BỆNH VIỆN BẮC THĂNG LONG
BAC THANG LONG HOSPITAL

(84) 889 615 815

Email: thugopy.bvbtl@gmail.com

Hoạt Động Nghiên Cứu

Pháp luật - BHXH

Luật Phục hồi, phá sản năm 2025: Những điểm mới nổi bật về BHXH

Từ ngày 01/3/2026, Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 chính thức có hiệu lực thi hành. Luật đã bổ sung nhiều quy định nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm y tế; đồng thời cũng có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khăn, tái cơ cấu sản xuất kinh doanh.   https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/Infographic.aspx?ItemID=26435&CateID=184  

Chỉ thị 57-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin, an ninh dữ liệu trong hệ thống chính trị

Thay mặt Ban Bí thư, đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư đã ký ban hành Chỉ thị số 57-CT/TW ngày 31/12/2025 về tăng cường bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin, an ninh dữ liệu trong hệ thống chính trị. Thời gian qua, thực hiện chủ trương, các nghị quyết, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, công tác bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin, an ninh dữ liệu đã được các cấp ủy, tổ chức đảng quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo; nhận thức về tầm quan trọng của an ninh mạng được nâng lên; hành lang pháp lý từng bước được hoàn thiện; năng lực kỹ thuật bảo đảm an ninh mạng của một số cơ quan được tăng cường; hoạt động hợp tác quốc tế lĩnh vực an ninh mạng đạt được dấu ấn quan trọng, góp phần đưa chỉ số an ninh mạng toàn cầu của Việt Nam vươn lên thứ hạng cao trên các bảng xếp hạng quốc tế. An ninh mạng, bảo mật thông tin, an ninh dữ liệu góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của các cơ quan, tổ chức sau sắp xếp, sáp nhập, hợp nhất An ninh mạng, bảo mật thông tin, an ninh dữ liệu đã được đặc biệt coi trọng trong quá trình chuyển đổi số quốc gia, triển khai Chính phủ điện tử, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị sau sắp xếp, sáp nhập, hợp nhất, điều chỉnh địa giới hành chính và thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin, an ninh dữ liệu vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế: Công tác quản lý nhà nước chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn, tổ chức thực hiện chồng chéo, thiếu đồng bộ; Những hạn chế trong công tác an ninh mạng, bảo mật thông tin Nhận thức của một bộ phận lãnh đạo, cán bộ, đảng viên và Nhân dân về an ninh mạng, bảo mật thông tin còn chưa đầy đủ và sâu sắc; Còn tình trạng một số hệ thống thông tin chưa đủ điều kiện an ninh mạng theo quy định, nhưng đã được đưa vào sử dụng, tạo ra các rủi ro về an ninh mạng, buộc phải đầu tư bổ sung để bảo đảm tuân thủ các quy định của pháp luật, các điều kiện về an ninh mạng; Nguồn nhân lực chất lượng cao còn thiếu; Ngân sách dành cho an toàn, bảo mật thông tin chưa đáp ứng yêu cầu; Hạ tầng số chưa đồng bộ, một số hệ thống được đầu tư manh mún chưa bảo đảm các tiêu chuẩn an ninh mạng tối thiểu; Mức độ tự chủ về công nghệ, sản phẩm an ninh mạng chưa cao. Công cuộc chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cấp bách với công tác bảo đảm an ninh thông tin, an ninh mạng quốc gia trong tình hình mới Dự báo tình hình an ninh mạng, bảo mật thông tin, an ninh dữ liệu trên thế giới và trong nước có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường. Trong bối cảnh dữ liệu trở thành tài nguyên chiến lược, trí tuệ nhân tạo phát triển nhanh chóng, không gian mạng trở thành không gian tác chiến mới, công tác bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu, bảo mật thông tin không chỉ là nhiệm vụ kỹ thuật mà là vấn đề an ninh quốc gia, chủ quyền quốc gia, ổn định chính trị, xã hội và năng lực cạnh tranh quốc gia. Việt Nam phải đối mặt với những thách thức nghiêm trọng đe doạ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Đồng thời, công cuộc chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cấp bách đối với công tác bảo đảm an ninh thông tin, an ninh mạng quốc gia trong tình hình mới. Tại Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị đã đưa ra một số định hướng, mục tiêu, yêu cầu đối với công tác bảo đảm an toàn, an ninh mạng, bảo đảm chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin, an ninh dữ liệu Trước yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra trong giai đoạn mới, bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin, an ninh dữ liệu là yêu cầu cấp thiết nhằm kiến tạo một không gian mạng an toàn, tin cậy, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia, Ban Bí thư yêu cầu các cấp uỷ, tổ chức đảng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau: 1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn dân về an ninh mạng, bảo mật thông tin, an ninh dữ liệu a) Quán triệt sâu sắc quan điểm bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin, an ninh dữ liệu là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, cấp bách; là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn dân, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước. Lực lượng Công an nhân dân, Quân đội nhân dân đóng vai trò chủ chốt. Huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân, xây dựng thế trận an ninh nhân dân gắn với thế trận quốc phòng toàn dân trên không gian mạng. b) Chuyển dịch tư duy chiến lược từ

Áp dụng sổ BHXH, thẻ BHYT điện tử: Hướng dẫn người tham gia cách sử dụng

Theo Thông tư số 09/2026/TT-BTC ngày 03/02/2026 của Bộ Tài chính, sổ BHXH và thẻ BHYT bản điện tử được công nhận có giá trị pháp lý tương đương bản giấy. Theo đó, người dân có thể sử dụng bản điện tử để xuất trình khi thực hiện các thủ tục về BHXH hoặc khi đi khám, chữa bệnh. Chính thức áp dụng sổ BHXH, BHYT điện tử Tại khoản 1 Điều 6 Thông tư 09/2026/TT-BTC, người tham gia có thể nhận và sử dụng sổ BHXH, thẻ BHYT bản điện tử bằng cách truy cập: – Ứng dụng Định danh điện tử quốc gia (VNeID) mức độ 2, – Ứng dụng BHXH số (VssID), – Hoặc hòm thư điện tử (Email). Sổ BHXH bản điện tử được dùng để giải quyết các chế độ BHXH và BH thất nghiệp theo quy định của pháp luật. Khi thực hiện thủ tục, người tham gia chỉ cần xuất trình sổ BHXH bản điện tử, không phải nộp hoặc xuất trình sổ giấy. Đối với thẻ BHYT bản điện tử, người tham gia sử dụng khi khám bệnh, chữa bệnh tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh BHYT và làm căn cứ thanh toán chi phí khám, chữa bệnh. Giá trị pháp lý của sổ BHXH, thẻ BHYT điện tử: Căn cứ theo quy định tại Điều 6 Thông tư 09/2026/TT-BTC, khi người tham gia đã xuất trình sổ BHXH, thẻ BHYT bản điện tử đúng theo hướng dẫn thì cơ quan, tổ chức, cơ sở khám chữa bệnh không được yêu cầu thêm bản giấy. Quy định này cho thấy sổ BHXH và thẻ BHYT bản điện tử có giá trị sử dụng trong giải quyết chế độ BHYT, BH thất nghiệp cũng như trong khám, chữa bệnh và thanh toán chi phí khám chữa bệnh BHYT theo đúng phạm vi quyền lợi của người tham gia. Từ ngày 13/2/2026, người tham gia cần chủ động đăng ký, kích hoạt tài khoản VNeID mức độ 2 hoặc sử dụng ứng dụng VssID để tiếp nhận và sử dụng sổ BHXH, thẻ BHYT bản điện tử khi thực hiện thủ tục liên quan. Cách đăng ký BHXH tự nguyện online Người dân có thể đăng ký tham gia BHYT trực tuyến thông qua Cổng Dịch vụ công quốc gia như sau: Bước 1: Đăng ký, đăng nhập Cổng Dịch vụ công quốc gia tại địa chỉ https://dichvucong.gov.vn hoặc Cổng Dịch vụ công của BHXH Việt Nam tại địa chỉ https://dichvucong.baohiemxahoi.gov.vn Bước 2: Lựa chọn dịch vụ Đăng ký tham gia BHXH tự nguyện. Bước 3: Người tham gia kê khai thông tin như hướng dẫn tại trình tự thực hiện nêu trên để thực hiện đăng ký tham gia BHXH tự nguyện. Bước 4: Người tham gia chọn thanh toán và thực hiện thanh toán theo hướng dẫn. Bước 5: Nhận thông báo: Biên lai thu tiền điện tử từ hệ thống ngân hàng/trung gian thanh toán. Bước 6: Nhận Thông báo thời hạn trả sổ BHXH. Bước 7: Nhận sổ BHXH bản điện tử hoặc sổ BHXH bản giấy theo phương thức đã đăng ký. Cách cập nhật BHXH trên VNeID Bước 1: Đăng nhập vào ứng dụng VNeID bằng số định danh cá nhân. Bước 2: Tại giao diện chính, chọn mục “Ví giấy tờ”. Tiếp theo, chọn mục “Bảo hiểm xã hội”. Người dân có thể tích hợp thông tin BHXH trên ứng dụng VNeID để sử dụng sổ BHXH điện tử. Bước 3: Nhập mã số bảo hiểm xã hội: nhập đủ 10 ký tự số Tích chọn ô “Tôi muốn tích hợp thông tin quá trình tham gia bảo hiểm xã hội vào tài khoản định danh điện tử”. Bước 4: Gửi yêu cầu tích hợp Sau khi gửi yêu cầu tích hợp thành công, công dân truy cập chức năng BHXH để theo dõi tình trạng xử lý hồ sơ. Đối với hồ sơ có tình trạng Cập nhật thất bại, công dân nhập Mã số BHXH và ấn Gửi lại yêu cầu để thực hiện gửi lại yêu cầu tích hợp. Cách đóng BHYT online Người dân có thể đăng ký tham gia BHYT trực tuyến thông qua Cổng Dịch vụ công quốc gia như sau: – Bước 1: Đăng ký, đăng nhập Cổng Dịch vụ công quốc gia tại địa chỉ https://dichvucong.gov.vn hoặc Cổng Dịch vụ công của BHXH Việt Nam tại địa chỉ https://dichvucong.baohiemxahoi.gov.vn Bước 2: Lựa chọn dịch vụ như đăng ký đóng, cấp thẻ BHYT đối với người chỉ tham gia BHYT. Bước 3: Người mua BHYT online kê khai thông tin như hướng dẫn tại trình tự thực hiện nêu trên để thực hiện đăng ký đóng BHYT. Bước 4: Người mua BHYT online chọn thanh toán và thực hiện thanh toán theo hướng dẫn. Bước 5: Nhận biên lai thu tiền điện tử từ hệ thống ngân hàng/trung gian thanh toán. Bước 6: Nhận thông báo thời hạn trả thẻ BHYT hoặc thời hạn thẻ BHYT tiếp tục được sử dụng. Bước 7: Nhận thẻ BHYT bản điện tử hoặc thẻ BHYT bản giấy theo phương thức đã đăng ký./. https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/chuyen-doi-so.aspx?ItemID=26369&CateID=176

Dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi): Mở không gian thể chế mới cho sự phát triển

Tại Hội nghị quán triệt Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 17-3-2026 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới và triển khai Chương trình hành động của Ban Thường vụ Thành ủy thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị do Thành ủy Hà Nội tổ chức sáng 26-3, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Phó Chủ tịch UBND thành phố Nguyễn Xuân Lưu đã trình bày dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) với nhiều nội dung mang tính đột phá về thể chế, tổ chức bộ máy, nguồn lực phát triển và cơ chế quản trị đô thị. Trao quyền mạnh mẽ, mở rộng không gian tự chủ cho Thủ đô Theo Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Nguyễn Xuân Lưu, việc sửa đổi Luật Thủ đô được đặt ra từ yêu cầu cấp thiết cả về cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn. Dự án Luật được xây dựng trên nền tảng các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Hà Nội lần thứ XVIII (nhiệm kỳ 2025-2030), đặc biệt là Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 17-3-2026 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới. Tinh thần xuyên suốt là “trao quyền mạnh mẽ – phân cấp, phân quyền toàn diện hơn – trách nhiệm giải trình rõ ràng hơn”, đúng với yêu cầu “Hà Nội quyết – Hà Nội làm – Hà Nội chịu trách nhiệm”. Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Duy Ngọc và các đồng chí Thường trực Thành ủy dự hội nghị. Ảnh: Quang Thái Về cơ sở thực tiễn, nhiều cơ chế, chính sách của Luật Thủ đô hiện hành không còn bảo đảm tính đặc thù, vượt trội để phát triển Thủ đô. Nhiều hạn chế, điểm nghẽn lớn, kéo dài như ùn tắc giao thông, ngập úng cục bộ, ô nhiễm môi trường, mất an toàn đô thị, an toàn thực phẩm, hạn chế trong huy động nguồn lực… vẫn chưa được khắc phục hiệu quả. Trong bối cảnh thế giới, khu vực biến động phức tạp, khoa học công nghệ và các mô hình kinh tế mới phát triển nhanh chóng, Hà Nội không thể chỉ dừng ở vai trò “thực thi chính sách” mà cần được giao vai trò “thiết kế chính sách” ở tầm cao hơn. Dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) xác định rõ mục tiêu hoàn thiện thể chế đặc thù, vượt trội, ổn định, có tầm nhìn dài hạn, phù hợp với vị trí, vai trò của Thủ đô là trung tâm đầu não chính trị – hành chính quốc gia; trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, giáo dục, y tế và hội nhập quốc tế. Qua đó, khẳng định và phát huy vai trò hạt nhân, cực tăng trưởng của vùng Đồng bằng sông Hồng và cả nước, tạo hành lang pháp lý để thí điểm, đánh giá, hoàn thiện các cơ chế, chính sách đột phá trước khi nhân rộng. Dự thảo gồm 9 chương, 36 điều, giảm 18 điều so với Luật hiện hành. Cách tiếp cận mới không đi sâu quy định chi tiết từng nội dung, mà tập trung phân quyền cho thành phố quyết định, tạo không gian tối đa cho sự sáng tạo, tự chủ và tự chịu trách nhiệm của chính quyền Thủ đô, đồng thời tăng cường kiểm soát quyền lực. Luật Thủ đô được xác định là luật đặc thù, được ưu tiên áp dụng. Thành phố được quyết định lựa chọn áp dụng quy định pháp luật thuận lợi cho phát triển Thủ đô khi các văn bản ban hành sau có quy định khác nhau về cùng một vấn đề. HĐND, UBND thành phố khi ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Thủ đô và thực hiện thẩm quyền được phân quyền, được quy định khác với văn bản do cơ quan Trung ương ban hành; được điều chỉnh trình tự, thủ tục, thẩm quyền đã quy định ở cấp trên; được quy định thí điểm cơ chế, chính sách nhằm xác lập khuôn khổ pháp lý cho việc thử nghiệm các mô hình, giải pháp quản lý, phát triển mới. Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Phó Chủ tịch UBND thành phố Nguyễn Xuân Lưu trình bày dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) tại hội nghị. Ảnh: Quang Thái Trong tổ chức bộ máy và chế độ công vụ, dự thảo Luật chuyển mạnh từ cơ chế “phối hợp, xin ý kiến” sang “tự chủ, tự quyết”. HĐND thành phố được quyết định số lượng, chức năng, nhiệm vụ các ban HĐND, cơ quan chuyên môn; quyết định biên chế; tiêu chí đại biểu HĐND các cấp. Người đứng đầu cơ quan trực tiếp sử dụng công chức thực hiện tuyển dụng, đánh giá. Thành phố được quyết định thu nhập đối với cán bộ, công chức, viên chức; thuê, bổ nhiệm người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp Nhà nước; ban hành chính sách thu hút, trọng dụng người có tài năng. Trong lĩnh vực quy hoạch, thành phố chỉ lập một Quy hoạch tổng thể Thủ đô có giá trị thay thế quy hoạch tỉnh và quy hoạch chung đô thị; được phê duyệt, điều chỉnh quy hoạch; chủ động quyết định danh mục, lộ trình di dời các cơ sở sản xuất, trụ sở làm việc không phù hợp quy hoạch (trừ cơ quan Trung ương). Chính sách quản lý, khai thác không gian ngầm, không gian tầm thấp, tầm cao được đưa vào dự thảo nhằm mở rộng không gian phát triển mới. Phát triển đô thị được định

Bộ Y tế ban hành quy định mới về bảng kê chi phí khám, chữa bệnh

Bộ Y tế vừa ban hành Quyết định số 697/QĐ-BYT ngày 19/3/2026 về mẫu bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh, trong đó có nhiều nội dung liên quan tới khám, chữa bệnh BHYT. Theo hướng dẫn của Bộ Y tế, trong một lượt khám bệnh, chữa bệnh đối với mỗi người bệnh, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh lập 2 bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh: 1 bản để lưu cùng với hồ sơ khám bệnh, chữa bệnh của người bệnh; và 1 bảng kê để cung cấp cho người bệnh. Trường hợp cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã triển khai bệnh án điện tử thì thực hiện lập bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh bản điện tử để lưu trữ cùng hồ sơ bệnh án điện tử của người bệnh và cung cấp bảng kê cho người bệnh qua phương tiện, thiết bị điện tử, không phải lập bảng kê giấy. Bảng kê điện tử có ký số đầy đủ theo quy định thì có giá trị tương đương bản giấy. Trường hợp bảng kê giấy có chữ ký trực tiếp (ký tay) của người bệnh được cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chuyển thành file điện tử (scan) và có ký số xác thực của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì có giá trị như bản điện tử để lưu trữ cùng bệnh án điện tử của người bệnh, thay thế cho bản giấy. Các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chỉ kê những mục có phát sinh chi phí và giữ nguyên số thứ tự mã mục quy định trong mẫu bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh. Kèm theo Quyết định ban hành mẫu, Bộ Y tế cũng ban hành phụ lục hướng dẫn kỹ thuật ghi bảng kê, trong đó, hướng dẫn chi tiết cách ghi Bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với người tham gia BHYT. Theo đó, các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh sử dụng thông tin hành chính tra cứu được trên Cổng tiếp nhận dữ liệu của BHXH Việt Nam (gọi tắt là Cổng BHXH) hoặc thông tin trên thẻ BHYT bản giấy (áp dụng đối với đối tượng QN, CA, CY mà khi tra cứu Cổng BHXH không có thông tin) tại thời điểm tiếp đón người bệnh đến khám bệnh, chữa bệnh để lấy thông tin hành chính khi lập bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh. Trường hợp trong quá trình điều trị, người bệnh cung cấp thông tin thẻ BHYT có sự thay đổi thông tin hành chính và đã được cơ quan BHXH cập nhật thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thực hiện cập nhật lại theo thông tin mới. Với mã thẻ BHYT, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thực hiện tra cứu thông tin trên Cổng BHXH để lấy thông tin mã thẻ BHYT tra cứu được tại thời điểm tiếp đón người bệnh. Trường hợp tra cứu mà có thông tin từ 2 mã thẻ BHYT trở lên thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh sử dụng mã thẻ có thời hạn sử dụng của thẻ phù hợp với thời điểm mà người bệnh đến khám bệnh, chữa bệnh nhằm bảo đảm quyền lợi cho người tham gia BHYT,… Bộ Y tế cũng yêu cầu các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm chỉnh sửa, nâng cấp phần mềm để thực hiện lập, cung cấp bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh theo hướng dẫn tại Quyết định này chậm nhất kể từ ngày 01/7/2026. Xem chi tiết Quyết định số 697/QĐ-BYT ngày 19/3/2026 tại đây https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/linh-vuc-bao-hiem-y-te.aspx?ItemID=26339&CateID=169

Hà Nội triển khai 10 dịch vụ công BHXH, BHYT toàn trình từ ngày 16/3

Từ ngày 16/3/2026, Trung tâm Phục vụ hành chính công Thành phố Hà Nội (TP.Hà Nội) phối hợp với BHXH TP.Hà Nội triển khai hướng dẫn thực hiện 10 dịch vụ công toàn trình trong lĩnh vực BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp khi thực hiện các thủ tục hành chính về BHXH, BHYT trên môi trường số. Chiều ngày 13/3/2026, Trung tâm Phục vụ hành chính công TP.Hà Nội phối hợp với BHXH TP.Hà Nội đã tổ chức cuộc họp trao đổi, thống nhất kế hoạch triển khai thực hiện Quy chế phối hợp giữa hai đơn vị trong việc hướng dẫn thực hiện 10 dịch vụ công toàn trình thuộc lĩnh vực BHXH, BHYT, BHTN trên địa bàn thành phố. Tham dự cuộc họp có ông Phan Văn Phúc, Phó Giám đốc phụ trách điều hành Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố, ông Nguyễn Công Định, Phó Giám đốc BHXH thành phố; lãnh đạo các phòng chuyên môn nghiệp vụ của hai đơn vị. Ngoài ra, còn có Giám đốc các Chi nhánh của Trung tâm, lãnh đạo BHXH cơ sở tham dự theo hình thức trực tuyến nhằm bảo đảm việc triển khai được đồng bộ tại các điểm tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính trên địa bàn thành phố. Tại cuộc họp, các đại biểu đã trao đổi, thảo luận về phương án triển khai 10 dịch vụ công toàn trình trong lĩnh vực BHXH, BHYT, BHTN; tập trung thống nhất quy trình tiếp nhận, xử lý hồ sơ; phân công trách nhiệm giữa các đơn vị; đồng thời tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính. Theo kế hoạch, việc hướng dẫn thực hiện 10 dịch vụ công này sẽ chính thức triển khai từ ngày 16/3/2026 tại 141 điểm phục vụ hành chính công thuộc 12 chi nhánh trực thuộc Trung tâm Phục vụ hành chính công TP.Hà Nội. Các chi nhánh đã bố trí cán bộ, trang thiết bị và quầy hướng dẫn để hỗ trợ người dân, doanh nghiệp trong quá trình thực hiện các dịch vụ công này. Phát biểu tại cuộc họp, lãnh đạo Trung tâm Phục vụ hành chính công TP.Hà Nội cho biết, việc phối hợp triển khai 10 dịch vụ công toàn trình trong lĩnh vực BHXH, BHYT, BHTN lần này nhằm cụ thể hóa chủ trương đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp của thành phố. Trung tâm Phục vụ hành chính công TP.Hà Nội cũng đã hoàn thành việc cấu hình hệ thống, phân quyền tài khoản và xây dựng quy trình điện tử đối với các thủ tục dịch vụ công trên Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của thành phố, nhằm bảo đảm việc tiếp nhận và xử lý hồ sơ được thực hiện thuận lợi, thống nhất. STT Mã thủ tục DVC Quốc gia Tên dịch vụ công Lĩnh vực Phân loại 1 1.002051 Đăng ký, điều chỉnh đóng BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN; cấp sổ BHXH, thẻ BHYT Lĩnh vực thu BHXH, BHYT, BHTN Toàn trình 2 1.002179 Đăng ký tham gia BHXH tự nguyện (lần đầu) Lĩnh vực thu BHXH, BHYT, BHTN Toàn trình 3 1.002179 Đăng ký; đăng ký lại (bao gồm cả đóng bù cho thời gian chưa đóng); điều chỉnh phương thức đóng, căn cứ đóng BHXH tự nguyện (do cá nhân trực tiếp thực hiện) Lĩnh vực thu BHXH, BHYT, BHTN Toàn trình 4 1.001939 Đăng ký đóng, cấp thẻ BHYT đối với người chỉ tham gia BHYT Lĩnh vực thu BHXH, BHYT, BHTN Toàn trình 5 1.001939 Đăng ký đóng BHYT đối với người chỉ tham gia BHYT (thông qua tổ chức/đơn vị Lĩnh vực thu BHXH, BHYT, BHTN Toàn trình 6 1.002759 Cấp lại, đổi, điều chỉnh thông tin trên sổ BHXH, thẻ BHYT Lĩnh vực cấp sổ BHXH, thẻ BHYT Toàn trình 7 1.002759 Cấp lại sổ BHXH không thay đổi thông tin Lĩnh vực cấp sổ BHXH, thẻ BHYT Toàn trình 8 1.002759 Cấp lại, đổi thẻ BHYT do thay đổi thời điểm đủ 05 năm liên tục, nơi KCB ban đầu Lĩnh vực cấp sổ BHXH, thẻ BHYT Toàn trình 9 2.000740 Người hưởng lĩnh chế độ BHXH bằng tiền mặt chuyển sang lĩnh bằng tài khoản cá nhân và ngược lại, hoặc thay đổi thông tin cá nhân Lĩnh vực thực hiện chính sách BHXH Toàn trình 10 1.001742 Giải quyết chuyển hưởng sang địa bàn khác đối với người đang hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hàng tháng và người chờ hưởng lương hưu, trợ cấp hàng tháng Lĩnh vực thực hiện chính sách BHXH Toàn trình Danh sách 10 dịch vụ công toàn trình trong lĩnh vực BHXH, BHYT, BHTN. Lãnh đạo Trung tâm khẳng định, các chi nhánh trực thuộc đã sẵn sàng nhân lực, trang thiết bị và tăng cường hướng dẫn, hỗ trợ để người dân dễ dàng tiếp cận, thực hiện các dịch vụ công trên môi trường điện tử được thuận lợi nhất, đặc biệt là các nhóm đối tượng như người cao tuổi, lao động tự do và người dân chưa quen sử dụng dịch vụ công trực tuyến. Đồng chí Nguyễn Công Định, Phó Giám đốc BHXH TP.Hà Nội cho biết, BHXH thành phố sẽ tích cực phối hợp chặt chẽ với Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố trong việc xây dựng tài liệu, video hướng dẫn và tổ chức tập huấn cho cán bộ hành chính công; đồng thời, phối hợp hỗ trợ xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh trong quá trình triển khai. Theo lãnh đạo BHXH TP.Hà Nội, việc đưa các dịch vụ công BHXH, BHYT, BHTN lên môi trường số không chỉ giúp giảm thời gian, chi phí thực hiện thủ tục cho người dân, doanh nghiệp mà còn góp phần nâng cao

Góp ý hoàn thiện hai dự thảo Nghị định về chế độ phụ cấp đối với nhân lực y tế

Ngày 12/3/2026, tại Hà Nội, Thứ trưởng Thường trực Bộ Y tế Vũ Mạnh Hà đã chủ trì cuộc họp góp ý đối với hai dự thảo Nghị định quan trọng liên quan đến chế độ phụ cấp và chính sách hỗ trợ đối với đội ngũ nhân lực ngành Y tế là Nghị định quy định chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với viên chức, người lao động công tác tại các cơ sở y tế công lập và Nghị định quy định một số chế độ phụ cấp đặc thù trong lĩnh vực y tế; hỗ trợ hằng tháng đối với nhân viên y tế thôn, tổ dân phố và cô đỡ thôn, bản. Đây là các chính sách có ý nghĩa quan trọng nhằm hoàn thiện cơ chế đãi ngộ, tạo động lực cho đội ngũ nhân lực y tế, đặc biệt là lực lượng đang trực tiếp làm nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe Nhân dân tại cơ sở. Tham dự cuộc họp có đại diện các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc Bộ Y tế và các bộ, ngành liên quan. Hoàn thiện chính sách phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với viên chức y tế Theo dự thảo Nghị định, chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề được áp dụng đối với viên chức và người lao động làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong nhiều lĩnh vực của ngành y tế như: Y tế dự phòng; khám bệnh, chữa bệnh; phục hồi chức năng; y dược cổ truyền; dược, mỹ phẩm; an toàn thực phẩm; thiết bị y tế; giám định y khoa, pháp y, pháp y tâm thần; dân số; bảo trợ xã hội và các lĩnh vực khác thuộc ngành Y tế. Ngoài ra, chính sách cũng áp dụng đối với nhân viên y tế trường học tại các cơ sở giáo dục công lập và người làm chuyên môn y tế tại một số cơ sở đặc thù. Dự thảo Nghị định quy định rõ phạm vi điều chỉnh, nguyên tắc áp dụng, cách tính phụ cấp, mức hưởng, thời gian hưởng và nguồn kinh phí chi trả đối với chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề. Việc xây dựng Nghị định nhằm thay thế và hoàn thiện các quy định hiện hành, bảo đảm phù hợp với bối cảnh phát triển của hệ thống y tế, đồng thời tạo cơ sở pháp lý để thực hiện chính sách đãi ngộ hợp lý đối với đội ngũ viên chức, người lao động trong các cơ sở y tế công lập. Qua đó góp phần khuyến khích đội ngũ nhân lực y tế yên tâm công tác, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế và hiệu quả chăm sóc sức khỏe cho người dân. Đ/c Lê Lan Hương, Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ báo cáo tại cuộc họp Bổ sung chế độ phụ cấp đặc thù và hỗ trợ cho y tế cơ sở Dự thảo Nghị định quy định một số chế độ phụ cấp đặc thù trong lĩnh vực y tế; hỗ trợ hằng tháng đối với nhân viên y tế thôn, tổ dân phố và cô đỡ thôn, bản gồm 5 chương và 10 điều, quy định về các chế độ phụ cấp trực, phụ cấp phẫu thuật, thủ thuật, phụ cấp chống dịch và chế độ hỗ trợ hằng tháng đối với nhân viên y tế thôn, tổ dân phố và cô đỡ thôn, bản. Dự thảo Nghị định được xây dựng trên cơ sở sửa đổi, hoàn thiện các quy định trước đây tại Quyết định số 73/2011/QĐ-TTg và Quyết định số 75/2009/QĐ-TTg theo hướng thống nhất và cập nhật phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội hiện nay. Một điểm đáng chú ý của dự thảo là việc bổ sung chính sách hỗ trợ đối với nhân viên y tế tổ dân phố và cô đỡ thôn, bản, những lực lượng trước đây chưa được quy định đầy đủ trong các văn bản hiện hành. Việc mở rộng đối tượng thụ hưởng nhằm bảo đảm sự bình đẳng giữa khu vực nông thôn và đô thị, đồng thời tăng cường năng lực chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân tại cộng đồng. Dự thảo cũng đề xuất điều chỉnh mức hỗ trợ hằng tháng đối với nhân viên y tế thôn, tổ dân phố và cô đỡ thôn, bản lên mức 0,5 hoặc 0,7 lần mức lương cơ sở, thay cho mức hỗ trợ thấp trước đây. Cách tính mới không chỉ nâng mức hỗ trợ mà còn bảo đảm phù hợp với hệ thống tiền lương hiện hành. Đồng thời, mức hỗ trợ cũng được xác định linh hoạt hơn, dựa trên quy mô dân cư và tính chất địa bàn. Theo đó, mức 0,7 lần lương cơ sở được áp dụng đối với các thôn có từ 350 hộ trở lên, tổ dân phố có từ 500 hộ trở lên hoặc địa bàn khó khăn; các địa bàn còn lại áp dụng mức 0,5 lần lương cơ sở. Quy định này phản ánh sát hơn khối lượng công việc thực tế của lực lượng y tế cơ sở. Hiện nay, cả nước có khoảng 120.000 nhân viên y tế thôn, bản và tổ dân phố đang tham gia mạng lưới chăm sóc sức khỏe ban đầu tại cộng đồng. Đây được xem là “cánh tay nối dài” của hệ thống y tế trong việc tuyên truyền phòng bệnh, quản lý sức khỏe người dân, hỗ trợ công tác tiêm chủng, phòng, chống dịch bệnh và chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em. Tuy nhiên, do mức hỗ trợ còn thấp và chưa ổn định, tại một số địa phương đã xảy ra tình trạng nhân viên y tế thôn, bản nghỉ việc hoặc phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ

Cập nhật danh mục thuốc BHYT: Mở rộng cơ hội điều trị, giảm gánh nặng tài chính cho người bệnh

Trong bối cảnh chi phí y tế ngày càng gia tăng, đặc biệt đối với các loại thuốc điều trị bệnh hiểm nghèo, chính sách BHYT tiếp tục khẳng định vai trò là trụ cột quan trọng của hệ thống an sinh xã hội, góp phần bảo vệ tài chính cho người dân trước rủi ro bệnh tật. Theo thông tin gửi báo chí ngày 26/2 của Vụ BHYT (Bộ Y tế), Bộ Y tế đang đề xuất mở rộng danh mục thuốc được quỹ BHYT chi trả. Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm giúp người bệnh có cơ hội tiếp cận nhiều phương pháp điều trị tiên tiến hơn, đồng thời giảm bớt gánh nặng chi phí khám, chữa bệnh. Thuốc chiếm tỷ trọng lớn trong chi khám, chữa bệnh BHYT Theo bà Trần Thị Trang, Vụ trưởng Vụ BHYT (Bộ Y tế), trong nhiều năm qua, thuốc luôn là cấu phần quan trọng và chiếm tỷ lệ lớn trong tổng chi phí khám, chữa bệnh BHYT. Mặc dù tỷ lệ chi thuốc trong tổng chi quỹ BHYT có xu hướng giảm dần qua các năm, song đây vẫn là khoản chi lớn nhất từ quỹ. Cụ thể, năm 2022, tổng chi quỹ BHYT cho thuốc đạt 40,01 nghìn tỷ đồng, chiếm 33,41% tổng chi khám chữa bệnh. Sang năm 2023, con số này tăng lên 45,841 nghìn tỷ đồng, chiếm 32,82%. Đến năm 2024, chi phí thuốc tiếp tục tăng lên 50,784 nghìn tỷ đồng, dù tỷ trọng giảm xuống còn 31,22%. Những số liệu này cho thấy nhu cầu sử dụng thuốc trong điều trị vẫn không ngừng gia tăng, kéo theo áp lực lớn về tài chính đối với quỹ BHYT. Trong bối cảnh đó, việc quản lý danh mục thuốc, điều chỉnh cơ chế thanh toán và cập nhật các thuốc mới phù hợp với thực tiễn điều trị là yêu cầu tất yếu. Hiện nay, việc thanh toán chi phí thuốc cho người tham gia BHYT được thực hiện theo danh mục và quy định tại Thông tư số 20/2022/TT-BYT của Bộ Y tế ban hành ngày 31/12/2022. Danh mục này bao gồm 1.037 hoạt chất thuốc hóa dược và sinh phẩm, được chia thành 27 nhóm lớn, cùng với 59 thuốc phóng xạ và chất đánh dấu phục vụ chẩn đoán và điều trị. Tuy nhiên, trên thực tế, phần lớn các thuốc hiện đang được BHYT chi trả vẫn dựa trên danh mục ban hành từ năm 2018 theo Thông tư số 30/2018/TT-BYT, trong đó chỉ bổ sung thêm một số ít thuốc phục vụ điều trị Covid-19. Điều này khiến danh mục thuốc BHYT chưa theo kịp tốc độ phát triển của khoa học dược phẩm, đặc biệt là các thuốc phát minh mới trong điều trị bệnh hiểm nghèo. Thực tế này đặt ra yêu cầu phải có cơ chế cập nhật danh mục thuốc BHYT linh hoạt và khoa học hơn, bảo đảm người bệnh có thể tiếp cận các phương pháp điều trị hiện đại, đồng thời vẫn giữ được sự bền vững của quỹ BHYT. Mở rộng danh mục thuốc BHYT, cơ hội tiếp cận điều trị tiên tiến Theo các chuyên gia y tế, việc bổ sung thuốc mới vào danh mục BHYT không chỉ giúp nâng cao hiệu quả điều trị mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc giảm gánh nặng tài chính cho người bệnh. Bác sĩ Nguyễn Văn Trường, Khoa Ung bướu, Bệnh viện Thanh Nhàn cho biết, điều trị ung thư hiện nay là điều trị đa mô thức, tức là kết hợp nhiều phương pháp như phẫu thuật, hóa trị, xạ trị, liệu pháp sinh học, thuốc điều trị đích và ghép tế bào gốc. Những tiến bộ này giúp tăng cơ hội sống cho bệnh nhân nhưng cũng khiến chi phí điều trị tăng lên đáng kể. Theo bác sĩ Nguyễn Văn Trường, nhiều loại thuốc điều trị ung thư hiện nay, đặc biệt là các thuốc phát minh mới nhập khẩu từ châu Âu, có giá rất cao. Vì vậy, việc Bộ Y tế đề xuất bổ sung các loại thuốc này vào danh mục BHYT là hướng hỗ trợ thiết thực, giúp người bệnh có thêm cơ hội tiếp cận các phác đồ điều trị tiên tiến. Ở góc độ quản lý và điều trị bệnh mạn tính, TS.BS Trần Thị Thanh Hóa, nguyên Phó Giám đốc Bệnh viện Nội tiết Trung ương cũng cho rằng việc mở rộng danh mục thuốc BHYT là hết sức cần thiết. Theo bà Trần Thị Thanh Hóa, nhiều thuốc điều trị đích hiện nay có giá rất cao, có loại lên tới khoảng 60 triệu đồng cho một đợt điều trị. “Nếu không có BHYT, nhiều bệnh nhân nghèo hoặc mắc bệnh hiểm nghèo sẽ rất khó tiếp cận điều trị. Việc đưa các thuốc này vào danh mục BHYT mang lại lợi ích lớn cho người bệnh, đặc biệt là nhóm yếu thế. Càng sớm được bổ sung, cơ hội điều trị của người bệnh càng tăng”, bà Trần Thị Thanh Hóa nhấn mạnh. Tuy nhiên, bà Trần Thị Thanh Hóa cũng lưu ý rằng việc mở rộng danh mục thuốc BHYT cần đi kèm với cơ chế quản lý chặt chẽ nhằm bảo đảm việc sử dụng thuốc đúng chỉ định, hợp lý và hiệu quả, tránh lãng phí nguồn lực của quỹ. Dự kiến bổ sung 84 thuốc mới vào danh mục BHYT Để đáp ứng yêu cầu thực tế từ các cơ sở khám chữa bệnh cũng như nguyện vọng của người dân, Bộ Y tế đang hoàn thiện dự thảo sửa đổi Thông tư số 20/2022/TT-BYT nhằm cập nhật danh mục thuốc BHYT. Theo dự thảo, danh mục thuốc BHYT dự kiến sẽ được bổ sung 84 thuốc hóa dược và sinh phẩm mới. Điểm đáng chú ý là dự thảo tập trung vào các nhóm thuốc đặc trị có chi

04 điểm mới trong Luật Trí tuệ nhân tạo của Việt Nam

Theo Luật Trí tuệ nhân tạo có hiệu lực từ tháng 3, AI cần phân loại theo mức độ rủi ro, nhưng cũng được tạo điều kiện phát triển ở mức cao nhất về khoa học công nghệ. Luật Trí tuệ nhân tạo được Quốc hội thông qua tháng 12/2025 và có hiệu lực từ 1/3/2026. Luật ra đời mục tiêu phát triển trí tuệ nhân tạo trở thành động lực quan trọng cho tăng trưởng, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững, khuyến khích thử nghiệm công nghệ có kiểm soát, áp dụng biện pháp quản lý tương xứng với mức độ rủi ro và khuyến khích cơ chế tự nguyện tuân thủ. Luật cũng xác định nguyên tắc cơ bản là AI phục vụ con người, không thay thế thẩm quyền và trách nhiệm của con người và cần bảo đảm duy trì sự kiểm soát và khả năng can thiệp của con người đối với mọi quyết định và hành vi của hệ thống. AI phải được phân loại mức độ rủi ro Theo luật, hệ thống trí tuệ nhân tạo được phân loại theo ba mức rủi ro: cao, trung bình, thấp. Nhà cung cấp tự phân loại trước khi đưa vào sử dụng, dựa trên hướng dẫn kỹ thuật sẽ được ban hành. Trường hợp không xác định được mức độ, họ có thể đề nghị Bộ Khoa học và Công nghệ hỗ trợ. Từ việc phân loại, luật cũng đưa ra các điều khoản để thúc đẩy phát triển và quản lý, đặc biệt với các hệ thống trí tuệ nhân tạo rủi ro cao. Nhà cung cấp cần có trách nhiệm thiết kế hệ thống bảo đảm khả năng giám sát và can thiệp của con người. Họ cũng cần lập, cập nhật và lưu giữ hồ sơ kỹ thuật và nhật ký hoạt động ở mức cần thiết cho việc đánh giá sự phù hợp và kiểm tra sau khi đưa vào sử dụng. Luật nhấn mạnh việc cung cấp thông tin “tương xứng với mục đích kiểm tra” và “không làm lộ bí mật kinh doanh”. Với người sử dụng, việc sử dụng AI rủi ro cao đi kèm trách nhiệm tuân thủ quy trình vận hành, hướng dẫn kỹ thuật và biện pháp bảo đảm an toàn, không can thiệp trái phép làm thay đổi tính năng của hệ thống. Việc kiểm tra, giám sát sẽ được thực hiện theo mức rủi ro. AI rủi ro cao được kiểm tra định kỳ hoặc khi có dấu hiệu vi phạm; rủi ro trung bình được giám sát thông qua báo cáo, kiểm tra chọn mẫu hoặc đánh giá của tổ chức độc lập; trong khi đó AI có rủi ro thấp chỉ được theo dõi, kiểm tra khi có sự cố, phản ánh hoặc khi cần bảo đảm an toàn, để không làm phát sinh nghĩa vụ không cần thiết. Đối với hệ thống AI đã được đưa vào hoạt động trước ngày luật này có hiệu lực, nhà cung cấp và bên triển khai sẽ thực hiện các nghĩa vụ tuân thủ trong vòng 18 tháng với lĩnh vực y tế, giáo dục, tài chính và trong 12 tháng với những lĩnh vực còn lại. Dự thảo Danh mục hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao đang lấy ý kiến công khai trên Cổng Thông tin Chính phủ từ ngày 9/2 đến 9/3. Nội dung AI phải có dấu hiệu nhận biết Các hệ thống trí tuệ nhân tạo tương tác trực tiếp với con người phải được thiết kế và vận hành để người sử dụng nhận biết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Đây là một phần trong trách nhiệm minh bạch được đề cập trong luật mới. Ngoài ra, nhà cung cấp cần bảo đảm nội dung âm thanh, hình ảnh, video do hệ thống AI tạo ra được đánh dấu ở định dạng máy đọc theo quy định của Chính phủ. Với bên triển khai, luật yêu cầu có trách nhiệm “thông báo rõ ràng khi cung cấp ra công cộng văn bản, âm thanh, hình ảnh, video được tạo ra hoặc chỉnh sửa bằng trí tuệ nhân tạo”, nếu nội dung đó có khả năng gây nhầm lẫn về tính xác thực của sự kiện, nhân vật. Với nội dung âm thanh, hình ảnh, video tạo hoặc chỉnh sửa bằng AI nhằm mô phỏng, giả lập ngoại hình, giọng nói của người thật hoặc tái hiện sự kiện thực tế, bên triển khai phải gắn nhãn dễ nhận biết nhằm phân biệt với nội dung thật. Đối với sản phẩm là tác phẩm điện ảnh, nghệ thuật hoặc sáng tạo, việc gắn nhãn quy định tại khoản này được thực hiện theo phương thức phù hợp, bảo đảm không làm cản trở việc hiển thị, trình diễn hoặc thưởng thức tác phẩm. “Nhà cung cấp và bên triển khai có trách nhiệm duy trì thông tin minh bạch theo quy định tại Điều này trong suốt quá trình cung cấp hệ thống, sản phẩm hoặc nội dung cho người sử dụng”, luật nêu. Hỗ trợ cho người nghiên cứu, phát triển Luật Trí tuệ nhân tạo dành một chương cho việc phát triển hạ tầng và bảo đảm chủ quyền AI quốc gia. Trong đó, các tổ chức, cá nhân nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ trí tuệ nhân tạo cốt lõi “được hưởng chính sách ưu đãi và hỗ trợ đặc thù theo quy định của pháp luật”. Để phát triển hệ sinh thái AI trong nước, luật nhấn mạnh tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực sẽ “được hưởng ưu đãi và hỗ trợ cao nhất” theo quy định pháp luật. Họ cũng được tạo điều kiện tiếp cận hạ tầng, dữ liệu và môi trường thử nghiệm phục vụ nghiên cứu, sản xuất và thương mại hóa sản phẩm, dịch vụ

Danh mục những bệnh nghề nghiệp được hưởng BHXH mới nhất

Theo Thông tư 60/2025/TT-BYT, bệnh nghề nghiệp được hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội (BHXH) và hướng dẫn chẩn đoán, giám định mức suy giảm khả năng lao động do bệnh nghề nghiệp… vừa có hiệu lực từ 15/2/2026 mà người lao động cần lưu ý. Cụ thể 35 bệnh nghề nghiệp được hưởng BHXH Theo Điều 3 Thông tư 60/2025/TT-BYT quy định về Danh mục bệnh nghề nghiệp được hưởng BHXH và hướng dẫn chẩn đoán, giám định mức suy giảm khả năng lao động do bệnh nghề nghiệp như sau: Nguyên tắc chẩn đoán, điều trị, dự phòng đối với người lao động bị mắc bệnh nghề nghiệp Thông tư 60/2025/TT-BYT quy định nguyên tắc chẩn đoán, điều trị, dự phòng đối với người lao động bị mắc bệnh nghề nghiệp như sau: – Người lao động sau khi được chẩn đoán mắc bệnh nghề nghiệp cần phải: Hạn chế tiếp xúc yếu tố có hại gây bệnh nghề nghiệp đó; Điều trị theo Hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế. Đối với nhóm bệnh nhiễm độc nghề nghiệp phải được thải độc, giải độc kịp thời; Đồng thời được ngưởi sử dụng lao động giới thiệu đi khám giám định y khoa xác định mức độ suy giảm khả năng lao động để hưởng chế độ BHXH, được điều trị, điều dưỡng, phục hồi chức năng lao động theo quy định của pháp luật. – Bệnh nghề nghiệp quy định tại các khoản 1, 2, 4, 5, 11, 18, 20, 21 và 34 Điều 3 Thông tư 60/2025/TT-BYT và ung thư do các bệnh nghề nghiệp quy định tại Điều 3 này (trừ khoản 34) không có khả năng điều trị ổn định cần chuyển khám giám định ngay. – Trường hợp chần đoán các bệnh nhiễm độc nghề nghiệp cho người lao động trong thời gian bảo đảm không nhất thiết phải có các xét nghiệm xác định độc chất trong cơ thể khi các tiêu chí khác đã đáp ứng giới hạn tiếp xúc tối thiểu tương ứng với từng bệnh nhiễm độc nghề nghiệp. Thông tư 60/2025/TT-BYT quy định việc xác định bệnh nghề nghiệp để bổ sung vào Danh mục bệnh nghề nghiệp được hưởng BHXH căn cứ vào một trong các tiêu chí sau đây: Xác định được mối liên hệ giữa việc tiếp xúc với yếu tố có hại trong quá trình lao động với một bệnh cụ thể. Một số bệnh có thể xuất hiện sau nhiều năm tiếp xúc lần đầu với yếu tố có hại trong quá trình lao động, người lao động có thể đã nghỉ hưu hoặc chuyển sang công việc khác. Bệnh xảy ra trong nhóm người lao động tiếp xúc với yếu tố có hại thường có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn so với nhóm người lao động không tiếp xúc. Bệnh xảy ra ở người lao động do tiếp xúc với yếu tố có hại trong quá trình lao động nhưng chưa có điều kiện nghiên cứu tại Việt Nam mà đã được quốc tế công nhận là bệnh nghề nghiệp được hưởng BHXH thì bổ sung vào danh mục bệnh nghề nghiệp được hưởng BHXH. Thông tư 60/2025/TT-BYT có hiệu lực kể từ ngày 15/2/2026. Các văn bản quy phạm pháp luật sau đây hết hiệu lực kể từ ngày Thông tư 60 có hiệu lực thi hành: Thông tư số 15/2016/TT-BYT ngày 15/5/2016 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định về bệnh nghề nghiệp được hưởng BHXH; Thông tư số 02/2023/TT-BYT ngày 9/2/2023 của Bộ trưởng Bộ Y tế sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 15/2016/TT-BYT ngày 15/5/2016 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định về bệnh nghề nghiệp được hưởng BHXH. https://suckhoedoisong.vn/danh-muc-nhung-benh-nghe-nghiep-duoc-huong-bhxh-moi-nhat-16926022506272851.htm

BHXH Việt Nam thực hiện giám định và thanh toán BHYT theo đúng quy định của pháp luật

Thời gian qua, liên quan đến việc tổ chức, thực hiện và thanh toán các dịch vụ kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh trong khám bệnh, chữa bệnh BHYT, BHXH Việt Nam cung cấp một số thông tin nhằm làm rõ căn cứ pháp lý và nguyên tắc thực hiện công tác giám định, thanh toán trong khám chữa bệnh BHYT theo quy định hiện hành. Căn cứ pháp lý trong giám định, thanh toán dịch vụ kỹ thuật y tế Việc giám định và thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT được cơ quan BHXH thực hiện trên cơ sở tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh và pháp luật về BHYT. Luật Khám bệnh, chữa bệnh quy định nguyên tắc trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh là thực hiện kịp thời và tuân thủ quy định về chuyên môn kỹ thuật, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong việc thực hiện đúng các quy định chuyên môn kỹ thuật và các quy định pháp luật có liên quan. Ảnh minh họa.  Khoản 2 Điều 35 Nghị định số 188/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm tuân thủ các hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế và các quy định pháp luật liên quan về mua sắm, đấu thầu, nhằm bảo đảm cung ứng thuốc, dịch vụ kỹ thuật y tế có chất lượng, hiệu quả và sử dụng quỹ BHYT tiết kiệm, đúng quy định. Thông tư số 35/2016/TT-BYT của Bộ Y tế quy định rõ, dịch vụ kỹ thuật y tế được quỹ BHYT thanh toán khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện, cụ thể như sau: – Được cấp có thẩm quyền phê duyệt thực hiện tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; – Được thực hiện theo quy trình chuyên môn kỹ thuật do cấp có thẩm quyền ban hành; – Được cấp có thẩm quyền phê duyệt giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh BHYT. Quy định về thời gian thực hiện quy trình kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh Quyết định số 2775/QĐ-BYT và Quyết định số 2776/QĐ-BYT ngày 29/8/2025 của Bộ Y tế ban hành hướng dẫn quy trình kỹ thuật trong lĩnh vực chẩn đoán hình ảnh và điện quang can thiệp, trong đó quy định thời gian thực hiện kỹ thuật được xây dựng trên cơ sở tính phổ biến, thường quy tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Theo các hướng dẫn này, thời gian thực hiện một quy trình kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh được tính từ khi người bệnh bắt đầu được thực hiện kỹ thuật đến khi có kết quả chẩn đoán, bao gồm các bước: thời gian chuẩn bị người bệnh, thời gian chụp, đọc phim, kết luận chẩn đoán. Ví dụ, thời gian tham chiếu đối với: – Chụp X-quang xương khớp hoặc chụp phổi, bụng thường quy: khoảng 6 – 12 phút; – Chụp X-quang dạ dày, đại tràng:khoảng 20 – 30 phút; – Siêu âm ổ bụng, tuyến giáp: khoảng 6 – 15 phút. Các mốc thời gian nêu trong hướng dẫn có ý nghĩa tham chiếu chuyên môn, phục vụ tổ chức thực hiện và xây dựng định mức kinh tế – kỹ thuật; trong thực tế triển khai, căn cứ diễn biến lâm sàng, tình trạng người bệnh và điều kiện thực tế của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, thời gian thực hiện kỹ thuật có thể được điều chỉnh tăng hoặc giảm theo hướng dẫn của Bộ Y tế. Giám định, thanh toán BHYT đảm bảo đúng quy định của pháp luật Cơ quan BHXH thực hiện giám định và thanh toán chi phí các dịch vụ kỹ thuật y tế trên cơ sở hồ sơ, quy trình chuyên môn và thực tế triển khai tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, bảo đảm đúng quy định của pháp luật. BHXH Việt Nam không ban hành thêm quy định ngoài các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, đồng thời không yêu cầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh kéo dài thời gian thực hiện kỹ thuật một cách hình thức. Việc hiểu hoặc áp dụng quy định theo hướng yêu cầu bác sĩ, kỹ thuật viên “chờ đủ thời gian” mới tiếp tục thực hiện ca kỹ thuật tiếp theo là chưa phù hợp với bản chất của hướng dẫn chuyên môn, có thể ảnh hưởng đến thời gian chờ đợi và quyền lợi của người bệnh BHYT. Để bảo đảm thống nhất trong nhận thức và tổ chức thực hiện, BHXH Việt Nam kiến nghị Bộ Y tế tiếp tục rà soát, hoàn thiện các hướng dẫn chuyên môn kỹ thuật, bảo đảm phù hợp với thực tiễn triển khai và sự phát triển của khoa học công nghệ y tế, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong quá trình thực hiện, qua đó bảo đảm đầy đủ quyền lợi của người tham gia BHYT./. https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/linh-vuc-bao-hiem-y-te.aspx?ItemID=26151&CateID=169

Đặt Lịch Khám

    Đặt Lịch Khám