BỆNH VIỆN BẮC THĂNG LONG
BAC THANG LONG HOSPITAL

(84) 889 615 815

Email: thugopy.bvbtl@gmail.com

Hoạt Động Nghiên Cứu

Pháp luật - BHXH

Cập nhật danh mục thuốc BHYT: Mở rộng cơ hội điều trị, giảm gánh nặng tài chính cho người bệnh

Trong bối cảnh chi phí y tế ngày càng gia tăng, đặc biệt đối với các loại thuốc điều trị bệnh hiểm nghèo, chính sách BHYT tiếp tục khẳng định vai trò là trụ cột quan trọng của hệ thống an sinh xã hội, góp phần bảo vệ tài chính cho người dân trước rủi ro bệnh tật. Theo thông tin gửi báo chí ngày 26/2 của Vụ BHYT (Bộ Y tế), Bộ Y tế đang đề xuất mở rộng danh mục thuốc được quỹ BHYT chi trả. Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm giúp người bệnh có cơ hội tiếp cận nhiều phương pháp điều trị tiên tiến hơn, đồng thời giảm bớt gánh nặng chi phí khám, chữa bệnh. Thuốc chiếm tỷ trọng lớn trong chi khám, chữa bệnh BHYT Theo bà Trần Thị Trang, Vụ trưởng Vụ BHYT (Bộ Y tế), trong nhiều năm qua, thuốc luôn là cấu phần quan trọng và chiếm tỷ lệ lớn trong tổng chi phí khám, chữa bệnh BHYT. Mặc dù tỷ lệ chi thuốc trong tổng chi quỹ BHYT có xu hướng giảm dần qua các năm, song đây vẫn là khoản chi lớn nhất từ quỹ. Cụ thể, năm 2022, tổng chi quỹ BHYT cho thuốc đạt 40,01 nghìn tỷ đồng, chiếm 33,41% tổng chi khám chữa bệnh. Sang năm 2023, con số này tăng lên 45,841 nghìn tỷ đồng, chiếm 32,82%. Đến năm 2024, chi phí thuốc tiếp tục tăng lên 50,784 nghìn tỷ đồng, dù tỷ trọng giảm xuống còn 31,22%. Những số liệu này cho thấy nhu cầu sử dụng thuốc trong điều trị vẫn không ngừng gia tăng, kéo theo áp lực lớn về tài chính đối với quỹ BHYT. Trong bối cảnh đó, việc quản lý danh mục thuốc, điều chỉnh cơ chế thanh toán và cập nhật các thuốc mới phù hợp với thực tiễn điều trị là yêu cầu tất yếu. Hiện nay, việc thanh toán chi phí thuốc cho người tham gia BHYT được thực hiện theo danh mục và quy định tại Thông tư số 20/2022/TT-BYT của Bộ Y tế ban hành ngày 31/12/2022. Danh mục này bao gồm 1.037 hoạt chất thuốc hóa dược và sinh phẩm, được chia thành 27 nhóm lớn, cùng với 59 thuốc phóng xạ và chất đánh dấu phục vụ chẩn đoán và điều trị. Tuy nhiên, trên thực tế, phần lớn các thuốc hiện đang được BHYT chi trả vẫn dựa trên danh mục ban hành từ năm 2018 theo Thông tư số 30/2018/TT-BYT, trong đó chỉ bổ sung thêm một số ít thuốc phục vụ điều trị Covid-19. Điều này khiến danh mục thuốc BHYT chưa theo kịp tốc độ phát triển của khoa học dược phẩm, đặc biệt là các thuốc phát minh mới trong điều trị bệnh hiểm nghèo. Thực tế này đặt ra yêu cầu phải có cơ chế cập nhật danh mục thuốc BHYT linh hoạt và khoa học hơn, bảo đảm người bệnh có thể tiếp cận các phương pháp điều trị hiện đại, đồng thời vẫn giữ được sự bền vững của quỹ BHYT. Mở rộng danh mục thuốc BHYT, cơ hội tiếp cận điều trị tiên tiến Theo các chuyên gia y tế, việc bổ sung thuốc mới vào danh mục BHYT không chỉ giúp nâng cao hiệu quả điều trị mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc giảm gánh nặng tài chính cho người bệnh. Bác sĩ Nguyễn Văn Trường, Khoa Ung bướu, Bệnh viện Thanh Nhàn cho biết, điều trị ung thư hiện nay là điều trị đa mô thức, tức là kết hợp nhiều phương pháp như phẫu thuật, hóa trị, xạ trị, liệu pháp sinh học, thuốc điều trị đích và ghép tế bào gốc. Những tiến bộ này giúp tăng cơ hội sống cho bệnh nhân nhưng cũng khiến chi phí điều trị tăng lên đáng kể. Theo bác sĩ Nguyễn Văn Trường, nhiều loại thuốc điều trị ung thư hiện nay, đặc biệt là các thuốc phát minh mới nhập khẩu từ châu Âu, có giá rất cao. Vì vậy, việc Bộ Y tế đề xuất bổ sung các loại thuốc này vào danh mục BHYT là hướng hỗ trợ thiết thực, giúp người bệnh có thêm cơ hội tiếp cận các phác đồ điều trị tiên tiến. Ở góc độ quản lý và điều trị bệnh mạn tính, TS.BS Trần Thị Thanh Hóa, nguyên Phó Giám đốc Bệnh viện Nội tiết Trung ương cũng cho rằng việc mở rộng danh mục thuốc BHYT là hết sức cần thiết. Theo bà Trần Thị Thanh Hóa, nhiều thuốc điều trị đích hiện nay có giá rất cao, có loại lên tới khoảng 60 triệu đồng cho một đợt điều trị. “Nếu không có BHYT, nhiều bệnh nhân nghèo hoặc mắc bệnh hiểm nghèo sẽ rất khó tiếp cận điều trị. Việc đưa các thuốc này vào danh mục BHYT mang lại lợi ích lớn cho người bệnh, đặc biệt là nhóm yếu thế. Càng sớm được bổ sung, cơ hội điều trị của người bệnh càng tăng”, bà Trần Thị Thanh Hóa nhấn mạnh. Tuy nhiên, bà Trần Thị Thanh Hóa cũng lưu ý rằng việc mở rộng danh mục thuốc BHYT cần đi kèm với cơ chế quản lý chặt chẽ nhằm bảo đảm việc sử dụng thuốc đúng chỉ định, hợp lý và hiệu quả, tránh lãng phí nguồn lực của quỹ. Dự kiến bổ sung 84 thuốc mới vào danh mục BHYT Để đáp ứng yêu cầu thực tế từ các cơ sở khám chữa bệnh cũng như nguyện vọng của người dân, Bộ Y tế đang hoàn thiện dự thảo sửa đổi Thông tư số 20/2022/TT-BYT nhằm cập nhật danh mục thuốc BHYT. Theo dự thảo, danh mục thuốc BHYT dự kiến sẽ được bổ sung 84 thuốc hóa dược và sinh phẩm mới. Điểm đáng chú ý là dự thảo tập trung vào các nhóm thuốc đặc trị có chi

04 điểm mới trong Luật Trí tuệ nhân tạo của Việt Nam

Theo Luật Trí tuệ nhân tạo có hiệu lực từ tháng 3, AI cần phân loại theo mức độ rủi ro, nhưng cũng được tạo điều kiện phát triển ở mức cao nhất về khoa học công nghệ. Luật Trí tuệ nhân tạo được Quốc hội thông qua tháng 12/2025 và có hiệu lực từ 1/3/2026. Luật ra đời mục tiêu phát triển trí tuệ nhân tạo trở thành động lực quan trọng cho tăng trưởng, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững, khuyến khích thử nghiệm công nghệ có kiểm soát, áp dụng biện pháp quản lý tương xứng với mức độ rủi ro và khuyến khích cơ chế tự nguyện tuân thủ. Luật cũng xác định nguyên tắc cơ bản là AI phục vụ con người, không thay thế thẩm quyền và trách nhiệm của con người và cần bảo đảm duy trì sự kiểm soát và khả năng can thiệp của con người đối với mọi quyết định và hành vi của hệ thống. AI phải được phân loại mức độ rủi ro Theo luật, hệ thống trí tuệ nhân tạo được phân loại theo ba mức rủi ro: cao, trung bình, thấp. Nhà cung cấp tự phân loại trước khi đưa vào sử dụng, dựa trên hướng dẫn kỹ thuật sẽ được ban hành. Trường hợp không xác định được mức độ, họ có thể đề nghị Bộ Khoa học và Công nghệ hỗ trợ. Từ việc phân loại, luật cũng đưa ra các điều khoản để thúc đẩy phát triển và quản lý, đặc biệt với các hệ thống trí tuệ nhân tạo rủi ro cao. Nhà cung cấp cần có trách nhiệm thiết kế hệ thống bảo đảm khả năng giám sát và can thiệp của con người. Họ cũng cần lập, cập nhật và lưu giữ hồ sơ kỹ thuật và nhật ký hoạt động ở mức cần thiết cho việc đánh giá sự phù hợp và kiểm tra sau khi đưa vào sử dụng. Luật nhấn mạnh việc cung cấp thông tin “tương xứng với mục đích kiểm tra” và “không làm lộ bí mật kinh doanh”. Với người sử dụng, việc sử dụng AI rủi ro cao đi kèm trách nhiệm tuân thủ quy trình vận hành, hướng dẫn kỹ thuật và biện pháp bảo đảm an toàn, không can thiệp trái phép làm thay đổi tính năng của hệ thống. Việc kiểm tra, giám sát sẽ được thực hiện theo mức rủi ro. AI rủi ro cao được kiểm tra định kỳ hoặc khi có dấu hiệu vi phạm; rủi ro trung bình được giám sát thông qua báo cáo, kiểm tra chọn mẫu hoặc đánh giá của tổ chức độc lập; trong khi đó AI có rủi ro thấp chỉ được theo dõi, kiểm tra khi có sự cố, phản ánh hoặc khi cần bảo đảm an toàn, để không làm phát sinh nghĩa vụ không cần thiết. Đối với hệ thống AI đã được đưa vào hoạt động trước ngày luật này có hiệu lực, nhà cung cấp và bên triển khai sẽ thực hiện các nghĩa vụ tuân thủ trong vòng 18 tháng với lĩnh vực y tế, giáo dục, tài chính và trong 12 tháng với những lĩnh vực còn lại. Dự thảo Danh mục hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao đang lấy ý kiến công khai trên Cổng Thông tin Chính phủ từ ngày 9/2 đến 9/3. Nội dung AI phải có dấu hiệu nhận biết Các hệ thống trí tuệ nhân tạo tương tác trực tiếp với con người phải được thiết kế và vận hành để người sử dụng nhận biết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Đây là một phần trong trách nhiệm minh bạch được đề cập trong luật mới. Ngoài ra, nhà cung cấp cần bảo đảm nội dung âm thanh, hình ảnh, video do hệ thống AI tạo ra được đánh dấu ở định dạng máy đọc theo quy định của Chính phủ. Với bên triển khai, luật yêu cầu có trách nhiệm “thông báo rõ ràng khi cung cấp ra công cộng văn bản, âm thanh, hình ảnh, video được tạo ra hoặc chỉnh sửa bằng trí tuệ nhân tạo”, nếu nội dung đó có khả năng gây nhầm lẫn về tính xác thực của sự kiện, nhân vật. Với nội dung âm thanh, hình ảnh, video tạo hoặc chỉnh sửa bằng AI nhằm mô phỏng, giả lập ngoại hình, giọng nói của người thật hoặc tái hiện sự kiện thực tế, bên triển khai phải gắn nhãn dễ nhận biết nhằm phân biệt với nội dung thật. Đối với sản phẩm là tác phẩm điện ảnh, nghệ thuật hoặc sáng tạo, việc gắn nhãn quy định tại khoản này được thực hiện theo phương thức phù hợp, bảo đảm không làm cản trở việc hiển thị, trình diễn hoặc thưởng thức tác phẩm. “Nhà cung cấp và bên triển khai có trách nhiệm duy trì thông tin minh bạch theo quy định tại Điều này trong suốt quá trình cung cấp hệ thống, sản phẩm hoặc nội dung cho người sử dụng”, luật nêu. Hỗ trợ cho người nghiên cứu, phát triển Luật Trí tuệ nhân tạo dành một chương cho việc phát triển hạ tầng và bảo đảm chủ quyền AI quốc gia. Trong đó, các tổ chức, cá nhân nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ trí tuệ nhân tạo cốt lõi “được hưởng chính sách ưu đãi và hỗ trợ đặc thù theo quy định của pháp luật”. Để phát triển hệ sinh thái AI trong nước, luật nhấn mạnh tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực sẽ “được hưởng ưu đãi và hỗ trợ cao nhất” theo quy định pháp luật. Họ cũng được tạo điều kiện tiếp cận hạ tầng, dữ liệu và môi trường thử nghiệm phục vụ nghiên cứu, sản xuất và thương mại hóa sản phẩm, dịch vụ

Danh mục những bệnh nghề nghiệp được hưởng BHXH mới nhất

Theo Thông tư 60/2025/TT-BYT, bệnh nghề nghiệp được hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội (BHXH) và hướng dẫn chẩn đoán, giám định mức suy giảm khả năng lao động do bệnh nghề nghiệp… vừa có hiệu lực từ 15/2/2026 mà người lao động cần lưu ý. Cụ thể 35 bệnh nghề nghiệp được hưởng BHXH Theo Điều 3 Thông tư 60/2025/TT-BYT quy định về Danh mục bệnh nghề nghiệp được hưởng BHXH và hướng dẫn chẩn đoán, giám định mức suy giảm khả năng lao động do bệnh nghề nghiệp như sau: Nguyên tắc chẩn đoán, điều trị, dự phòng đối với người lao động bị mắc bệnh nghề nghiệp Thông tư 60/2025/TT-BYT quy định nguyên tắc chẩn đoán, điều trị, dự phòng đối với người lao động bị mắc bệnh nghề nghiệp như sau: – Người lao động sau khi được chẩn đoán mắc bệnh nghề nghiệp cần phải: Hạn chế tiếp xúc yếu tố có hại gây bệnh nghề nghiệp đó; Điều trị theo Hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế. Đối với nhóm bệnh nhiễm độc nghề nghiệp phải được thải độc, giải độc kịp thời; Đồng thời được ngưởi sử dụng lao động giới thiệu đi khám giám định y khoa xác định mức độ suy giảm khả năng lao động để hưởng chế độ BHXH, được điều trị, điều dưỡng, phục hồi chức năng lao động theo quy định của pháp luật. – Bệnh nghề nghiệp quy định tại các khoản 1, 2, 4, 5, 11, 18, 20, 21 và 34 Điều 3 Thông tư 60/2025/TT-BYT và ung thư do các bệnh nghề nghiệp quy định tại Điều 3 này (trừ khoản 34) không có khả năng điều trị ổn định cần chuyển khám giám định ngay. – Trường hợp chần đoán các bệnh nhiễm độc nghề nghiệp cho người lao động trong thời gian bảo đảm không nhất thiết phải có các xét nghiệm xác định độc chất trong cơ thể khi các tiêu chí khác đã đáp ứng giới hạn tiếp xúc tối thiểu tương ứng với từng bệnh nhiễm độc nghề nghiệp. Thông tư 60/2025/TT-BYT quy định việc xác định bệnh nghề nghiệp để bổ sung vào Danh mục bệnh nghề nghiệp được hưởng BHXH căn cứ vào một trong các tiêu chí sau đây: Xác định được mối liên hệ giữa việc tiếp xúc với yếu tố có hại trong quá trình lao động với một bệnh cụ thể. Một số bệnh có thể xuất hiện sau nhiều năm tiếp xúc lần đầu với yếu tố có hại trong quá trình lao động, người lao động có thể đã nghỉ hưu hoặc chuyển sang công việc khác. Bệnh xảy ra trong nhóm người lao động tiếp xúc với yếu tố có hại thường có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn so với nhóm người lao động không tiếp xúc. Bệnh xảy ra ở người lao động do tiếp xúc với yếu tố có hại trong quá trình lao động nhưng chưa có điều kiện nghiên cứu tại Việt Nam mà đã được quốc tế công nhận là bệnh nghề nghiệp được hưởng BHXH thì bổ sung vào danh mục bệnh nghề nghiệp được hưởng BHXH. Thông tư 60/2025/TT-BYT có hiệu lực kể từ ngày 15/2/2026. Các văn bản quy phạm pháp luật sau đây hết hiệu lực kể từ ngày Thông tư 60 có hiệu lực thi hành: Thông tư số 15/2016/TT-BYT ngày 15/5/2016 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định về bệnh nghề nghiệp được hưởng BHXH; Thông tư số 02/2023/TT-BYT ngày 9/2/2023 của Bộ trưởng Bộ Y tế sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 15/2016/TT-BYT ngày 15/5/2016 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định về bệnh nghề nghiệp được hưởng BHXH. https://suckhoedoisong.vn/danh-muc-nhung-benh-nghe-nghiep-duoc-huong-bhxh-moi-nhat-16926022506272851.htm

BHXH Việt Nam thực hiện giám định và thanh toán BHYT theo đúng quy định của pháp luật

Thời gian qua, liên quan đến việc tổ chức, thực hiện và thanh toán các dịch vụ kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh trong khám bệnh, chữa bệnh BHYT, BHXH Việt Nam cung cấp một số thông tin nhằm làm rõ căn cứ pháp lý và nguyên tắc thực hiện công tác giám định, thanh toán trong khám chữa bệnh BHYT theo quy định hiện hành. Căn cứ pháp lý trong giám định, thanh toán dịch vụ kỹ thuật y tế Việc giám định và thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT được cơ quan BHXH thực hiện trên cơ sở tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh và pháp luật về BHYT. Luật Khám bệnh, chữa bệnh quy định nguyên tắc trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh là thực hiện kịp thời và tuân thủ quy định về chuyên môn kỹ thuật, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong việc thực hiện đúng các quy định chuyên môn kỹ thuật và các quy định pháp luật có liên quan. Ảnh minh họa.  Khoản 2 Điều 35 Nghị định số 188/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm tuân thủ các hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế và các quy định pháp luật liên quan về mua sắm, đấu thầu, nhằm bảo đảm cung ứng thuốc, dịch vụ kỹ thuật y tế có chất lượng, hiệu quả và sử dụng quỹ BHYT tiết kiệm, đúng quy định. Thông tư số 35/2016/TT-BYT của Bộ Y tế quy định rõ, dịch vụ kỹ thuật y tế được quỹ BHYT thanh toán khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện, cụ thể như sau: – Được cấp có thẩm quyền phê duyệt thực hiện tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; – Được thực hiện theo quy trình chuyên môn kỹ thuật do cấp có thẩm quyền ban hành; – Được cấp có thẩm quyền phê duyệt giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh BHYT. Quy định về thời gian thực hiện quy trình kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh Quyết định số 2775/QĐ-BYT và Quyết định số 2776/QĐ-BYT ngày 29/8/2025 của Bộ Y tế ban hành hướng dẫn quy trình kỹ thuật trong lĩnh vực chẩn đoán hình ảnh và điện quang can thiệp, trong đó quy định thời gian thực hiện kỹ thuật được xây dựng trên cơ sở tính phổ biến, thường quy tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Theo các hướng dẫn này, thời gian thực hiện một quy trình kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh được tính từ khi người bệnh bắt đầu được thực hiện kỹ thuật đến khi có kết quả chẩn đoán, bao gồm các bước: thời gian chuẩn bị người bệnh, thời gian chụp, đọc phim, kết luận chẩn đoán. Ví dụ, thời gian tham chiếu đối với: – Chụp X-quang xương khớp hoặc chụp phổi, bụng thường quy: khoảng 6 – 12 phút; – Chụp X-quang dạ dày, đại tràng:khoảng 20 – 30 phút; – Siêu âm ổ bụng, tuyến giáp: khoảng 6 – 15 phút. Các mốc thời gian nêu trong hướng dẫn có ý nghĩa tham chiếu chuyên môn, phục vụ tổ chức thực hiện và xây dựng định mức kinh tế – kỹ thuật; trong thực tế triển khai, căn cứ diễn biến lâm sàng, tình trạng người bệnh và điều kiện thực tế của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, thời gian thực hiện kỹ thuật có thể được điều chỉnh tăng hoặc giảm theo hướng dẫn của Bộ Y tế. Giám định, thanh toán BHYT đảm bảo đúng quy định của pháp luật Cơ quan BHXH thực hiện giám định và thanh toán chi phí các dịch vụ kỹ thuật y tế trên cơ sở hồ sơ, quy trình chuyên môn và thực tế triển khai tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, bảo đảm đúng quy định của pháp luật. BHXH Việt Nam không ban hành thêm quy định ngoài các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, đồng thời không yêu cầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh kéo dài thời gian thực hiện kỹ thuật một cách hình thức. Việc hiểu hoặc áp dụng quy định theo hướng yêu cầu bác sĩ, kỹ thuật viên “chờ đủ thời gian” mới tiếp tục thực hiện ca kỹ thuật tiếp theo là chưa phù hợp với bản chất của hướng dẫn chuyên môn, có thể ảnh hưởng đến thời gian chờ đợi và quyền lợi của người bệnh BHYT. Để bảo đảm thống nhất trong nhận thức và tổ chức thực hiện, BHXH Việt Nam kiến nghị Bộ Y tế tiếp tục rà soát, hoàn thiện các hướng dẫn chuyên môn kỹ thuật, bảo đảm phù hợp với thực tiễn triển khai và sự phát triển của khoa học công nghệ y tế, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong quá trình thực hiện, qua đó bảo đảm đầy đủ quyền lợi của người tham gia BHYT./. https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/linh-vuc-bao-hiem-y-te.aspx?ItemID=26151&CateID=169

Bộ Y tế thí điểm bảo lãnh tạm ứng viện phí khi nhập viện

Bộ Y tế cho biết đang thí điểm mô hình mới theo hướng cho phép một người đăng ký bảo lãnh viện phí với ngân hàng cho cả gia đình, tạo điều kiện để cơ sở y tế thực hiện “chữa bệnh trước, thanh toán sau”. Thông tin được Bộ Y tế công bố tại Hội nghị triển khai công tác khám, chữa bệnh năm 2026, tổ chức ngày 02/02. Tại Hội nghị, Bộ Y tế chính thức vận hành Cổng bảo lãnh thanh toán viện phí. Bệnh viện Đa khoa Hà Đông (Hà Nội) là đơn vị đầu tiên trong 15 cơ sở y tế thí điểm hoàn tất kết nối và đưa vào sử dụng. Ngành y tế sẽ sớm triển khai tại Bệnh viện Đa khoa Nông nghiệp và mở rộng 13 bệnh viện còn lại trong thời gian tới. Các đại biểu bấm nút khai trương Cổng bảo lãnh thanh toán viện phí ngày 2/2. Phát biểu tại Hội nghị, Tiến sĩ Nguyễn Huy Lương, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh cho biết, những năm qua, ngành Y tế đã phát triển mạnh mẽ, đặc biệt trong ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số. Nhiều kỹ thuật y học hiện đại như mổ robot, xạ trị proton, can thiệp tim mạch… đang được triển khai tại Việt Nam. Tuy nhiên, một nghịch lý tồn tại, trong khi chuyên môn y tế không ngừng được nâng cao thì quy trình thu viện phí tại nhiều cơ sở khám chữa bệnh vẫn còn lạc hậu. Hiện nay, hầu hết các bệnh viện, từ công lập đến tư nhân, từ tuyến tỉnh đến tuyến trung ương, người bệnh vẫn phải tạm ứng viện phí trước khi điều trị. Điều này xảy ra ngay cả với người có thẻ BHYT, dù đã có nhiều chỉ đạo yêu cầu không thu tạm ứng và cắt giảm thủ tục hành chính trong khám chữa bệnh. Đối với bệnh nhân nội trú, một đợt điều trị thường kéo dài và phát sinh nhiều khoản chi phí. Người bệnh phải liên tục chờ đợi làm xét nghiệm, thực hiện kỹ thuật rồi tiếp tục chờ nộp thêm viện phí. Với những ca điều trị chi phí lớn như phẫu thuật, can thiệp tim mạch, đặt stent, số tiền có thể lên tới hàng trăm triệu đồng. “Không ít trường hợp dù có tiền trong tài khoản ngân hàng nhưng khi đang nằm viện, người bệnh không đủ điều kiện về sức khỏe hoặc thủ tục để tự thực hiện giao dịch thanh toán”, ông Nguyễn Huy Lương chia sẻ. Trước đó, Bộ Y tế đã ban hành Bộ tiêu chí chất lượng bệnh viện, trong đó quy định việc thu viện phí phải thuận tiện, công khai, minh bạch; người bệnh có thể được cấp tài khoản thanh toán ảo, nộp viện phí một lần khi ra viện, thậm chí được tín chấp bằng thẻ tín dụng. Tuy nhiên, trên thực tế, các quy định này vẫn chưa được triển khai rộng rãi. Từ thực tiễn trên, ông Nguyễn Huy Lương cho rằng, cổng bảo lãnh viện phí là giải pháp nhân văn và phù hợp. Mô hình này giúp người bệnh yên tâm nhập viện, không lo thiếu tiền điều trị, không phải tạm ứng hay hoàn ứng nhiều lần, đồng thời chủ động hơn về tài chính, kể cả với những ca bệnh có chi phí lớn. Một điểm đáng chú ý của mô hình bảo lãnh viện phí là tính linh hoạt và cộng đồng. Một người có thể bảo lãnh cho nhiều người khác; ngược lại, một bệnh nhân cũng có thể được nhiều người cùng bảo lãnh. Chỉ cần mỗi người bảo lãnh một khoản nhỏ, khi cộng lại có thể đủ để chi trả cho những ca điều trị tốn kém, qua đó chia sẻ rủi ro và hỗ trợ lẫn nhau trong cộng đồng. Tại Hà Nội, Bệnh viện Đa khoa Hà Đông đã thử nghiệm mô hình này. Ông Nguyễn Thành Vinh, Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Hà Đông cho biết, kết quả triển khai ban đầu có khoảng 70% bệnh nhân khám dịch vụ sử dụng bảo lãnh viện phí. Thời gian xử lý tại bộ phận tiếp đón và thu ngân giảm khoảng 30%, đặc biệt rút ngắn đáng kể thời gian tạm ứng và hoàn ứng. Việc áp dụng mô hình không ảnh hưởng đến quy trình hoạt động chung của bệnh viện. Tỷ lệ hài lòng của người bệnh và người nhà đạt 100% theo khảo sát thực tế. Đa số người bệnh đánh giá cao sự tiện lợi khi không phải xếp hàng chờ tạm ứng, nộp tiền nhiều lần. Người nhà bệnh nhân cảm thấy yên tâm hơn khi đã chủ động đăng ký bảo lãnh; người bệnh khi đi khám chỉ cần sử dụng bảo lãnh để làm thủ tục./. https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/linh-vuc-bao-hiem-y-te.aspx?ItemID=26154&CateID=169

Quy định bảo đảm an toàn bức xạ trong y tế

Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Thông tư 59/2025/TT-BKHCN quy định về bảo đảm an toàn bức xạ và ứng phó sự cố bức xạ và hạt nhân, trong đó quy định về bảo đảm an toàn bức xạ trong y tế. Yêu cầu chung về bảo đảm an toàn đối với thiết bị bức xạ, thiết bị sử dụng trong y học hạt nhân Thông tư nêu rõ các yêu cầu chung về bảo đảm an toàn đối với thiết bị bức xạ, thiết bị sử dụng trong y học hạt nhân: Thiết bị bức xạ sử dụng cho chẩn đoán, điều trị bệnh và thiết bị được sử dụng trong y học hạt nhân phải có chứng chỉ chất lượng thể hiện việc đáp ứng các yêu cầu về bảo đảm an toàn theo tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. Trường hợp không có tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia thì áp dụng tiêu chuẩn quốc tế tương đương của Ủy ban Kỹ thuật điện quốc tế (IEC), Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO). Có tài liệu kèm theo thiết bị, bao gồm tài liệu về thông số kỹ thuật của thiết bị, hướng dẫn vận hành và bảo trì, hướng dẫn an toàn. Tài liệu hướng dẫn vận hành, hướng dẫn an toàn phải được dịch ra tiếng Việt. Chỉ dẫn vận hành, ký hiệu viết tắt và giá trị vận hành trên bảng điều khiển của thiết bị bức xạ phải bằng tiếng Việt hoặc bằng ngôn ngữ phù hợp với ngôn ngữ mà người vận hành máy sử dụng. Thiết bị bức xạ phải có cơ cấu kiểm soát chùm tia bức xạ, bảo đảm chỉ thị rõ ràng và tin cậy trạng thái chùm tia đang “ngắt” hay “mở”. Thiết bị bức xạ phải có cơ cấu để khu trú chùm tia cho mục đích kiểm soát chùm tia chỉ vào vùng cơ thể người bệnh cần chẩn đoán hoặc điều trị. Trường bức xạ phát ra trong vùng để chẩn đoán hay điều trị trên người bệnh phải đồng đều; mức độ không đồng đều của trường bức xạ phải được nhà cung cấp chỉ rõ trong tài liệu kỹ thuật của thiết bị. Yêu cầu an toàn đối với thiết bị X-quang chẩn đoán dùng trong y tế Theo Thông tư, thiết bị X-quang chẩn đoán dùng trong y tế ngoài việc thực hiện các yêu cầu chung về bảo đảm an toàn đối với thiết bị bức xạ, thiết bị sử dụng trong y học hạt nhân còn phải bảo đảm các yêu cầu sau: Mức bức xạ rò của đầu bóng phát tia X không vượt quá 1 mGy/giờ tại khoảng cách 1m từ vỏ đầu bóng phát tia X lấy trung bình trên diện tích không vượt quá 100 cm2 cho mọi chế độ làm việc của thiết bị được nhà sản xuất khuyến cáo; giá trị lọc cố định của hệ đầu bóng phát X-quang trong đơn vị milimét nhôm tương đương (mm Al) phải ghi rõ trên vỏ hộp chứa bóng. Có hệ kiểm tra kích thước chùm tia bằng nguồn sáng, trừ thiết bị X- quang chụp răng sử dụng phim đặt sau huyệt ổ răng và thiết bị X-quang chụp vú; các thông số điện áp phát (kV), dòng bóng phát (mA), thời gian phát tia (s) hoặc hàng số phát tia (mAs) phải được hiển thị trên tủ điều khiển khi đặt chế độ làm việc và khi chụp. Đối với thiết bị X-quang có chế độ chụp, việc phát tia phải được chấm dứt sau khi đạt được giá trị đặt trước như: thời gian hoặc giá trị mAs hoặc giá trị liều chiếu xạ. Đối với thiết bị X-quang có chế độ chiếu, chụp phải có bộ kiểm soát chế độ phát tia tự động (AEC) hoặc công tắc điều khiển phát tia dạng bấm và giữ, bảo đảm thiết bị chỉ phát tia nếu công tắc được bấm, giữ chặt và ngừng phát tia khi thả công tắc. Thiết bị X-quang di động phải có cáp nối đủ dài để bảo đảm khoảng cách giữa người vận hành thiết bị và bóng phát tối thiểu 2 mét. Đối với thiết bị bức xạ khác, khoảng cách này tối thiểu là 3m. Thiết bị X-quang tăng sáng truyền hình dùng trong can thiệp phải có các tấm che chắn cao su chì lắp tại bàn người bệnh để che chắn các tia bức xạ ảnh hưởng đến nhân viên và hệ che chắn treo trên trần để sử dụng cho mục đích bảo vệ mắt và tuyến giáp của nhân viên khi theo dõi người bệnh. Các tấm che chắn cao su chì phải bảo đảm có chiều dày che chắn không nhỏ hơn 0,5 milimét chì tương đương. Ngoài ra, Thông tư còn quy định các yêu cầu an toàn đối với thiết bị xạ trị; yêu cầu an toàn đối với nguồn phóng xạ kín và thuốc phóng xạ; yêu cầu an toàn đối với thiết bị đo bức xạ, thiết bị và dụng cụ bảo vệ an toàn bức xạ… Xem chi tiết Thông tư tại đây https://baochinhphu.vn/quy-dinh-bao-dam-an-toan-buc-xa-trong-y-te-102260122105314144.htm

Truyền thông chính sách: Chìa khóa để pháp luật đi vào cuộc sống

Theo Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng, truyền thông chính sách cần được coi là quy trình bắt buộc trong xây dựng và thi hành pháp luật, thực hiện sớm, bài bản và đồng bộ, nhằm nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận xã hội và bảo đảm hiệu lực thực thi pháp luật.   Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng chủ trì Phiên họp của Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật Trung ương – Ảnh: Báo Chính phủ Sáng 15.1, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng, Ủy viên Trung ương Đảng, chủ trì Phiên họp của Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật Trung ương đánh giá kết quả triển khai nhiệm vụ năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026. Phiên họp có sự tham dự của đại diện các bộ, cơ quan ngang bộ cùng các cơ quan báo chí chủ lực như Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam. Đổi mới mạnh mẽ phổ biến, giáo dục pháp luật trong giai đoạn mới Theo Bộ Tư pháp, năm 2025, Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật Trung ương và Bộ Tư pháp – Cơ quan thường trực của Hội đồng – đã chủ động ban hành theo thẩm quyền hoặc tham mưu trình Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Hội đồng ban hành 48 văn bản để triển khai các nhiệm vụ. Đồng thời, đôn đốc, chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương kịp thời tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) đối với các luật, nghị quyết được Quốc hội thông qua tại các kỳ họp thứ 8, 9, 10 và kỳ họp bất thường thứ 9. Trong năm 2025, cả nước đã tổ chức hơn 216.000 hoạt động PBGDPL trực tiếp, thu hút trên 23 triệu lượt người tham dự; tổ chức gần 5.000 cuộc thi tìm hiểu pháp luật với hơn 2 triệu lượt người tham gia. Nhiều bộ, ngành, địa phương triển khai tích cực như Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Tài chính và các tỉnh: Tuyên Quang, Đồng Nai, Tây Ninh, Vĩnh Long, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Thanh Hóa… Cơ quan Thường trực Hội đồng đã tổng hợp, phân loại hàng trăm mô hình PBGDPL hiệu quả, đồng thời chỉ đạo nhân rộng, đặc biệt là các mô hình ứng dụng công nghệ số. Trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, Bộ Tư pháp đã phối hợp các bộ, ngành nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung Nghị định số 55/2019/NĐ-CP; phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức hội thảo nhận diện các điểm nghẽn trong lĩnh vực đất đai; tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Đồng thời, Bộ Tư pháp đã trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình “Hỗ trợ pháp lý liên ngành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh giai đoạn 2026–2030”. Cơ quan Thường trực Hội đồng cũng đã tổ chức các đoàn công tác làm việc với các cơ quan báo chí, truyền thông chủ lực để nắm bắt tình hình triển khai công tác truyền thông chính sách, PBGDPL. Nhân rộng mô hình hiệu quả, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số Các cơ quan báo chí trung ương đã chủ động tham gia sâu vào truyền thông chính sách. Đài Truyền hình Việt Nam xây dựng chuyên mục “Tiêu điểm chính sách” về các chính sách có tác động lớn đến xã hội, được người dân và doanh nghiệp ghi nhận, đánh giá cao. Nhiều bộ, ngành, cơ quan trung ương như Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Y tế, Bộ Tư pháp cùng các cơ quan báo chí chủ lực đã lồng ghép các chuyên mục, chuyên trang, dòng sự kiện về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả truyền thông chính sách. Thứ trưởng Bộ Tư pháp khẳng định, năm 2025, Hội đồng các cấp đã triển khai nhiệm vụ kịp thời, đa dạng về hình thức, chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số. Kết quả hoạt động của Hội đồng góp phần nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành về vai trò của công tác PBGDPL, trợ giúp pháp lý; bảo đảm quyền được thông tin pháp luật của người dân và doanh nghiệp. Đại diện Bộ Công an cho biết, Bộ đã triển khai nhiều mô hình PBGDPL thiết thực như phối hợp tuyên truyền pháp luật cho phạm nhân tại các trại giam; tổ chức các cuộc thi viết, cấp phát hàng nghìn đầu sách pháp luật, tủ sách pháp luật. Đồng thời, đổi mới hình thức tuyên truyền pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa, gắn nội dung pháp luật với đời sống thực tiễn. Truyền thông chính sách phải đồng bộ, bài bản Phát biểu kết luận phiên họp, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ghi nhận và đánh giá cao những nỗ lực, kết quả đạt được của Hội đồng trong năm 2025, góp phần nâng cao hiệu quả công tác PBGDPL, trợ giúp pháp lý và hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Tuy nhiên, Phó Thủ tướng cũng chỉ rõ một số tồn tại, hạn chế như tiến độ thực hiện một số nhiệm vụ còn chậm, phối hợp liên ngành chưa chặt chẽ; truyền thông chính sách chưa thực sự hiệu quả, việc bố trí và sử dụng kinh phí còn vướng mắc. Nhấn mạnh nhiệm vụ năm 2026, Phó Thủ tướng

Thanh niên “3 không” – khoảng trống kép về tâm lý và an sinh xã hội

Trong bức tranh phát triển kinh tế – xã hội hiện nay, thanh niên luôn được xác định là lực lượng lao động nòng cốt, giữ vai trò quan trọng trong tăng trưởng và phát triển dài hạn của đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh bộ phận thanh niên có việc làm ổn định, được đào tạo bài bản và tham gia đầy đủ các chính sách an sinh xã hội, vẫn tồn tại một nhóm không nhỏ rơi vào tình trạng “3 không”: không có việc làm, không tham gia học tập và đào tạo. Đây là nhóm đối tượng đang đứng trước nhiều rủi ro và trở thành khoảng trống đáng lo ngại trong hệ thống an sinh xã hội. Theo số liệu thống kê được tổng hợp từ báo cáo của Cục Thống kê (Tổng cục Thống kê – Bộ Tài chính) về tình hình lao động, việc làm quý IV và cả năm 2025, chỉ tính riêng trong quý IV/2025, cả nước có khoảng 1,4 triệu thanh niên không có việc làm, không tham gia học tập và đào tạo, chiếm 10,2% tổng số thanh niên cả nước. Những con số này phản ánh rõ thực trạng một bộ phận người trẻ đang gặp khó khăn trong tiếp cận việc làm bền vững, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với công tác định hướng nghề nghiệp, đào tạo kỹ năng và tạo việc làm cho lao động trẻ trong bối cảnh thị trường lao động đang chịu tác động mạnh mẽ của chuyển đổi số và phát triển khoa học – công nghệ. Thực tế cho thấy, thanh niên “3 không” chủ yếu làm việc trong khu vực phi chính thức, lao động tự do, việc làm thời vụ hoặc ngắn hạn. Thu nhập của nhóm này thường thấp, thiếu ổn định và dễ bị tổn thương trước các cú sốc kinh tế – xã hội. Việc không có hợp đồng lao động đồng nghĩa với việc không được bảo vệ bởi pháp luật lao động, không được tham gia BHXH bắt buộc, không có bảo hiểm thất nghiệp và không có lương hưu khi hết tuổi lao động. Những rủi ro này khiến cuộc sống của người trẻ luôn tiềm ẩn bất ổn, nhất là khi gặp phải các biến cố về sức khỏe hoặc mất nguồn thu nhập. Chia sẻ về thực trạng này, anh Lê Tuấn Hùng, đại diện Công ty Phát triển nhân sự Hoàng Hà (Hà Nội), cho rằng nhiều bạn trẻ cần nhìn nhận lại kỳ vọng nghề nghiệp của bản thân, có cái nhìn thực tế hơn về thị trường lao động và sẵn sàng bắt đầu từ những công việc phù hợp với năng lực hiện có. Theo anh Hùng, việc chấp nhận làm việc, rèn luyện kỷ luật và thái độ nghề nghiệp từ những vị trí ban đầu sẽ tạo nền tảng quan trọng để người trẻ từng bước nâng cao tay nghề, gia tăng giá trị bản thân và mở rộng cơ hội việc làm trong tương lai. Cùng với đó, người trẻ cần chủ động học tập, trang bị thêm kỹ năng mới, mạnh dạn bước ra khỏi vùng an toàn và thích nghi với yêu cầu của thị trường lao động hiện đại. Trong bối cảnh nhiều ngành nghề truyền thống bị thu hẹp, việc tiếp cận kỹ năng số, ngoại ngữ và các kỹ năng mềm trở thành yếu tố then chốt giúp thanh niên nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng tham gia vào khu vực việc làm chính thức. Không chỉ đối mặt với rủi ro về kinh tế, nhóm thanh niên “3 không” còn chịu áp lực lớn về tâm lý. Việc thiếu một “tấm lưới” an sinh khiến nhiều người trẻ sống trong trạng thái lo lắng, bất an, e ngại rủi ro, thậm chí trì hoãn những quyết định quan trọng của cuộc đời như lập gia đình, sinh con hay đầu tư học tập nâng cao kỹ năng. Khoảng trống an sinh vì thế không chỉ là câu chuyện của chính sách, mà còn tác động trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực và sự phát triển bền vững của xã hội trong dài hạn. Thực tế cũng cho thấy, một bộ phận thanh niên hiện nay vẫn còn tâm lý coi trọng thu nhập trước mắt, xem việc tham gia BHXH, BHYT là một khoản chi phí thay vì là sự đầu tư cho tương lai. Khi còn trẻ, khỏe mạnh, nhiều người ít quan tâm đến rủi ro ốm đau, tai nạn hay tuổi già không có nguồn thu nhập ổn định. Chính tâm lý chủ quan này khiến tỷ lệ tham gia BHXH tự nguyện và BHYT hộ gia đình trong nhóm thanh niên “3 không” còn ở mức thấp, làm gia tăng nguy cơ mất an sinh khi gặp biến cố. Trong bối cảnh đó, BHXH và BHYT được xác định là hai trụ cột quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội, góp phần bảo vệ người lao động nói chung và thanh niên nói riêng trước những rủi ro của cuộc sống và thị trường lao động. BHYT giúp người trẻ tiếp cận dịch vụ y tế kịp thời, giảm gánh nặng chi phí khám chữa bệnh, đặc biệt trong những tình huống phát sinh đột ngột. BHXH tự nguyện tạo nền tảng an sinh lâu dài, giúp người lao động có nguồn thu nhập ổn định khi hết tuổi lao động, giảm nguy cơ rơi vào nghèo đói khi về già. Những năm qua, việc tuân thủ Luật BHXH, Luật BHYT trong các cơ quan, doanh nghiệp ngày càng được nâng cao, tạo điều kiện để lao động trẻ tham gia BHXH, BHYT từ sớm và đúng quy định. Tuy nhiên, để thu hẹp khoảng trống an sinh đối với nhóm thanh niên “3 không”, cần có sự vào cuộc đồng bộ của cả

Góc nhìn pháp lý vụ “phù phép” lợn bệnh thành đồ hộp

Trong quá trình giải quyết vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng cũng sẽ đánh giá đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị can. Những ngày qua, vụ việc Công an TP Hải Phòng triệt phá đường dây tiêu thụ thịt lợn nhiễm bệnh, “phù phép” thành các sản phẩm thịt đóng hộp xảy ra tại Công ty CP Đồ hộp Hạ Long, thu giữ 130 tấn thịt lợn trong đó có 120 tấn thịt nhiễm bệnh dịch tả lợn châu Phi khiến nhiều người không khỏi hoang mang, bức xúc. Dưới các bài viết của Dân trí, nhiều người mong muốn cơ quan chức năng xét xử mức án nghiêm khắc nhất đối với 9 đối tượng đã bị khởi tố trong đường dây. Vậy dưới góc độ pháp lý, khung hình phạt có thể áp dụng đối với tội danh trong vụ việc này ra sao? Theo Điều 317 Bộ luật Hình sự 2015, người thực hiện một trong các hành vi sau sẽ bị xử lý hình sự về tội Vi phạm quy định về an toàn thực phẩm: Thứ nhất, sử dụng các loại chất mà biết là cấm sử dụng hoặc ngoài danh mục được sử dụng trong sản xuất thực phẩm mà sản phẩm trị giá từ 10 triệu đồng trở lên hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý hình sự về hành vi này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; Thứ hai, sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc bị tiêu hủy để chế biến thực phẩm hoặc cung cấp, bán thực phẩm mà biết là có nguồn gốc từ nhóm động vật nêu trên mà sản phẩm trị giá từ 10 triệu đồng trở lên hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý hình sự về hành vi này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; Thứ ba, sử dụng các loại chất mà biết là chưa được phép sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành tại Việt Nam trong sản xuất thực phẩm mà sản phẩm trị giá từ 100 triệu đồng trở lên hoặc từ 50 triệu đồng trở lên nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý hình sự về hành vi này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; Thứ tư, nhập khẩu, cung cấp hoặc bán thực phẩm mà biết là có sử dụng các loại chất cấm sử dụng hoặc ngoài danh mục được phép sử dụng trị giá từ 10 triệu đồng trở lên; thu lợi bất chính từ 5 triệu đồng trở lên; đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc đã bị kết án về hành vi này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; Thứ năm, nhập khẩu, cung cấp hoặc bán thực phẩm mà biết là có sử dụng các chất chưa được phép sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành tại Việt Nam trị giá từ 100 triệu đồng trở lên; thu lợi bất chính từ 50 triệu đồng trở lên; thực phẩm trị giá từ 50 triệu đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính từ 20 triệu đồng trở lên nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc kết án về hành vi này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; Thứ sáu, thực hiện một trong các hành vi nêu trên hoặc chế biến, cung cấp, bán thực phẩm mà biết là không bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật, quy định về an toàn thực phẩm gây ngộ độc, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của từ 5 người trở lên hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác từ 31% trở lên. Tùy thuộc các yếu tố như mức độ thiệt hại về tài sản, sức khỏe, tính mạng con người, tổng giá trị thực phẩm không đảm bảo hay số tiền thu lợi bất chính, người phạm tội có thể bị áp dụng các tình tiết định khung theo quy định tại Điều 317 Bộ luật Hình sự 2015. Đối với các tình tiết quy định tại khoản 4 Điều này, việc xử lý hình sự sẽ được áp dụng nếu hành vi thuộc các tình tiết định khung như làm chết 3 người trở lên; gây ngộ độc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của 201 người trở lên; thực phẩm có giá trị 500 triệu đồng trở lên; thu lợi bất chính 300 triệu đồng trở lên hay thực phẩm có sử dụng nguyên liệu là động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy trị giá 500 triệu đồng trở lên. Khung hình phạt có thể áp dụng theo khoản này là phạt tù 12-20 năm. Như vậy, với việc Công an TP Hải Phòng khởi tố bị can về tội Vi phạm quy định về an toàn thực phẩm theo khoản 4, Điều 317 Bộ luật Hình sự 2015, người phạm tội có thể bị truy tố với khung hình phạt là 12-20 năm tù. Ngoài ra, theo Điều 54 Bộ luật Hình sự 2015, trong quá trình giải quyết Vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng cũng sẽ đánh giá đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị can. Nếu bị can có từ 2 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, căn cứ Điều 54 Bộ luật Hình sự 2015, cơ quan tiến hành tố tụng có thể áp dụng mức phạt thấp hơn so với mức phạt về tội danh bị xử lý theo quy định của pháp luật. https://dantri.com.vn/ban-doc/goc-nhin-phap-ly-vu-phu-phep-lon-benh-thanh-do-hop-20260109174006506.htm

Bộ Y tế ban hành danh mục 35 bệnh nghề nghiệp được hưởng BHXH

Bộ Y tế vừa ban hành Thông tư 60/2025/TT-BYT quy định về bệnh nghề nghiệp được hưởng BHXH và hướng dẫn chẩn đoán, giám định mức suy giảm khả năng lao động do bệnh nghề nghiệp. Nhóm bệnh STT Tên bệnh nghề nghiệp I. Bệnh bụi phổi – đường hô hấp 1 Bệnh bụi phổi silic nghề nghiệp 2 Bệnh bụi phổi amiăng nghề nghiệp 3 Bệnh bụi phổi bông nghề nghiệp 4 Bệnh bụi phổi talc nghề nghiệp 5 Bệnh bụi phổi than nghề nghiệp 6 Bệnh viêm phế quản mạn tính nghề nghiệp 7 Bệnh hen nghề nghiệp II. Bệnh nhiễm độc hóa chất, kim loại nặng 8 Bệnh nhiễm độc chì nghề nghiệp 9 Bệnh nhiễm độc nghề nghiệp do benzen và đồng đẳng 10 Bệnh nhiễm độc thủy ngân nghề nghiệp 11 Bệnh nhiễm độc mangan nghề nghiệp 12 Bệnh nhiễm độc 2,4,6-Trinitrotoluen (TNT) nghề nghiệp 13 Bệnh nhiễm độc arsenic nghề nghiệp 14 Bệnh nhiễm độc hóa chất bảo vệ thực vật nghề nghiệp (nhóm phosphor hữu cơ và carbamat) 15 Bệnh nhiễm độc nicotin nghề nghiệp 16 Bệnh nhiễm độc carbon monoxide nghề nghiệp 17 Bệnh nhiễm độc cadmi nghề nghiệp III. Bệnh do yếu tố vật lý 18 Bệnh điếc nghề nghiệp do tiếng ồn 19 Bệnh giảm áp nghề nghiệp 20 Bệnh nghề nghiệp do rung toàn thân 21 Bệnh nghề nghiệp do rung cục bộ 22 Bệnh phóng xạ nghề nghiệp 23 Bệnh đục thể thủy tinh nghề nghiệp IV. Bệnh da nghề nghiệp 24 Bệnh nốt dầu nghề nghiệp 25 Bệnh sạm da nghề nghiệp 26 Bệnh viêm da tiếp xúc nghề nghiệp do crôm 27 Bệnh da nghề nghiệp do tiếp xúc môi trường ẩm ướt, lạnh kéo dài 28 Bệnh da nghề nghiệp do tiếp xúc với cao su tự nhiên và hóa chất phụ gia cao su V. Bệnh truyền nhiễm liên quan nghề nghiệp 29 Bệnh Leptospira nghề nghiệp 30 Bệnh viêm gan vi rút B nghề nghiệp 31 Bệnh lao nghề nghiệp 32 Nhiễm HIV do tai nạn rủi ro nghề nghiệp 33 Bệnh viêm gan vi rút C nghề nghiệp VI. Bệnh ung thư, bệnh đặc biệt 34 Bệnh ung thư trung biểu mô nghề nghiệp 35 Bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona (COVID-19) nghề nghiệp Thông tư là căn cứ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm quyền lợi cho người lao động bị ảnh hưởng sức khỏe do điều kiện lao động, đồng thời thay thế các quy định trước đây đã không còn phù hợp. 35 bệnh nghề nghiệp được hưởng BHXH Theo Điều 3 Thông tư 60/2025/TT-BYT, Danh mục bệnh nghề nghiệp được hưởng BHXH gồm 35 bệnh, chia thành 6 nhóm chính. Nhóm bệnh bụi phổi – đường hô hấp gồm 7 bệnh như: bụi phổi silic, bụi phổi amiăng, bụi phổi than, viêm phế quản mạn tính nghề nghiệp, hen nghề nghiệp… Nhóm bệnh nhiễm độc hóa chất, kim loại nặng gồm 10 bệnh, trong đó có nhiễm độc chì, benzen, thủy ngân, mangan, arsenic, cadmi, carbon monoxide… Nhóm bệnh do yếu tố vật lý gồm 6 bệnh như điếc nghề nghiệp do tiếng ồn, bệnh giảm áp, bệnh do rung toàn thân, rung cục bộ, phóng xạ nghề nghiệp, đục thể thủy tinh nghề nghiệp. Nhóm bệnh da nghề nghiệp gồm 5 bệnh liên quan đến tiếp xúc hóa chất, môi trường ẩm ướt, lạnh kéo dài hoặc cao su tự nhiên. Nhóm bệnh truyền nhiễm liên quan nghề nghiệp gồm 5 bệnh như lao nghề nghiệp, viêm gan B, viêm gan C nghề nghiệp, nhiễm HIV do tai nạn rủi ro nghề nghiệp. Nhóm bệnh ung thư, bệnh đặc biệt gồm ung thư trung biểu mô nghề nghiệp và COVID-19 nghề nghiệp. Nguyên tắc chẩn đoán, điều trị và giám định Thông tư 60/2025/TT-BYT quy định, người lao động sau khi được chẩn đoán mắc bệnh nghề nghiệp phải hạn chế tiếp xúc với yếu tố gây bệnh, được điều trị theo hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế; các bệnh nhiễm độc nghề nghiệp phải được thải độc, giải độc kịp thời. Người sử dụng lao động có trách nhiệm giới thiệu người lao động đi khám giám định y khoa để xác định mức suy giảm khả năng lao động, làm căn cứ hưởng chế độ BHXH; đồng thời bảo đảm việc điều trị, điều dưỡng, phục hồi chức năng theo quy định. Một số bệnh nghề nghiệp không có khả năng điều trị ổn định và các trường hợp ung thư liên quan nghề nghiệp phải chuyển giám định ngay để bảo đảm quyền lợi cho người lao động. Căn cứ bổ sung bệnh nghề nghiệp vào danh mục Theo Thông tư, việc bổ sung bệnh nghề nghiệp được hưởng BHXH dựa trên các tiêu chí như: Xác định được mối liên hệ giữa yếu tố có hại trong lao động với bệnh cụ thể; Tỉ lệ mắc bệnh ở nhóm lao động tiếp xúc cao hơn nhóm không tiếp xúc; Bệnh đã được quốc tế công nhận là bệnh nghề nghiệp, dù chưa đủ điều kiện nghiên cứu tại Việt Nam. Đáng chú ý, nhiều bệnh có thể xuất hiện sau nhiều năm tiếp xúc, kể cả khi người lao động đã nghỉ hưu hoặc chuyển sang công việc khác. Thông tư 60/2025/TT-BYT có hiệu lực từ ngày 15/2/2026, đồng thời bãi bỏ Thông tư 15/2016/TT-BYT và Thông tư 02/2023/TT-BYT về bệnh nghề nghiệp được hưởng BHXH. Việc ban hành Thông tư mới được kỳ vọng sẽ nâng cao hiệu quả quản lý bệnh nghề nghiệp, đồng thời giúp người lao động không bỏ sót quyền lợi BHXH chính đáng của mình./. https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/linh-vuc-bao-hiem-y-te.aspx?ItemID=25982&CateID=169  

Điểm mới tại Thông tư 01/2025/TT-BYT về khám chữa bệnh BHYT (tham khảo)

Thông tư 01 hướng dẫn một số điều của Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi năm 2024 với nhiều quy định liên quan trực tiếp tới quyền lợi của người bệnh, đặc biệt là những người mắc các bệnh ung thư, bệnh hiểm nghèo từ 01/01/2025. 1. Từ 01/01/2025, người mắc bệnh hiểm nghèo không cần giấy chuyển viện Theo quy định trước đây, nếu muốn điều trị tại tuyến trên, người bệnh phải xin giấy chuyển tuyến hàng năm, vì cứ 31/12 hàng năm là hết hạn giấy chuyển tuyến được bảo hiểm y tế (BHYT) chi trả, khiến người bệnh buộc phải làm thủ tục xin chuyển tuyến, rất vất vả, và nhiều khi phải đi lại xa xôi… Tuy nhiên, từ 01/01/2025, người bệnh đã được chẩn đoán mắc bệnh hiếm, bệnh hiểm nghèo, bệnh cần sử dụng kỹ thuật cao thuộc danh mục 62 bệnh hiếm, bệnh hiểm nghèo được ban hành tại Phụ lục I Thông tư 01/2025/TT-BYT có thể đến thẳng cơ sở y tế chuyên sâu để điều trị mà không cần phải xin giấy chuyển viện như trước đây. Cụ thể, danh mục 62 bệnh hiếm, bệnh hiểm nghèo gồm (tham khảo): STT Tên bệnh, nhóm bệnh và các trường hợp Tình trạng, điều kiện 1. Viêm màng não do lao (G01*) 2. U lao màng não (G07*) 3. Lao khác của hệ thần kinh 4. Lao hệ thần kinh, không xác định (G99.8*) 5. Nhiễm mycobacteria ở phổi 6. Nhiễm histoplasma capsulatum ở phổi cấp tính 7. Nhiễm nấm blastomyces ở phổi cấp tính 8. Nhiễm nấm paracoccidioides ở phổi 9. Nhiễm sporotrichum ở phổi (J99.8*) 10. Nhiễm aspergillus ở phổi xâm lấn 11. Nhiễm cryptococcus ở phổi 12. Nhiễm mucor ở phổi 13. Nhiễm mucor lan toả 14. U ác tụy Người bệnh được hưởng quyền lợi ngay trong lượt khám bệnh, chữa bệnh có kết quả chẩn đoán xác định mắc bệnh. 15. U ác tuyến ức Người bệnh được hưởng quyền lợi ngay trong lượt khám bệnh, chữa bệnh có kết quả chẩn đoán xác định mắc bệnh. 16. U ác của tim, trung thất và màng phổi Người bệnh được hưởng quyền lợi ngay trong lượt khám bệnh, chữa bệnh có kết quả chẩn đoán xác định mắc bệnh. 17. U ác của xương và sụn khớp ở vị trí khác và không xác định Người bệnh được hưởng quyền lợi ngay trong lượt khám bệnh, chữa bệnh có kết quả chẩn đoán xác định mắc bệnh. 18. U ác của mãng não Người bệnh được hưởng quyền lợi ngay trong lượt khám bệnh, chữa bệnh có kết quả chẩn đoán xác định mắc bệnh. 19. U ác của não Người bệnh được hưởng quyền lợi ngay trong lượt khám bệnh, chữa bệnh có kết quả chẩn đoán xác định mắc bệnh. 20. U ác của tủy sống, dây thần kinh sọ và các phần khác của hệ thần kinh trung ương Người bệnh được hưởng quyền lợi ngay trong lượt khám bệnh, chữa bệnh có kết quả chẩn đoán xác định mắc bệnh. 21. U ác thứ phát của não và màng não Người bệnh được hưởng quyền lợi ngay trong lượt khám bệnh, chữa bệnh có kết quả chẩn đoán xác định mắc bệnh. 22. Nhóm u ác tính Có đủ 02 điều kiện sau đây: – Người dưới 18 tuổi. – Không áp dụng đối với trường hợp đã được chẩn đoán xác định nhưng không có chỉ định điều trị đặc hiệu. 23. U ác của hệ lympho, hệ tạo máu và các mô liên quan Không áp dụng đối với trường hợp đã được chẩn đoán xác định nhưng không có chỉ định điều trị đặc hiệu. 24. Hội chứng loạn sản tủy xương Không áp dụng đối với trường hợp đã được chẩn đoán xác định nhưng không có chỉ định điều trị đặc hiệu. 25. Các thể suy tủy xương khác Không áp dụng đối với trường hợp đã được chẩn đoán xác định nhưng không có chỉ định điều trị đặc hiệu. 26. Bệnh tăng đông máu khác (Hội chứng kháng phospho lipid) 27. Hội chứng thực bào tế bào máu liên quan đến nhiễm trùng 28. Bệnh đái tháo đường phụ thuộc insuline (Có đa biến chứng) Có biến chứng loét bàn chân độ 2 hoặc có bệnh thận mạn giai đoạn 3 trở lên hoặc có ít nhất 02 trong số các biến chứng: tim mạch, mắt, thần kinh, mạch máu. 29. Bệnh đái tháo đường không phụ thuộc insuline (Có đa biến chứng) Có biến chứng loét bàn chân độ 2 hoặc có bệnh thận mạn giai đoạn 3 trở lên. 30. Rối loạn chuyển hóa acid amin thơm Người dưới 18 tuổi. 31. Rối loạn chuyển hóa acid amin chuỗi nhánh và rối loạn chuyển hóa acid béo Người dưới 18 tuổi. 32. Các rối loạn khác của chuyển hóa acid amin Người dưới 18 tuổi. 33. Nhóm rối loạn dự trữ thể tiêu bào (Bệnh Pompe, bệnh MPS, Bệnh Gaucher, Bệnh Fabry) Người bệnh được hưởng quyền lợi ngay trong lượt khám bệnh, chữa bệnh có kết quả chẩn đoán xác định mắc bệnh. 34. Rối loạn chuyển hóa đồng (bao gồm cả bệnh Wilson) Bệnh Wilson có biến chứng (có một trong các biến chứng của xơ gan, suy gan cấp, tối cấp, suy thận cấp, rối loạn vận động, rối loạn vận ngôn, rối loạn tâm thần, sa sút trí tuệ, động kinh bệnh cơ tim, rối loạn nhịp tim). 35. Thoái hóa dạng bột Không áp dụng đối với trường hợp đã được chẩn đoán xác định nhưng không có chỉ định điều trị đặc hiệu. 36. Rối loạn trầm cảm tái diễn – Kháng thuốc. – Người bệnh được hưởng quyền lợi ngay trong lượt khám bệnh, chữa bệnh có kết quả chẩn đoán xác định mắc bệnh. 37. Rối loạn ám ảnh nghi thức 38. Viêm não, viêm tủy và viêm

Đặt Lịch Khám

    Đặt Lịch Khám