030. Đây là bước đi đột phá nhằm bảo đảm công bằng trong tiếp cận dịch vụ y tế, hạn chế tình trạng người dân rơi vào nghèo đói do chi phí khám, chữa bệnh. Theo định hướng của Quốc hội và Chính phủ, việc mở rộng quyền lợi BHYT từ năm 2026 là nền tảng cho lộ trình dài hạn: Nghiên cứu điều chỉnh mức đóng BHYT phù hợp với khả năng của người dân, đồng thời tiếp tục nâng mức hưởng; Mở rộng thêm danh mục thuốc, kỹ thuật; thí điểm chi trả dịch vụ phòng bệnh, sàng lọc bệnh phổ biến; tiến tới bao phủ BHYT toàn dân một cách bền vững; Hướng tới mục tiêu miễn phí một số dịch vụ y tế

Đặt Lịch Khám

    Đặt Lịch Khám