BỆNH VIỆC BẮC THĂNG LONG
BẮC THĂNG LONG HOSPITAL

(84-24).0889.615.815

Email: bvbtl@hanoi.gov.vn

BỆNH VIỆC BẮC THĂNG LONG
BẮC THĂNG LONG HOSPITAL

PHÁP LUẬT - ĐỜI SỐNG

Pháp luật - Đời sống

Mức xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm về bảo vệ dữ liệu cá nhân

Chính phủ ban hành Nghị định số 330/2026/NĐ-CP ngày 19/8/2026 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Trong đó, đáng chú ý là quy định xử lý các hành vi vi phạm liên quan đến bảo vệ dữ liệu cá nhân. Nghị định này gồm 4 chương, 82 điều quy định về hành vi vi phạm hành chính; hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc và hành vi vi phạm hành chính đang thực hiện; hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính; đối tượng bị xử phạt; thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền cụ thể theo từng chức danh và thẩm quyền lập biên bản đối với vi phạm hành chính; việc thi hành các hình thức xử phạt vi phạm hành chính, các biện pháp khắc phục hậu quả trong từng lĩnh vực an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Các hành vi vi phạm hành chính khác có liên quan đến lĩnh vực an ninh mạng và lĩnh vực bảo vệ dữ liệu cá nhân nhưng không được quy định tại Nghị định này thì áp dụng theo quy định tại các nghị định đó của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước có liên quan để xử phạt. Trường hợp một hành vi đồng thời vi phạm quy định của Nghị định này và nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước khác, cơ quan có thẩm quyền phải xác định đúng bản chất hành vi và căn cứ pháp lý để áp dụng xử phạt. Trường hợp hành vi đồng thời được quy định tại Nghị định này và nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước khác thì áp dụng Nghị định này nếu hành vi vi phạm trên lĩnh vực an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân; trường hợp dấu hiệu cấu thành hành vi vi phạm nghĩa vụ, trách nhiệm, điều cấm khác thuộc phạm vi quản lý nhà nước chuyên ngành khác thì áp dụng nghị định của lĩnh vực đó. Đối tượng, nguyên tắc áp dụng 1. Cá nhân, tổ chức Việt Nam; cá nhân, tổ chức nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong phạm vi lãnh thổ, vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trên tàu bay mang quốc tịch Việt Nam, tàu biển mang cờ quốc tịch Việt Nam (sau đây gọi là cá nhân, tổ chức), trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác. 2. Tổ chức quy định tại khoản 1 nêu trên bao gồm: a) Doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, các đơn vị phụ thuộc doanh nghiệp; b) Tổ chức được thành lập theo quy định của Luật Hợp tác xã; c) Tổ chức được thành lập theo quy định của Luật Đầu tư; d) Tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, các tổ chức xã hội khác; đ) Doanh nghiệp nước ngoài hoặc chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp nước ngoài cung cấp dịch vụ viễn thông, Internet, dịch vụ cung cấp nội dung trên không gian mạng, công nghệ thông tin, an ninh mạng, cung cấp dịch vụ xuyên biên giới; cơ quan, tổ chức nước ngoài trực tiếp tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động xử lý dữ liệu cá nhân của công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch đang sinh sống tại Việt Nam đã được cấp giấy chứng nhận căn cước; e) Điểm cung cấp dịch vụ viễn thông, trò chơi điện tử công cộng, truy nhập Internet công cộng; g) Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nội dung thông tin trên mạng viễn thông di động và không gian mạng; h) Đơn vị sự nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức phi chính phủ nước ngoài sử dụng tần số vô tuyến điện; i) Nhà đăng ký tên miền; tổ chức, doanh nghiệp đăng ký tên miền; k) Chủ quản hệ thống thông tin và đơn vị vận hành hệ thống thông tin; l) Tổ chức khác theo quy định của pháp luật. 3. Hộ kinh doanh, hộ gia đình, cộng đồng dân cư thực hiện hành vi vi phạm hành chính quy định tại Nghị định này bị áp dụng mức phạt tiền như đối với cá nhân vi phạm hành chính. 4. Bộ Quốc phòng quản lý về an ninh mạng đối với nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; Bộ Công an quản lý về an ninh mạng đối với các đơn vị quân đội có hoạt động dân sự, kinh tế theo thẩm quyền; đối với các nội dung giao thoa (nếu có), Bộ Công an và Bộ Quốc phòng thống nhất quy chế phối hợp. Xử phạt hành chính đối với các vi phạm về bảo vệ dữ liệu cá nhân Về bảo vệ dữ liệu cá nhân, Nghị định quy định xử phạt hành chính đối với các vi phạm quy định về: Nguyên tắc bảo vệ dữ liệu cá nhân và các hành vi bị nghiêm cấm; lợi dụng hoạt động bảo vệ dữ liệu cá nhân để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật; xử lý dữ liệu cá nhân gây ảnh hưởng đến an

Từ 15/5, phạt tới 20 triệu đồng nếu bán thuốc kê đơn không có đơn của bác sĩ

Nghị định 90/2026 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế, hiệu lực từ ngày 15/5, bổ sung nhiều quy định nhằm kiểm soát chặt hoạt động kinh doanh và lưu thông thuốc trên thị trường. Theo đó, các hành vi vi phạm trong mua bán, kinh doanh thuốc có thể bị phạt từ 10 đến 20 triệu đồng, áp dụng cho cả cơ sở bán lẻ và hệ thống phân phối. Một trong những vi phạm đáng chú ý là bán thuốc kê đơn khi không có đơn thuốc của bác sĩ. Đây là thực trạng phổ biến tại nhiều nhà thuốc, tiềm ẩn nguy cơ sử dụng thuốc sai cách, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân. Ngoài ra, việc mua bán thuốc phục vụ thử nghiệm lâm sàng hoặc thuốc được pha chế theo đơn nhưng đưa ra ngoài cơ sở khám chữa bệnh khi chưa được phép cũng thuộc nhóm bị xử phạt. Tương tự, hành vi mua bán thuốc hóa dược pha chế theo đơn của nhà thuốc khác hoặc kinh doanh thuốc nằm trong danh mục hạn chế bán lẻ khi chưa được cơ quan có thẩm quyền cho phép cũng không được chấp nhận. Nghị định cũng siết chặt quản lý chất lượng thuốc. Các cơ sở không thực hiện cách ly hoặc biệt trữ đối với thuốc kém chất lượng, thuốc đã hết hạn, thuốc bị thu hồi hoặc không rõ nguồn gốc sẽ bị xử phạt. Trường hợp vẫn tiếp tục mua bán thuốc vi phạm chất lượng sau khi đã có thông báo thu hồi cũng bị xử lý nghiêm. Đối với hệ thống chuỗi nhà thuốc, việc thay đổi người chịu trách nhiệm chuyên môn về dược nhưng không thông báo cho cơ quan quản lý, hoặc không cập nhật danh sách nhà thuốc trong chuỗi cũng bị coi là vi phạm. Hoạt động kinh doanh thuốc qua thương mại điện tử cũng được đưa vào diện kiểm soát. Cơ sở bán thuốc kê đơn, thuốc hạn chế bán lẻ hoặc các loại thuốc cần kiểm soát đặc biệt qua mạng, khi không thuộc trường hợp được phép, sẽ bị xử phạt. Đồng thời, việc kinh doanh thuốc trực tuyến nhưng không thông qua các nền tảng hợp lệ hoặc không thông báo với cơ quan chức năng trước khi triển khai cũng bị xử lý theo quy định. Các quy định mới được kỳ vọng sẽ hạn chế tình trạng mua bán thuốc tràn lan, đặc biệt là thuốc kê đơn, đồng thời nâng cao trách nhiệm của các cơ sở kinh doanh dược trong bối cảnh thương mại điện tử ngày càng phát triển. Trên môi trường trực tuyến, việc rao bán thuốc kê đơn, thuốc thuộc danh mục hạn chế bán lẻ hoặc các loại thuốc cần kiểm soát đặc biệt bị cấm hoàn toàn trên các sàn thương mại điện tử. Những cơ sở muốn triển khai hình thức kinh doanh thuốc qua mạng bắt buộc phải thông báo và được cơ quan chức năng chấp thuận trước khi hoạt động. Cơ quan quản lý đồng thời không cho phép giao dịch các loại thuốc phục vụ thử nghiệm lâm sàng, thuốc pha chế trong bệnh viện nhưng bị đưa ra ngoài lưu hành, cũng như các loại thuốc hạn chế khi chưa được cấp phép theo quy định. Với các chuỗi nhà thuốc quy mô lớn, doanh nghiệp phải công khai đầy đủ hệ thống cơ sở trực thuộc và kịp thời báo cáo khi có thay đổi về người phụ trách chuyên môn dược. Theo nhận định của nhiều chuyên gia, việc tăng mức xử phạt và siết quy định sẽ góp phần thay đổi thói quen tự ý dùng thuốc trong cộng đồng, hướng người dân đến việc thăm khám và điều trị đúng chỉ định. Đồng thời, các nhà thuốc và nhân viên y tế buộc phải thận trọng hơn trong kê đơn, đặc biệt với kháng sinh, chỉ sử dụng khi thực sự cần thiết, trong bối cảnh nguồn thuốc này cũng đang được kiểm soát chặt từ sản xuất đến sử dụng. Nguồn – Báo VTC News

Từ 1/7: tăng phân cấp, cắt giảm nhiều thủ tục hành chính lĩnh vực y tế

Chính phủ ban hành Nghị quyết số 21/2026/NQ-CP ngày 29/4/2026 về cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính và phân cấp thẩm quyền thực hiện thủ tục hành chính trong lĩnh vực y tế. Nghị quyết này quy định cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính và phân cấp thẩm quyền thực hiện thủ tục hành chính trong lĩnh vực y tế thuộc thẩm quyền của Chính phủ. Phân cấp thẩm quyền thực hiện thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực y tế (*) Nghị quyết phân cấp thẩm quyền thực hiện thủ tục hành chính về an toàn thực phẩm : Việc cấp giấy xác nhận nội dung quảng cáo đối với thực phẩm bảo vệ sức khỏe được quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị định số 15/2018/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Hồ sơ, thủ tục thực hiện theo quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị quyết này. Phân cấp thẩm quyền thực hiện thủ tục hành chính về phòng bệnh: Việc đề nghị nhập khẩu mẫu bệnh phẩm được quy định tại Điều 36 Nghị định số 89/2018/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm về kiểm dịch y tế biên giới được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 155/2018/NĐ-CP thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Hồ sơ, thủ tục thực hiện theo quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị quyết này. Phân cấp thẩm quyền thực hiện thủ tục hành chính về cấp giấy phép hành nghề khám bệnh, chữa bệnh: Việc cấp mới, cấp lại, gia hạn, điều chỉnh, đình chỉ, thu hồi giấy phép hành nghề khám bệnh, chữa bệnh (bao gồm cả chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh đã được cấp theo quy định tại Luật Khám bệnh, chữa bệnh số 40/2009/QH12 , sau đây gọi tắt là giấy phép hành nghề khám bệnh, chữa bệnh cho các đối tượng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 28 Luật Khám bệnh, chữa bệnh và khoản 8 Điều 143 Nghị định số 96/2023/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Khám bệnh, chữa bệnh) được quy định tại khoản 6 Điều 14, khoản 15 Điều 16, khoản 2 Điều 18, khoản 3 Điều 20, khoản 7 Điều 22, khoản 9 Điều 24, khoản 2 Điều 26, khoản 5 Điều 130, khoản 18 Điều 132, khoản 2 Điều 134, khoản 4 Điều 136 Nghị định số 96/2023/NĐ-CP thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Hồ sơ, thủ tục thực hiện theo quy định tại Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị quyết này. Phân cấp thẩm quyền thực hiện thủ tục hành chính về cấp giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh: Thẩm quyền cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh đối với trường hợp thay đổi thời gian làm việc hoặc thay đổi tên, địa chỉ của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nhưng không thay đổi địa điểm cho bệnh viện tư nhân được quy định tại Điều 63 và Điều 65 Nghị định số 96/2023/NĐ-CP thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Hồ sơ, thủ tục thực hiện theo quy định tại Phụ lục IV ban hành kèm theo Nghị quyết này. Các quy định về phân cấp thẩm quyền thực hiện thủ tục hành chính nêu trên có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026. Cắt giảm, đơn giản hóa các điều kiện kinh doanh thuộc lĩnh vực y tế (**) Nghị quyết nêu rõ, không quy định điều kiện kinh doanh liên quan đến an toàn sinh học tại phòng xét nghiệm quy định tại các điều 5, 6 và 7 Nghị định số 103/2016/NĐ-CP quy định về bảo đảm an toàn sinh học tại phòng xét nghiệm được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 155/2018/NĐ-CP. Không quy định điều kiện kinh doanh liên quan đến dịch vụ tiêm chủng quy định tại Điều 9 và Điều 10 Nghị định số 104/2016/NĐ-CP quy định về hoạt động tiêm chủng được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 155/2018/NĐ-CP. Không quy định điều kiện kinh doanh liên quan đến tổ chức đào tạo thực hành trong đào tạo khối ngành sức khỏe quy định tại Điều 8, Điều 9, khoản 2 Điều 10 và Điều 11 Nghị định số 111/2017/NĐ-CP quy định về tổ chức đào tạo thực hành trong đào tạo khối ngành sức khỏe và Điều 140 Nghị định số 96/2023/NĐ-CP. Không quy định điều kiện kinh doanh liên quan đến cung cấp dịch vụ điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế quy định tại Điều 16 và Điều 17 Nghị định số 141/2024/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS). Không quy định điều kiện kinh doanh liên quan đến cung cấp dịch vụ tư vấn, xét nghiệm HIV quy định tại khoản 2 Điều 38, Điều 39, Điều 40 và Điều 41 Nghị định số 141/2024/NĐ-CP và khoản 1, 2 Điều 5 Nghị định số 63/2021/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS). Không quy định điều kiện kinh doanh liên quan đến cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh quy định tại Điều 5; khoản 1 và khoản 2 Điều 6; khoản 4 Điều 7; Điều 8; khoản 1, điểm a, b khoản 2, điểm a, đ, e khoản 4, các khoản 5, 6, 7, 8, 9, 10 và 11 Điều 40; điểm a,

Tăng cường quản lý, xử lý vi phạm trong lĩnh vực y tế và bảo hiểm y tế

Từ ngày 15/5, Nghị định số 90/2026/NĐ-CP ngày 30/3/2026 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế chính thức có hiệu lực, với nhiều nội dung sửa đổi, bổ sung theo hướng tăng mức xử phạt, tăng cường kỷ cương, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước. Nghị định số 90/2026/NĐ-CP quy định cụ thể các hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả trong nhiều lĩnh vực y tế. Theo đó, vi phạm hành chính trong lĩnh vực này là những hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm các quy định pháp luật về quản lý nhà nước trong y tế nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, bao gồm các lĩnh vực: y tế dự phòng, phòng, chống HIV/AIDS; các quy định khám bệnh, chữa bệnh; dược, mỹ phẩm; thiết bị y tế; vi phạm quy định BHYT và dân số. Nghị định số 90/2026/NĐ-CP bổ sung, điều chỉnh nhiều quy định nhằm siết chặt quản lý, như quy định về kinh doanh và sử dụng sản phẩm dinh dưỡng cho trẻ nhỏ; quy tắc hành nghề khám, chữa bệnh; xuất khẩu, nhập khẩu thuốc, nguyên liệu làm thuốc; đồng thời tăng mức xử phạt đối với nhiều hành vi vi phạm. Trong lĩnh vực BHYT, Nghị định số 90/2026/NĐ-CP làm rõ các hành vi vi phạm phổ biến như chậm đóng, trốn đóng BHYT chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; lập danh sách tham gia không đúng quy định; đưa người không thuộc diện quản lý vào danh sách tham gia BHYT; sử dụng thẻ BHYT sai quy định trong khám, chữa bệnh. Nghị định số 90/2026/NĐ-CP bổ sung hành vi vi phạm liên quan đến việc lập danh sách tham gia BHYT, qua đó siết chặt trách nhiệm của người sử dụng lao động. Theo quy định, trường hợp không lập hoặc lập danh sách không đầy đủ số người tham gia BHYT trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết hạn phải thực hiện, nhưng chưa đến mức bị coi là trốn đóng, sẽ bị xử phạt từ 1 triệu đồng đến 35 triệu đồng, tùy theo số lượng lao động vi phạm. Đối với hành vi cho người khác mượn thẻ hoặc sử dụng thẻ BHYT của người khác khi khám, chữa bệnh, mức phạt được áp dụng từ 1 triệu đồng đến dưới 20 triệu đồng, căn cứ tính chất và mức độ vi phạm. Nghị định cũng quy định mức phạt từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với trường hợp thuộc diện bắt buộc nhưng không tham gia BHYT. Đồng thời, người sử dụng lao động không lập hoặc lập danh sách không đầy đủ số người phải tham gia BHYT sau 60 ngày kể từ ngày hết hạn quy định có thể bị xử phạt từ 2 triệu đồng đến 70 triệu đồng, tùy từng trường hợp cụ thể. Nghị định cũng quy định rõ các biện pháp khắc phục hậu quả tương ứng với từng hành vi vi phạm, nhằm nâng cao hiệu lực thực thi và bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật./.

Những quy định mới về công chứng vừa được Quốc hội thông qua

Luật Công chứng sửa đổi, bổ sung năm 2026 đưa ra nhiều quy định mới nhằm thu hẹp phạm vi giao dịch phải công chứng, ứng dụng công nghệ và đơn giản hóa quy trình. Bỏ 6 giao dịch phải công chứng Luật Công chứng 2024 quy định giao dịch phải công chứng là những giao dịch quan trọng, có yêu cầu cao về an toàn pháp lý và được luật quy định hoặc giao Chính phủ quy định phải thực hiện công chứng. Quy định này được sửa đổi, bổ sung năm 2026 theo hướng giao Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan rà soát, cập nhật và công bố danh mục các giao dịch phải công chứng, chứng thực trên Cổng thông tin điện tử của Bộ. Cách tiếp cận này vừa góp phần thu hẹp phạm vi các giao dịch phải công chứng, trong đó giảm 6 loại giao dịch cụ thể đang được quy định trong các nghị định. Như vậy, Luật năm 2026 vừa khắc phục nguy cơ chồng chéo, xung đột với các luật chuyên ngành. Chính sách này tạo thuận lợi, giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho tổ chức, cá nhân và nâng cao tính minh bạch, ổn định của hệ thống pháp luật. Việc xác định giao dịch thuộc diện bắt buộc công chứng được thực hiện thông qua danh mục công khai, thay vì quy định phân tán. Danh mục này có giá trị tham chiếu, hỗ trợ tra cứu, áp dụng thống nhất trong phạm vi toàn quốc. Quy định này đồng thời bảo đảm nguyên tắc các giao dịch cụ thể thuộc diện bắt buộc công chứng phải do luật chuyên ngành quy định. Đẩy mạnh khai thác dữ liệu thay thế giấy tờ Một nội dung mới được bổ sung là việc sử dụng dữ liệu từ các cơ sở dữ liệu để phục vụ hoạt động công chứng. Theo Luật sửa đổi, trong trường hợp thông tin về người yêu cầu công chứng hoặc tài sản đã có trong các cơ sở dữ liệu do cơ quan có thẩm quyền quản lý và đủ điều kiện khai thác, người yêu cầu công chứng không phải cung cấp giấy tờ có chứa thông tin đó. Tổ chức hành nghề công chứng có thể khai thác, sử dụng các thông tin này để giải quyết hồ sơ. Chỉ trong trường hợp không khai thác được hoặc thông tin chưa đầy đủ, không chính xác, công chứng viên mới yêu cầu người dân bổ sung giấy tờ. Quy định này áp dụng đối với các thành phần hồ sơ như giấy tờ tùy thân, giấy tờ về quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản và các giấy tờ liên quan khác. Chính sách này giúp giảm bớt gánh nặng chuẩn bị hồ sơ, không cần phải đi công chứng/chứng thực bản sao giấy tờ trước khi đi làm thủ tục công chứng giao dịch chính. Việc này cũng hạn chế tình trạng sử dụng giấy tờ giả mạo vì công chứng viên đối soát trực tiếp với dữ liệu gốc của cơ quan nhà nước thay vì nhìn trên bản giấy. Mở rộng thẩm quyền với một số loại giao dịch liên quan bất động sản Luật Công chứng sửa đổi năm 2026 đã điều chỉnh theo hướng mở rộng thẩm quyền công chứng không theo địa hạt đối với các giao dịch không có đối tượng trực tiếp là bất động sản. Trong đó có hợp đồng ủy quyền, hợp đồng đặt cọc, chuyển nhượng hợp đồng. Chính sách này dựa trên tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp. Đồng thời, Luật giao Chính phủ quy định lộ trình thực hiện việc công chứng giao dịch có đối tượng là bất động sản không phụ thuộc địa giới hành chính trên phạm vi toàn quốc. Việc này phải gắn với điều kiện vận hành đầy đủ, đồng bộ của cơ sở dữ liệu công chứng và các cơ sở dữ liệu liên quan, bảo đảm tính khả thi, chặt chẽ và an toàn pháp lý. Luật tiếp tục quy định thẩm quyền công chứng giao dịch có đối tượng là bất động sản theo phạm vi tỉnh, thành phố nơi tổ chức hành nghề công chứng đặt trụ sở. Quy định này phù hợp với đặc thù mô hình công chứng hiện hành. Công chứng viên chịu trách nhiệm về tính xác thực, hợp pháp của giao dịch, bao gồm cả việc kiểm tra, xác minh tình trạng pháp lý và thực tế của bất động sản khi cần thiết. Chính phủ nhìn nhận việc duy trì thẩm quyền công chứng giao dịch bất động sản theo địa giới hành chính giúp hạn chế rủi ro phát sinh từ việc công chứng trùng lặp đối với cùng một tài sản, bảo đảm an toàn pháp lý cho giao dịch. Xây dựng cơ sở dữ liệu công chứng Luật sửa đổi cũng bổ sung một điều mới về Cơ sở dữ liệu công chứng. Đây là hệ thống thông tin về công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng, giao dịch đã được công chứng; thông tin về tình trạng giao dịch của tài sản; biện pháp ngăn chặn và cảnh báo rủi ro trong hoạt động công chứng; văn bản công chứng và các tài liệu khác trong hồ sơ công chứng. Luật quy định cơ sở dữ liệu công chứng phải được cập nhật đầy đủ, chính xác, kịp thời và bảo đảm an ninh, an toàn theo quy định của pháp luật. Việc thu thập, cung cấp thông tin để đưa vào cơ sở dữ liệu công chứng và khai thác, sử dụng, phải bảo mật thông tin về nội dung công chứng, bảo vệ đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình. Bộ Tư

Tuyên truyền pháp luật về trật tự, an toàn giao thông trong dịp nghỉ lễ

Sở Y tế vừa ra văn bản chỉ đạo cơ quan văn phòng Sở Y tế và các đơn vị trong ngành tích cực tuyên truyền pháp luật về công tác đảm bảo trật tự, an toàn giao thông phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân trong dịp nghỉ lễ giỗ tổ Hùng Vương, nghỉ lễ 30/4-1/5 và cao điểm hè năm 2026. Hà Nội rực rỡ sắc màu đỏ tươi từ lá cờ Tổ quốc mang đến niềm tự hào và tinh thần dân tộc. Sở Y tế đề nghị các đơn vị thông tin, quán triệt về Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ; Luật đường bộ; Luật đường sắt; Luật phòng, chống tác hại của rượu, bia, chế tài xử phạt vi phạm khi tham gia giao thông và các văn bản chỉ đạo của trung ương và thành phố về tăng cường các biện pháp bảo đảm trật tự, an toàn giao thông tới cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và nhân dân bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú. Tuyên truyền, phổ biến 12 video về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông; bảo vệ môi trường, an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên thiết bị điện tử theo mô hình “Cầu thang pháp luật” và màn hình Led, góp phần tháo gỡ các điểm nghẽn trên địa bàn thành phố về ùn tắc giao thông và trật tự đô thị. Thông qua công tác tuyên truyền để hướng dẫn cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và nhân dân tự giác tuân thủ, chấp hành pháp luật về trật tự, an toàn giao thông; tích cực sử dụng phương tiện giao thông công cộng, phương tiện giao thông sử dụng năng lượng sạch; hạn chế sử dụng phương tiện giao thông cá nhân, phương tiện giao thông phát thải gây ô nhiễm môi trường, góp phần giảm phát thải, giảm ùn tắc giao thông và tai nạn giao thông. https://soyte.hanoi.gov.vn/hoat-dong-cua-nganh/tuyen-truyen-phap-luat-ve-trat-tu-an-toan-giao-thong-trong-dip-nghi-le-2849260424155520766.htm Xem thêm: Ra mắt Cổng thông tin an toàn thực phẩm Hà Nội

Luật Phục hồi, phá sản năm 2025: Những điểm mới nổi bật về BHXH

Từ ngày 01/3/2026, Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 chính thức có hiệu lực thi hành. Luật đã bổ sung nhiều quy định nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm y tế; đồng thời cũng có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khăn, tái cơ cấu sản xuất kinh doanh.   https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/Infographic.aspx?ItemID=26435&CateID=184  

Chỉ thị 57-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin, an ninh dữ liệu trong hệ thống chính trị

Thay mặt Ban Bí thư, đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư đã ký ban hành Chỉ thị số 57-CT/TW ngày 31/12/2025 về tăng cường bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin, an ninh dữ liệu trong hệ thống chính trị. Thời gian qua, thực hiện chủ trương, các nghị quyết, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, công tác bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin, an ninh dữ liệu đã được các cấp ủy, tổ chức đảng quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo; nhận thức về tầm quan trọng của an ninh mạng được nâng lên; hành lang pháp lý từng bước được hoàn thiện; năng lực kỹ thuật bảo đảm an ninh mạng của một số cơ quan được tăng cường; hoạt động hợp tác quốc tế lĩnh vực an ninh mạng đạt được dấu ấn quan trọng, góp phần đưa chỉ số an ninh mạng toàn cầu của Việt Nam vươn lên thứ hạng cao trên các bảng xếp hạng quốc tế. An ninh mạng, bảo mật thông tin, an ninh dữ liệu góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của các cơ quan, tổ chức sau sắp xếp, sáp nhập, hợp nhất An ninh mạng, bảo mật thông tin, an ninh dữ liệu đã được đặc biệt coi trọng trong quá trình chuyển đổi số quốc gia, triển khai Chính phủ điện tử, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị sau sắp xếp, sáp nhập, hợp nhất, điều chỉnh địa giới hành chính và thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin, an ninh dữ liệu vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế: Công tác quản lý nhà nước chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn, tổ chức thực hiện chồng chéo, thiếu đồng bộ; Những hạn chế trong công tác an ninh mạng, bảo mật thông tin Nhận thức của một bộ phận lãnh đạo, cán bộ, đảng viên và Nhân dân về an ninh mạng, bảo mật thông tin còn chưa đầy đủ và sâu sắc; Còn tình trạng một số hệ thống thông tin chưa đủ điều kiện an ninh mạng theo quy định, nhưng đã được đưa vào sử dụng, tạo ra các rủi ro về an ninh mạng, buộc phải đầu tư bổ sung để bảo đảm tuân thủ các quy định của pháp luật, các điều kiện về an ninh mạng; Nguồn nhân lực chất lượng cao còn thiếu; Ngân sách dành cho an toàn, bảo mật thông tin chưa đáp ứng yêu cầu; Hạ tầng số chưa đồng bộ, một số hệ thống được đầu tư manh mún chưa bảo đảm các tiêu chuẩn an ninh mạng tối thiểu; Mức độ tự chủ về công nghệ, sản phẩm an ninh mạng chưa cao. Công cuộc chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cấp bách với công tác bảo đảm an ninh thông tin, an ninh mạng quốc gia trong tình hình mới Dự báo tình hình an ninh mạng, bảo mật thông tin, an ninh dữ liệu trên thế giới và trong nước có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường. Trong bối cảnh dữ liệu trở thành tài nguyên chiến lược, trí tuệ nhân tạo phát triển nhanh chóng, không gian mạng trở thành không gian tác chiến mới, công tác bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu, bảo mật thông tin không chỉ là nhiệm vụ kỹ thuật mà là vấn đề an ninh quốc gia, chủ quyền quốc gia, ổn định chính trị, xã hội và năng lực cạnh tranh quốc gia. Việt Nam phải đối mặt với những thách thức nghiêm trọng đe doạ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Đồng thời, công cuộc chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cấp bách đối với công tác bảo đảm an ninh thông tin, an ninh mạng quốc gia trong tình hình mới. Tại Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị đã đưa ra một số định hướng, mục tiêu, yêu cầu đối với công tác bảo đảm an toàn, an ninh mạng, bảo đảm chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin, an ninh dữ liệu Trước yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra trong giai đoạn mới, bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin, an ninh dữ liệu là yêu cầu cấp thiết nhằm kiến tạo một không gian mạng an toàn, tin cậy, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia, Ban Bí thư yêu cầu các cấp uỷ, tổ chức đảng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau: 1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn dân về an ninh mạng, bảo mật thông tin, an ninh dữ liệu a) Quán triệt sâu sắc quan điểm bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin, an ninh dữ liệu là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, cấp bách; là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn dân, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước. Lực lượng Công an nhân dân, Quân đội nhân dân đóng vai trò chủ chốt. Huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân, xây dựng thế trận an ninh nhân dân gắn với thế trận quốc phòng toàn dân trên không gian mạng. b) Chuyển dịch tư duy chiến lược từ

Áp dụng sổ BHXH, thẻ BHYT điện tử: Hướng dẫn người tham gia cách sử dụng

Theo Thông tư số 09/2026/TT-BTC ngày 03/02/2026 của Bộ Tài chính, sổ BHXH và thẻ BHYT bản điện tử được công nhận có giá trị pháp lý tương đương bản giấy. Theo đó, người dân có thể sử dụng bản điện tử để xuất trình khi thực hiện các thủ tục về BHXH hoặc khi đi khám, chữa bệnh. Chính thức áp dụng sổ BHXH, BHYT điện tử Tại khoản 1 Điều 6 Thông tư 09/2026/TT-BTC, người tham gia có thể nhận và sử dụng sổ BHXH, thẻ BHYT bản điện tử bằng cách truy cập: – Ứng dụng Định danh điện tử quốc gia (VNeID) mức độ 2, – Ứng dụng BHXH số (VssID), – Hoặc hòm thư điện tử (Email). Sổ BHXH bản điện tử được dùng để giải quyết các chế độ BHXH và BH thất nghiệp theo quy định của pháp luật. Khi thực hiện thủ tục, người tham gia chỉ cần xuất trình sổ BHXH bản điện tử, không phải nộp hoặc xuất trình sổ giấy. Đối với thẻ BHYT bản điện tử, người tham gia sử dụng khi khám bệnh, chữa bệnh tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh BHYT và làm căn cứ thanh toán chi phí khám, chữa bệnh. Giá trị pháp lý của sổ BHXH, thẻ BHYT điện tử: Căn cứ theo quy định tại Điều 6 Thông tư 09/2026/TT-BTC, khi người tham gia đã xuất trình sổ BHXH, thẻ BHYT bản điện tử đúng theo hướng dẫn thì cơ quan, tổ chức, cơ sở khám chữa bệnh không được yêu cầu thêm bản giấy. Quy định này cho thấy sổ BHXH và thẻ BHYT bản điện tử có giá trị sử dụng trong giải quyết chế độ BHYT, BH thất nghiệp cũng như trong khám, chữa bệnh và thanh toán chi phí khám chữa bệnh BHYT theo đúng phạm vi quyền lợi của người tham gia. Từ ngày 13/2/2026, người tham gia cần chủ động đăng ký, kích hoạt tài khoản VNeID mức độ 2 hoặc sử dụng ứng dụng VssID để tiếp nhận và sử dụng sổ BHXH, thẻ BHYT bản điện tử khi thực hiện thủ tục liên quan. Cách đăng ký BHXH tự nguyện online Người dân có thể đăng ký tham gia BHYT trực tuyến thông qua Cổng Dịch vụ công quốc gia như sau: Bước 1: Đăng ký, đăng nhập Cổng Dịch vụ công quốc gia tại địa chỉ https://dichvucong.gov.vn hoặc Cổng Dịch vụ công của BHXH Việt Nam tại địa chỉ https://dichvucong.baohiemxahoi.gov.vn Bước 2: Lựa chọn dịch vụ Đăng ký tham gia BHXH tự nguyện. Bước 3: Người tham gia kê khai thông tin như hướng dẫn tại trình tự thực hiện nêu trên để thực hiện đăng ký tham gia BHXH tự nguyện. Bước 4: Người tham gia chọn thanh toán và thực hiện thanh toán theo hướng dẫn. Bước 5: Nhận thông báo: Biên lai thu tiền điện tử từ hệ thống ngân hàng/trung gian thanh toán. Bước 6: Nhận Thông báo thời hạn trả sổ BHXH. Bước 7: Nhận sổ BHXH bản điện tử hoặc sổ BHXH bản giấy theo phương thức đã đăng ký. Cách cập nhật BHXH trên VNeID Bước 1: Đăng nhập vào ứng dụng VNeID bằng số định danh cá nhân. Bước 2: Tại giao diện chính, chọn mục “Ví giấy tờ”. Tiếp theo, chọn mục “Bảo hiểm xã hội”. Người dân có thể tích hợp thông tin BHXH trên ứng dụng VNeID để sử dụng sổ BHXH điện tử. Bước 3: Nhập mã số bảo hiểm xã hội: nhập đủ 10 ký tự số Tích chọn ô “Tôi muốn tích hợp thông tin quá trình tham gia bảo hiểm xã hội vào tài khoản định danh điện tử”. Bước 4: Gửi yêu cầu tích hợp Sau khi gửi yêu cầu tích hợp thành công, công dân truy cập chức năng BHXH để theo dõi tình trạng xử lý hồ sơ. Đối với hồ sơ có tình trạng Cập nhật thất bại, công dân nhập Mã số BHXH và ấn Gửi lại yêu cầu để thực hiện gửi lại yêu cầu tích hợp. Cách đóng BHYT online Người dân có thể đăng ký tham gia BHYT trực tuyến thông qua Cổng Dịch vụ công quốc gia như sau: – Bước 1: Đăng ký, đăng nhập Cổng Dịch vụ công quốc gia tại địa chỉ https://dichvucong.gov.vn hoặc Cổng Dịch vụ công của BHXH Việt Nam tại địa chỉ https://dichvucong.baohiemxahoi.gov.vn Bước 2: Lựa chọn dịch vụ như đăng ký đóng, cấp thẻ BHYT đối với người chỉ tham gia BHYT. Bước 3: Người mua BHYT online kê khai thông tin như hướng dẫn tại trình tự thực hiện nêu trên để thực hiện đăng ký đóng BHYT. Bước 4: Người mua BHYT online chọn thanh toán và thực hiện thanh toán theo hướng dẫn. Bước 5: Nhận biên lai thu tiền điện tử từ hệ thống ngân hàng/trung gian thanh toán. Bước 6: Nhận thông báo thời hạn trả thẻ BHYT hoặc thời hạn thẻ BHYT tiếp tục được sử dụng. Bước 7: Nhận thẻ BHYT bản điện tử hoặc thẻ BHYT bản giấy theo phương thức đã đăng ký./. https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/chuyen-doi-so.aspx?ItemID=26369&CateID=176

Dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi): Mở không gian thể chế mới cho sự phát triển

Tại Hội nghị quán triệt Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 17-3-2026 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới và triển khai Chương trình hành động của Ban Thường vụ Thành ủy thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị do Thành ủy Hà Nội tổ chức sáng 26-3, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Phó Chủ tịch UBND thành phố Nguyễn Xuân Lưu đã trình bày dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) với nhiều nội dung mang tính đột phá về thể chế, tổ chức bộ máy, nguồn lực phát triển và cơ chế quản trị đô thị. Trao quyền mạnh mẽ, mở rộng không gian tự chủ cho Thủ đô Theo Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Nguyễn Xuân Lưu, việc sửa đổi Luật Thủ đô được đặt ra từ yêu cầu cấp thiết cả về cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn. Dự án Luật được xây dựng trên nền tảng các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Hà Nội lần thứ XVIII (nhiệm kỳ 2025-2030), đặc biệt là Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 17-3-2026 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới. Tinh thần xuyên suốt là “trao quyền mạnh mẽ – phân cấp, phân quyền toàn diện hơn – trách nhiệm giải trình rõ ràng hơn”, đúng với yêu cầu “Hà Nội quyết – Hà Nội làm – Hà Nội chịu trách nhiệm”. Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Duy Ngọc và các đồng chí Thường trực Thành ủy dự hội nghị. Ảnh: Quang Thái Về cơ sở thực tiễn, nhiều cơ chế, chính sách của Luật Thủ đô hiện hành không còn bảo đảm tính đặc thù, vượt trội để phát triển Thủ đô. Nhiều hạn chế, điểm nghẽn lớn, kéo dài như ùn tắc giao thông, ngập úng cục bộ, ô nhiễm môi trường, mất an toàn đô thị, an toàn thực phẩm, hạn chế trong huy động nguồn lực… vẫn chưa được khắc phục hiệu quả. Trong bối cảnh thế giới, khu vực biến động phức tạp, khoa học công nghệ và các mô hình kinh tế mới phát triển nhanh chóng, Hà Nội không thể chỉ dừng ở vai trò “thực thi chính sách” mà cần được giao vai trò “thiết kế chính sách” ở tầm cao hơn. Dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) xác định rõ mục tiêu hoàn thiện thể chế đặc thù, vượt trội, ổn định, có tầm nhìn dài hạn, phù hợp với vị trí, vai trò của Thủ đô là trung tâm đầu não chính trị – hành chính quốc gia; trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, giáo dục, y tế và hội nhập quốc tế. Qua đó, khẳng định và phát huy vai trò hạt nhân, cực tăng trưởng của vùng Đồng bằng sông Hồng và cả nước, tạo hành lang pháp lý để thí điểm, đánh giá, hoàn thiện các cơ chế, chính sách đột phá trước khi nhân rộng. Dự thảo gồm 9 chương, 36 điều, giảm 18 điều so với Luật hiện hành. Cách tiếp cận mới không đi sâu quy định chi tiết từng nội dung, mà tập trung phân quyền cho thành phố quyết định, tạo không gian tối đa cho sự sáng tạo, tự chủ và tự chịu trách nhiệm của chính quyền Thủ đô, đồng thời tăng cường kiểm soát quyền lực. Luật Thủ đô được xác định là luật đặc thù, được ưu tiên áp dụng. Thành phố được quyết định lựa chọn áp dụng quy định pháp luật thuận lợi cho phát triển Thủ đô khi các văn bản ban hành sau có quy định khác nhau về cùng một vấn đề. HĐND, UBND thành phố khi ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Thủ đô và thực hiện thẩm quyền được phân quyền, được quy định khác với văn bản do cơ quan Trung ương ban hành; được điều chỉnh trình tự, thủ tục, thẩm quyền đã quy định ở cấp trên; được quy định thí điểm cơ chế, chính sách nhằm xác lập khuôn khổ pháp lý cho việc thử nghiệm các mô hình, giải pháp quản lý, phát triển mới. Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Phó Chủ tịch UBND thành phố Nguyễn Xuân Lưu trình bày dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) tại hội nghị. Ảnh: Quang Thái Trong tổ chức bộ máy và chế độ công vụ, dự thảo Luật chuyển mạnh từ cơ chế “phối hợp, xin ý kiến” sang “tự chủ, tự quyết”. HĐND thành phố được quyết định số lượng, chức năng, nhiệm vụ các ban HĐND, cơ quan chuyên môn; quyết định biên chế; tiêu chí đại biểu HĐND các cấp. Người đứng đầu cơ quan trực tiếp sử dụng công chức thực hiện tuyển dụng, đánh giá. Thành phố được quyết định thu nhập đối với cán bộ, công chức, viên chức; thuê, bổ nhiệm người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp Nhà nước; ban hành chính sách thu hút, trọng dụng người có tài năng. Trong lĩnh vực quy hoạch, thành phố chỉ lập một Quy hoạch tổng thể Thủ đô có giá trị thay thế quy hoạch tỉnh và quy hoạch chung đô thị; được phê duyệt, điều chỉnh quy hoạch; chủ động quyết định danh mục, lộ trình di dời các cơ sở sản xuất, trụ sở làm việc không phù hợp quy hoạch (trừ cơ quan Trung ương). Chính sách quản lý, khai thác không gian ngầm, không gian tầm thấp, tầm cao được đưa vào dự thảo nhằm mở rộng không gian phát triển mới. Phát triển đô thị được định

Bộ Y tế ban hành quy định mới về bảng kê chi phí khám, chữa bệnh

Bộ Y tế vừa ban hành Quyết định số 697/QĐ-BYT ngày 19/3/2026 về mẫu bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh, trong đó có nhiều nội dung liên quan tới khám, chữa bệnh BHYT. Theo hướng dẫn của Bộ Y tế, trong một lượt khám bệnh, chữa bệnh đối với mỗi người bệnh, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh lập 2 bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh: 1 bản để lưu cùng với hồ sơ khám bệnh, chữa bệnh của người bệnh; và 1 bảng kê để cung cấp cho người bệnh. Trường hợp cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã triển khai bệnh án điện tử thì thực hiện lập bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh bản điện tử để lưu trữ cùng hồ sơ bệnh án điện tử của người bệnh và cung cấp bảng kê cho người bệnh qua phương tiện, thiết bị điện tử, không phải lập bảng kê giấy. Bảng kê điện tử có ký số đầy đủ theo quy định thì có giá trị tương đương bản giấy. Trường hợp bảng kê giấy có chữ ký trực tiếp (ký tay) của người bệnh được cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chuyển thành file điện tử (scan) và có ký số xác thực của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì có giá trị như bản điện tử để lưu trữ cùng bệnh án điện tử của người bệnh, thay thế cho bản giấy. Các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chỉ kê những mục có phát sinh chi phí và giữ nguyên số thứ tự mã mục quy định trong mẫu bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh. Kèm theo Quyết định ban hành mẫu, Bộ Y tế cũng ban hành phụ lục hướng dẫn kỹ thuật ghi bảng kê, trong đó, hướng dẫn chi tiết cách ghi Bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với người tham gia BHYT. Theo đó, các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh sử dụng thông tin hành chính tra cứu được trên Cổng tiếp nhận dữ liệu của BHXH Việt Nam (gọi tắt là Cổng BHXH) hoặc thông tin trên thẻ BHYT bản giấy (áp dụng đối với đối tượng QN, CA, CY mà khi tra cứu Cổng BHXH không có thông tin) tại thời điểm tiếp đón người bệnh đến khám bệnh, chữa bệnh để lấy thông tin hành chính khi lập bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh. Trường hợp trong quá trình điều trị, người bệnh cung cấp thông tin thẻ BHYT có sự thay đổi thông tin hành chính và đã được cơ quan BHXH cập nhật thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thực hiện cập nhật lại theo thông tin mới. Với mã thẻ BHYT, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thực hiện tra cứu thông tin trên Cổng BHXH để lấy thông tin mã thẻ BHYT tra cứu được tại thời điểm tiếp đón người bệnh. Trường hợp tra cứu mà có thông tin từ 2 mã thẻ BHYT trở lên thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh sử dụng mã thẻ có thời hạn sử dụng của thẻ phù hợp với thời điểm mà người bệnh đến khám bệnh, chữa bệnh nhằm bảo đảm quyền lợi cho người tham gia BHYT,… Bộ Y tế cũng yêu cầu các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm chỉnh sửa, nâng cấp phần mềm để thực hiện lập, cung cấp bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh theo hướng dẫn tại Quyết định này chậm nhất kể từ ngày 01/7/2026. Xem chi tiết Quyết định số 697/QĐ-BYT ngày 19/3/2026 tại đây https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/linh-vuc-bao-hiem-y-te.aspx?ItemID=26339&CateID=169

Đặt Lịch Khám

    Đặt Lịch Khám