BỆNH VIỆN BẮC THĂNG LONG
BAC THANG LONG HOSPITAL

(84) 889 615 815

Email: thugopy.bvbtl@gmail.com

Hoạt Động Nghiên Cứu

Tư Vấn Sức Khoẻ

Xử trí đúng cách bệnh da do côn trùng

Vào thời điểm cuối xuân, đầu hè, khi nhiệt độ tăng cao và độ ẩm không khí lớn, các bệnh da do côn trùng cũng có xu hướng gia tăng. Nhiều trường hợp, các tổn thương da do côn trùng có thể gây viêm nhiễm, dị ứng kéo dài, thậm chí dẫn đến biến chứng nếu không được xử trí đúng cách. Dấu hiệu nhận biết bệnh da do côn trùng Không ít người gặp phải tình trạng da nổi sẩn đỏ, ngứa rát sau khi bị côn trùng đốt nhưng thường chủ quan, Tuy nhiên, bệnh da do côn trùng không thể chủ quan vì đây là tình trạng tổn thương da xảy ra khi da tiếp xúc với nọc độc, dịch tiết hoặc chất gây dị ứng từ các loài côn trùng. Tổn thương da do côn trùng thường xuất hiện tại những vùng da hở như tay, chân, cổ hoặc vùng quanh cạp quần – nơi quần áo ít che phủ. Biểu hiện thường gặp là các sẩn đỏ nhỏ có kích thước khoảng 3 – 5 mm. Ở trung tâm sẩn đôi khi có mụn nước nhỏ, gọi là sẩn huyết thanh. Các tổn thương này thường gây ngứa nhiều, đặc biệt vào ban đêm. Trong nhiều trường hợp, nếu người bệnh gãi nhiều, các sẩn có thể trở nên dày và cứng hơn, hình thành các sẩn cục. Da vùng tổn thương có thể bị trầy xước, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập và gây nhiễm trùng thứ phát. Một số dấu hiệu thường gặp gồm: Xuất hiện sẩn đỏ hoặc mụn nước trên da. Ngứa nhiều, đặc biệt vào ban đêm. Da có thể sưng nhẹ tại vị trí bị đốt. Tổn thương thường xuất hiện thành từng cụm hoặc theo hàng. Có thể để lại vết thâm sau khi lành. Đối với những người có cơ địa dị ứng, phản ứng da có thể mạnh hơn với biểu hiện sưng to, nổi mề đay hoặc viêm da lan rộng. Xử trí tổn thương da do côn trùng Phần lớn các trường hợp bệnh da do côn trùng đốt có thể tự khỏi sau vài ngày. Tuy nhiên, người bệnh nên đi khám nếu xuất hiện các dấu hiệu sau: Ngứa nhiều kéo dài nhiều ngày không giảm; Vùng da bị đốt sưng to, đau hoặc chảy dịch; Xuất hiện dấu hiệu nhiễm trùng như mủ, đỏ lan rộng; Nổi mề đay toàn thân hoặc khó thở (nghi ngờ dị ứng nặng). Đặc biệt, trẻ nhỏ thường có xu hướng gãi nhiều khi bị ngứa, dễ làm tổn thương da và tăng nguy cơ nhiễm trùng. Việc điều trị bệnh da do côn trùng chủ yếu nhằm giảm ngứa, giảm viêm và ngăn ngừa nhiễm trùng. Đối với các trường hợp nhẹ, người bệnh có thể sử dụng kem hoặc thuốc mỡ chứa corticoid bôi lên vùng da tổn thương để giảm viêm và giảm ngứa. Tuy nhiên, các loại thuốc này cần được sử dụng đúng hướng dẫn của bác sĩ. Ngoài ra, thuốc kháng histamin đường uống có thể được sử dụng để giảm ngứa, đặc biệt trong trường hợp ngứa nhiều hoặc có phản ứng dị ứng. Trong trường hợp tổn thương bị nhiễm trùng do gãi nhiều, bác sĩ có thể chỉ định thêm thuốc kháng sinh bôi hoặc uống. Một lưu ý quan trọng là người bệnh không nên gãi hoặc chà xát mạnh lên vùng da tổn thương, vì điều này có thể làm vết thương lan rộng và lâu lành hơn. Cách phòng tránh bệnh da do côn trùng Phòng bệnh luôn là biện pháp quan trọng để hạn chế nguy cơ mắc các bệnh da do côn trùng. Người dân có thể áp dụng một số biện pháp sau: Mặc quần áo bảo vệ Khi đi ra ngoài, đặc biệt là vào buổi tối hoặc ở những nơi có nhiều cây cối, nên mặc quần áo dài tay và chít gấu quần để hạn chế côn trùng tiếp xúc với da. Sử dụng thuốc chống côn trùng Các loại thuốc bôi hoặc xịt chống côn trùng có thể giúp xua đuổi muỗi và các loài côn trùng khác. Một số sản phẩm phổ biến có thể được sử dụng như DEP, Soffell, Remos hoặc các sản phẩm chứa hoạt chất xua côn trùng an toàn. Giữ vệ sinh môi trường sống Côn trùng thường sinh sống ở những nơi ẩm thấp, nhiều rác thải hoặc có vật nuôi. Vì vậy, cần giữ nhà cửa sạch sẽ, thông thoáng, thường xuyên giặt chăn ga gối đệm và vệ sinh nơi ngủ. Đối với gia đình nuôi chó mèo, cần tắm rửa và kiểm tra ký sinh trùng thường xuyên cho vật nuôi, tránh để bọ nhảy hoặc rệp lây sang người. Hạn chế ánh sáng thu hút côn trùng Nhiều loài côn trùng bị thu hút bởi ánh sáng vào ban đêm. Vì vậy, nên sử dụng lưới chống côn trùng hoặc màn khi ngủ để giảm nguy cơ bị côn trùng đốt. Không gãi khi bị côn trùng đốt Khi bị côn trùng đốt, nên rửa sạch vùng da bằng nước và xà phòng, sau đó có thể chườm lạnh để giảm ngứa. Việc gãi mạnh có thể làm tổn thương da và tăng nguy cơ nhiễm trùng. Tóm lại: Tổn thương da do côn trùng đốt là vấn đề thường gặp. Mặc dù phần lớn các tổn thương da do côn trùng gây ra đều lành tính, nhưng nếu không được chăm sóc đúng cách, chúng có thể gây viêm nhiễm, để lại sẹo hoặc vết thâm trên da. Trong bối cảnh thời tiết nóng ẩm kéo dài, việc chủ động phòng tránh côn trùng, giữ vệ sinh môi trường sống và nhận biết sớm các dấu hiệu tổn thương da là yếu tố quan trọng giúp bảo vệ sức khỏe cho bản thân và gia đình. Nếu các tổn thương da kéo dài hoặc có

Phẫu thuật tạo hình dị tật ngón tay tại Bệnh Viện Bắc Thăng Long

Trong thời gian qua, Khoa Chấn thương chỉnh hình Bệnh viện Bắc Thăng Long đã tiếp nhận và điều trị thành công nhiều trường hợp dị tật thừa ngón, dính ngón tay bẩm sinh cũng như các trường hợp dị tật bẩm sinh bất thường hệ vận động khác ở chi thể của trẻ em. Trẻ được điều trị cắt ngón thừa, tạo hình lại hình dáng và chức năng bình thường của bàn tay, chỉ sau 1 lần phẫu thuật. Đây là một dị tật dễ phát hiện, không phải là hiếm gặp, nên những kiến thức về dị tật, phương pháp điều trị, khi nào cần phẫu thuật cắt ngón thừa, tạo hình lại ngón, lựa chọn thời điểm phẫu thuật cần được các phụ huynh bệnh nhi quan tâm và có những hiểu biết cơ bản. Dị tật thừa ngón (polydactyly) còn được biết đến là dị tật bẩm sinh thừa ngón chân hay ngón tay do di truyền hay gặp, đặc trưng bởi việc có các ngón tay hoặc ngón chân phụ, với nhiều kiểu hình bất thường khác nhau. Dị tật này có thể là một phần của một hội chứng dị tật bẩm sinh kèm theo các dị tật khác hoặc là một dị tật xuất hiện đơn độc. Mặc dù dị tật không đe dọa đến tính mạng nhưng lại là dấu hiệu chỉ điểm của một số dị tật nghiêm trọng khác và gây giảm chất lượng cuộc sống. Các ngón thừa thường là một mô nhỏ, có xương mà không có khớp, rất hiếm khi có đủ các chức năng của một ngón tay bình thường. Hầu hết dị tật ngón được gây ra bởi sự khiếm khuyết di truyền trong gene dẫn đến sự khiếm khuyết xảy ra trong sự phát triển chi trước – sau.   Hình ảnh dính ngón tay trước khi mổ Hình ảnh dính ngón tay sau khi mổ PHÂN LOẠI: Được chia làm 3 loại: Trước trục (Preaxial polydactyly): ngón cái sinh đôi Trung tâm (central polydactyly): hiếm gặp, thừa các ngón ở giữa (ngón trỏ, giữa, nhẫn). Sau trục (postaxial polydactyly): ngón út sinh đôi. Trong đó, Type A: là các trường hợp ngón thừa phát triển gần như hoặc như ngón bình thường Type B: ngón thừa phát triển kém có thể chỉ là một nhú nhỏ hoặc thừa ngón nhỏ có cuống ĐIỀU TRỊ: 1. Nguyên tắc chung: cắt bỏ ngón thừa, giữ lại ngón có chức năng tốt hơn và bảo tồn tối đa, hài hòa cả giải phẫu, chức năng và thẩm mỹ. 2. Đánh giá trước mổ: Cần phải chụp X Quang bàn tay, bàn chân và thăm khám lâm sàng kỹ lưỡng để có thể phân loại ngón thừa, mức độ thiểu sản của mỗi ngón, độ vững của mỗi khớp, chức năng vận động của ngón… để lựa chọn phương pháp phẫu thuật. Đối với từng phân loại sẽ có phương pháp phẫu thuật phù hợp. Thông thường, sẽ định hướng điều trị theo phân loại: Type A: cần phải điều trị phẫu thuật cắt bỏ Type B: cân nhắc giữa phẫu thuật hoặc thắt gốc ngón (bằng chỉ khâu hoặc clip kẹp mạch) làm cho ngón bị hoại tử và sẽ tự rụng sau một thời gian. Và biến chứng hay gặp của những trường hợp này là hay để lại những nhú thịt thừa sau khi ngón thừa rụng gây mất thẩm mỹ đôi khi cần phải phẫu thuật để cắt bỏ. Với đội ngũ bác sĩ giàu kinh nghiệm, chuyên sâu trong phẫu thuật tạo hình chi thể – đặc biệt là xử lý các dị tật bàn tay, chúng tôi áp dụng kỹ thuật hiện đại, an toàn, ít xâm lấn, giúp phục hồi nhanh chóng và đảm bảo thẩm mỹ tối ưu. Hãy để đôi bàn tay nhỏ nhắn của trẻ được tự do khám phá thế giới một cách trọn vẹn nhất! 📍Đặt lịch ngay tại Khoa Chấn thương Chỉnh hình – Bệnh viện Bắc Thăng Long 📞 Hotline: https://benhvienbacthanglong.org.vn/ 🌟 Thẩm mỹ – An toàn – Tận tâm – Vì tương lai của bé yêu!

48 tuổi đã đột quỵ 3 lần: Tất cả đều do 1 loại đồ uống quen thuộc với nhiều người Việt

Sáng sớm, sau một đêm ngủ dậy, anh Lê Văn Ch. (48 tuổi, trú tại Hà Nội) bất ngờ hoa mắt, chóng mặt, đau đầu dữ dội rồi nôn ói. Người nhà lập tức đưa anh đến trung tâm y tế gần nhà. Nhận thấy dấu hiệu bất thường, các bác sĩ nhanh chóng chuyển anh đến Bệnh viện Thanh Nhàn. Tại Bệnh viện Thanh Nhàn, anh Ch. được chẩn đoán đột quỵ do xuất huyết não. Rất may anh Ch. được chuyển tới viện sớm và được can thiệp kịp thời. Theo anh Ch., đây là lần thứ ba anh phải nhập viện cấp cứu vì đột quỵ và cả ba lần đều có điểm chung: sau khi uống rượu. Lần đột quỵ đầu tiên của anh Ch. xảy ra cách đây 4 năm. Lần đó, anh cũng bị choáng váng, mất cảm giác sau khi uống rượu. Một năm sau đó, anh tiếp tục bị đột quỵ lần hai cũng trong hoàn cảnh tương tự. “Tôi uống rượu hàng ngày, mỗi ngày chừng nửa lít, hôm nào trời nóng thì uống thêm 1 – 2 cốc cho mát”, anh Ch. chia sẻ. Trải qua ba lần cận kề cái chết, anh Ch. bắt đầu suy nghĩ nghiêm túc về việc từ bỏ thói quen uống rượu: “Tôi sẽ cố gắng cai. Tôi muốn sống lâu hơn vì con cái tôi còn nhỏ”. Hiện, anh Ch. đã ở nhà phụ vợ bán hàng, tạm rời xa công việc nặng nhọc để giữ gìn sức khỏe. Anh Ch. đang được khám lại sau khi được can thiệp đột quỵ (ảnh N.M). Rượu bia làm tăng nguy cơ đột quỵ Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia tiêu thụ rượu bia hàng đầu thế giới. Mỗi người Việt trên 15 tuổi tiêu thụ trung bình 8,3 lít cồn nguyên chất mỗi năm – tương đương khoảng 170 lít bia. Việt Nam hiện đứng thứ 2 Đông Nam Á và thứ 3 châu Á về mức tiêu thụ rượu bia bình quân đầu người. Riêng về bia, Việt Nam nằm trong top 10 nước tiêu thụ nhiều nhất toàn cầu với hơn 3,8 triệu kilô lít/năm, chiếm khoảng 2,2% sản lượng thế giới. Bác sĩ Huỳnh Tấn Vũ, Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM (cơ sở 3) cho hay, nhiều nghiên cứu chỉ ra mối liên hệ chặt chẽ giữa tiêu thụ rượu bia và đột quỵ. Rượu có thể tác động trực tiếp lên não hoặc gián tiếp làm tăng các yếu tố nguy cơ như huyết áp, mỡ máu, đường huyết, tổn thương mạch máu và nội tạng. Đáng lưu ý, đột quỵ không còn là căn bệnh của người cao tuổi. Hiện nay, tỷ lệ người trẻ bị đột quỵ đang tăng lên, chiếm khoảng 10–15% tổng số ca. Một nghiên cứu cho thấy, 18,2% bệnh nhân đột quỵ dưới 45 tuổi có tiền sử uống rượu thường xuyên, bác sĩ Vũ thông tin. Thống kê cũng cho thấy, những người uống trung bình hơn 2 ly rượu mỗi ngày tăng nguy cơ đột quỵ lên tới 34% so với người không uống hoặc uống ít. Theo khuyến cáo của Bộ Y tế, mỗi người nên hạn chế tối đa rượu bia. Cụ thể, nam giới trưởng thành uống không quá 2 đơn vị cồn/ngày; Nữ giới trưởng thành uống không quá 1 đơn vị cồn/ngày. Một đơn vị cồn tương đương 30ml rượu mạnh, 100ml rượu vang hoặc 330ml bia. Để phòng ngừa đột quỵ, bác sĩ Vũ cho biết, bên cạnh kiểm soát bệnh nền như: tăng huyết áp, tiểu đường, rối loạn mỡ máu…, duy trì lối sống lành mạnh là yếu tố quan trọng. Theo đó, mọi người nên: – Ăn nhiều rau xanh, trái cây tươi, giảm muối và chất béo xấu. – Tăng vận động thể chất (ít nhất 30 phút/ngày, 5 ngày/tuần). – Tránh stress, giữ tinh thần ổn định. – Ngưng hút thuốc, hạn chế rượu bia. https://soha.vn/48-tuoi-da-dot-quy-3-lan-tat-ca-deu-do-1-loai-do-uong-quen-thuoc-voi-nhieu-nguoi-viet-198250708182812518.htm

Căn bệnh gây mù lòa không đau, không đỏ, không ngứa

Không đau đớn, không có biểu hiện rõ ràng, bệnh glaucoma âm thầm làm tổn thương dây thần kinh thị giác và có thể dẫn đến mù lòa. Glaucoma (hay còn gọi là cườm nước) là bệnh lý về mắt gây tổn thương dây thần kinh thị giác. Khi dây thần kinh này bị hư hại, thị lực sẽ dần suy giảm và nếu không được phát hiện, điều trị kịp thời, bệnh có thể dẫn đến mù lòa. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), glaucoma là nguyên nhân gây mù lòa phổ biến thứ hai thế giới, chỉ sau đục thủy tinh thể và là nguyên nhân phổ biến nhất gây mù lòa không hồi phục. Tính đến năm 2020, căn bệnh này đã ảnh hưởng tới gần 80 triệu người 40-80 tuổi. Tổn thương do cườm thường diễn ra âm thầm, không gây đau đớn hay dấu hiệu rõ ràng ban đầu. Nhiều người chỉ phát hiện ra bệnh khi thị lực đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Vì sao bạn có thể mắc glaucoma? Theo Viện Hàn lâm Nhãn khoa Mỹ (AAO), bên trong mắt luôn sản sinh một lượng dịch trong suốt gọi là dịch thể nước, giúp nuôi dưỡng các mô và duy trì hình dạng mắt. Bình thường, lượng dịch này sẽ được thoát ra ngoài qua một “góc thoát” giữa giác mạc và mống mắt, giúp duy trì áp lực mắt (nhãn áp) ở mức ổn định. Tuy nhiên, nếu hệ thống thoát dịch hoạt động không hiệu quả hoặc bị tắc nghẽn, dịch bị ứ đọng, khiến nhãn áp tăng cao. Áp lực này dồn lên dây thần kinh thị giác, từng sợi thần kinh nhỏ dần sẽ bị phá hủy và người bệnh bắt đầu xuất hiện các điểm mù trong tầm nhìn. Khi phần lớn sợi thần kinh bị tổn thương, thị lực sẽ mất đi vĩnh viễn. Các dạng glaucoma thường gặp Thông thường, người bệnh phải đối mặt với 5 dạng cườm nước chính: Glaucoma góc mở: Là dạng phổ biến nhất. Bệnh tiến triển âm thầm, không gây đau, không có triệu chứng rõ ràng ở giai đoạn đầu. Tầm nhìn bên (ngoại vi) bắt đầu giảm, nhưng người bệnh khó nhận ra cho đến khi bệnh đã khá nặng. Glaucoma góc đóng (góc hẹp): Xảy ra khi mống mắt trượt về phía trước, làm bít tắc góc thoát dịch. Điều này khiến nhãn áp tăng nhanh, gây cơn đau dữ dội, buồn nôn, đỏ mắt, nhìn mờ, thấy quầng sáng quanh đèn. Đây là tình trạng khẩn cấp và cần được xử trí ngay để tránh mù lòa. Glaucoma áp lực bình thường: Nhãn áp không cao nhưng dây thần kinh thị giác vẫn bị tổn thương, có thể do giảm tưới máu hoặc các yếu tố nhạy cảm khác. Glaucoma sắc tố: Các hạt sắc tố bong ra từ mống mắt và tích tụ tại góc thoát dịch, cản trở quá trình dẫn lưu dịch. Người bệnh có thể thấy mờ mắt, nhìn quầng sáng, nhất là sau vận động mạnh. Glaucoma ở trẻ em: Một số trẻ có thể mắc bệnh bẩm sinh hoặc trong những năm đầu đời. Triệu chứng bao gồm mắt mờ đục, chảy nước mắt dù không khóc, nhạy sáng, hay chớp mắt, kèm cận thị tiến triển nhanh. Dấu hiệu nhận biết Nhiều trường hợp glaucoma không biểu hiện bất thường trong thời gian đầu. Tuy nhiên, theo Mayo Clinic, bạn cần chú ý nếu xuất hiện các dấu hiệu sau: Thị lực mờ dần, đặc biệt ở vùng nhìn bên Nhìn thấy quầng sáng hoặc vòng màu quanh ánh đèn Đau nhức mắt, đau đầu kéo dài Mắt đỏ, cảm giác nặng hoặc căng trong mắt Buồn nôn, nôn (trong cơn cấp) Nếu các triệu chứng xuất hiện đột ngột, đặc biệt là đau mắt dữ dội kèm nhìn mờ, cần đến bệnh viện ngay vì đây có thể là dấu hiệu của cơn glaucoma cấp tính, cần được cấp cứu kịp thời để cứu thị lực. Những ai dễ mắc glaucoma? Nguy cơ mắc cườm nước tăng lên theo tuổi, đặc biệt ở những người từ 40 tuổi trở lên. Nếu trong gia đình từng có người bị cườm mắt, bạn cũng dễ bị ảnh hưởng do yếu tố di truyền. Ngoài ra, những người mắc các tật khúc xạ nặng như cận thị hoặc viễn thị, từng chấn thương mắt hay đã trải qua phẫu thuật mắt cũng thuộc nhóm nguy cơ. Người làm dụng thuốc nhỏ mắt chứa corticoid cũng có nguy cơ bị cườm mắt. Ảnh: Adobe Stock. Cuốn sách “Siêu tổ chức con người” của tác giả Rodney Dietert đem tới cho bạn đọc những kiến thức hữu ích để bảo vệ hàng rào đề kháng tự nhiên của cơ thể và xây dựng lối sống lành mạnh. Việc sử dụng thuốc corticoid kéo dài, đặc biệt là dạng nhỏ mắt, có thể ảnh hưởng đến áp lực nội nhãn và góp phần làm tăng khả năng mắc bệnh. Glaucoma cũng dễ xuất hiện hơn ở những người có bệnh lý mạn tính như tiểu đường, cao huyết áp, đau nửa đầu. Glaucoma có chữa khỏi không? Tổn thương do cườm nước gây ra không thể hồi phục, nhưng nếu phát hiện sớm và điều trị đúng cách, bệnh có thể kiểm soát được và làm chậm quá trình mất thị lực. Các phương pháp điều trị gồm dùng thuốc nhỏ mắt, laser và phẫu thuật. Dù việc điều trị có thể cải thiện được tình trạng bệnh, tuy nhiên, cách tốt nhất vẫn là ngăn ngừa nguy cơ mắc bệnh ngay từ đầu: Khám mắt định kỳ theo độ tuổi hoặc khuyến cáo riêng nếu bạn thuộc nhóm nguy cơ cao Hiểu về tiền sử bệnh lý trong gia đình, đặc biệt nếu người thân từng bị cườm nước Bảo vệ mắt khi chơi thể thao hoặc làm việc trong môi trường nguy hiểm

Bệnh sốt vàng và những điều cần lưu ý

Bệnh sốt vàng là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus, gây bệnh cho người và động vật linh trưởng, bệnh chủ yếu lây truyền qua muỗi Aedes (muỗi vằn), phổ biến ở vùng nhiệt đới Nam Mỹ và Châu Phi (bệnh chưa từng gặp ở Châu Á và các châu lục khác, trừ một số ca nghi ngờ do du nhập từ vùng lưu hành). Bệnh có thể dẫn đến các biến chứng nguy hiểm như suy đa tạng và tử vong. Tuy nhiên có thể phòng ngừa hiệu quả bằng vắc xin và các biện pháp phòng muỗi đốt. Vắc xin phòng bệnh sốt vàng. Người bị mắc bệnh thường biểu hiện sốt cao đột ngột (39-40°C), ớn lạnh, nhức đầu, đau cơ, mạch nhanh ban đầu sau đó có thể chậm lại. Khoảng 15% người bệnh có diễn biến nặng với triệu chứng nhiễm trùng nhiễm độc rầm rộ và biểu hiện rối loạn chức năng nhiều cơ quan, người bệnh có thể xuất hiện vàng da, vàng mắt, đau vùng thượng vị, nôn trớ, thiểu niệu, chấm xuất huyết, lú lẫn, hôn mê. Có thể có các biến chứng nặng như suy đa tạng, trụy tim mạch, sốc nhiễm khuẩn, tử vong. Bệnh sốt vàng hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, chủ yếu là điều trị hỗ trợ và giảm triệu chứng. Người bệnh cần nghỉ ngơi tuyệt đối, hạ sốt, bù dịch, điều chỉnh rối loạn điện giải, đảm bảo dinh dưỡng. Hạn chế sử dụng các thuốc chuyển hóa qua gan và gây độc cho gan. Các trường hợp nặng cần được chăm sóc tích cực tại các cơ sở y tế chuyên sâu. Tiêm phòng vắc xin sốt vàng hiện nay là biện pháp hiệu quả nhất để bảo vệ bản thân và cộng đồng. Sốt vàng là bệnh lưu hành ở khu vực Châu Phi, Nam Mỹ, do vậy cần tiêm phòng và thực hiện các biện pháp phòng ngừa khi đến các vùng có nguy cơ cao. Những đối tượng cần chủ động tiêm phòng gồm: người sống, người làm việc hay khách du lịch đến khu vực có lưu hành bệnh. Các quốc gia có bệnh sốt vàng lưu hành thường có yêu cầu khách đến thăm quan, làm việc cần được tiêm tối thiểu 10 ngày trước khi nhập cảnh. Người dân có thể tiêm vắc xin tại Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh/thành phố hoặc một số điểm tiêm chủng dịch vụ. Khi đến các quốc gia có dịch bệnh sốt vàng lưu hành, chúng ta cần đề phòng muỗi đốt bằng cách mặc quần áo dài tay, sử dụng kem chống muỗi, lưới chống muỗi, thuốc diệt muỗi, tránh hoạt động ngoài trời vào thời điểm muỗi hoạt động mạnh. https://soyte.hanoi.gov.vn/phong-chong-dich-benh/-/asset_publisher/4IVkx5Jltnbg/content/benh-sot-vang-va-nhung-ieu-can-luu-y

Mỹ phê duyệt thuốc ‘tên lửa dẫn đường’ điều trị ung thư phổi

Mỹ phê duyệt thuốc Datroway thuộc nhóm liên hợp kháng thể còn gọi “tên lửa dẫn đường”, do AstraZeneca và Daiichi Sankyo hợp tác phát triển điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ. Quyết định được Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) đưa ra ngày 23/6. Datroway là liệu pháp đầu tiên tại Mỹ được chấp thuận sử dụng cho những bệnh nhân ung thư phổi trước đó điều trị bằng các liệu pháp khác nhưng không hiệu quả. Động thái của FDA mở rộng cơ hội tiếp cận điều trị ung thư cho những người bị ung thư phổi. Datroway thuộc nhóm thuốc liên hợp kháng thể (antibody-drug conjugates), thường được gọi là “tên lửa dẫn đường” do có khả năng tấn công chính xác vào tế bào ung thư trong khi giữ nguyên các tế bào khỏe mạnh. Cách tiếp cận này khác biệt với hóa trị truyền thống. Thuốc nhắm vào protein TROP2 có trên bề mặt tế bào khối u, vốn xuất hiện trong nhiều loại ung thư. Trước đó, Datroway đã được phê duyệt để điều trị một dạng ung thư vú. “Việc phê duyệt lần đầu cho Datroway trong điều trị ung thư phổi cung cấp một lựa chọn rất cần thiết cho những bệnh nhân ung thư phổi đột biến EGFR giai đoạn tiến triển, những người đã kháng lại với các phương pháp điều trị trước đó, bất kể đột biến gốc là gì”, Dave Fredrickson, giám đốc điều hành nhóm nghiên cứu ung thư của AstraZeneca, cho biết. Minh họa khối u ung thư phát triển trong phổi trái bệnh nhân. Ảnh: Cure AstraZeneca và Daiichi Sankyo bắt đầu hợp tác từ nhiều năm trước trong việc phát triển các liệu pháp điều trị ung thư. Sản phẩm đầu tiên họ đồng phát triển là Enhertu. Đến năm 2020, hai bên ký thỏa thuận hợp tác để phát triển và thương mại hóa Datroway, với giá trị thỏa thuận lên tới 6 tỷ USD. Sau khi Datroway được phê duyệt tại Mỹ, AstraZeneca cho biết sẽ chi 45 triệu USD cho Daiichi như một cột mốc quan trọng trong thỏa thuận hợp tác giữa hai bên. Ung thư phổi hiện là một trong những bệnh ung thư phổ biến và gây tử vong cao nhất trên toàn cầu. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), mỗi năm thế giới ghi nhận khoảng 2,2 triệu ca ung thư phổi mới và gần 1,8 triệu ca tử vong, chiếm 18% số ca tử vong do ung thư. Tỷ lệ sống sau 5 năm ở giai đoạn muộn chỉ đạt khoảng 10-20%. Ung thư phổi được chia thành hai dạng chính: ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC, chiếm khoảng 85%) và tế bào nhỏ (SCLC). NSCLC thường liên quan đến các đột biến phân tử như EGFR, ALK, ROS1… Datroway nhắm vào protein TROP2, mở ra hướng tiếp cận mới trong điều trị những trường hợp kháng thuốc với liệu trị trước. Thục Linh (Theo Reuters) https://vnexpress.net/my-phe-duyet-thuoc-ten-lua-dan-duong-dieu-tri-ung-thu-phoi-4905753.html

Hiểu sai về bệnh béo phì có nguy cơ gây mắc nhiều bệnh nguy hiểm

Theo nghiên cứu ACTION-Vietnam, hơn 60% người béo phì cho rằng việc kiểm soát cân nặng là trách nhiệm của riêng họ và không nhận thức đúng về bệnh lý mạn tính này. Họ thường ngần ngại thảo luận với bác sĩ về cân nặng vì lo ngại bị phán xét. Những người béo phì, đặc biệt khi bệnh chưa gây ra biến chứng sức khỏe nghiêm trọng, thường trì hoãn tìm kiếm sự can thiệp y tế và chỉ bắt đầu điều trị khi các vấn đề sức khỏe phát sinh, như tiểu đường, huyết áp cao hay bệnh tim mạch. Điều này làm tăng rủi ro và khiến việc điều trị trở nên khó khăn hơn. Bác sĩ Georgia Rigas cho biết bệnh béo phì ở nhiều độ tuổi khác nhau. Bên cạnh đó, sự thiếu hiểu biết về béo phì cũng khiến nhiều người trong xã hội có cái nhìn sai lệch. Bác sĩ Georgia Rigas, chuyên gia hàng đầu về điều trị béo phì với 25 năm kinh nghiệm lâm sàng đến từ Úc, cho biết: “Béo phì không phải là một vấn đề của thiếu ý chí hay lười biếng. Đây là một bệnh mạn tính có sự tác động của nhiều yếu tố như di truyền, môi trường, tâm lý và thói quen sống. Điều quan trọng là chúng ta phải thay đổi cách tiếp cận về béo phì và nhìn nhận nó như một bệnh lý cần được điều trị từ sớm”. Bác sĩ Rigas cũng nhấn mạnh: “Béo phì không phải là một vấn đề đơn giản về cân nặng mà là một bệnh lý mạn tính ảnh hưởng đến sức khỏe tổng thể. Chúng ta cần thay đổi cách tiếp cận từ việc chỉ chú trọng vào giảm cân sang việc cải thiện sức khỏe tổng thể của bệnh nhân, giảm thiểu các nguy cơ mắc các bệnh lý nghiêm trọng như bệnh tim mạch, tiểu đường và ung thư”. Béo phì hiện đang trở thành một vấn đề sức khỏe toàn cầu và Việt Nam không phải là ngoại lệ. Với tỷ lệ béo phì ngày càng gia tăng, đặc biệt ở các thành phố lớn như TP Hồ Chí Minh và Hà Nội, việc nâng cao nhận thức cộng đồng và thay đổi thói quen sống là yếu tố quyết định trong việc phòng ngừa và điều trị bệnh béo phì hiệu quả. Tại hội thảo, PGS.TS Nguyễn Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Phẫu thuật Tiêu hóa, Chủ nhiệm Khoa Phẫu thuật ống tiêu hóa, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, đồng tác giả nghiên cứu ACTION-Vietnam, đã nhấn mạnh việc nâng cao nhận thức là bước đầu tiên và quan trọng nhất trong việc ngăn ngừa béo phì. GS.TS. Nguyễn Anh Tuấn chia sẻ tình trạng béo phì tại Việt Nam. PGS.TS Nguyễn Anh Tuấn cho biết: “Chúng ta cần phải giáo dục cộng đồng về tầm quan trọng của việc duy trì một lối sống lành mạnh ngay từ khi còn nhỏ. Việc này không chỉ giúp ngăn ngừa béo phì mà còn giảm thiểu các nguy cơ mắc các bệnh lý mạn tính như tiểu đường, bệnh tim mạch và ung thư. Trong suốt quá trình điều trị béo phì, người bệnh cần nhận thức rằng đây là một vấn đề sức khỏe dài hạn và họ không đơn độc trong hành trình này. Đặc biệt, việc thay đổi lối sống là yếu tố cốt lõi giúp đạt được kết quả bền vững”. Để làm được điều này, một chiến lược giáo dục mạnh mẽ là cần thiết. Các chương trình truyền thông nên tập trung vào việc nâng cao nhận thức về béo phì như một bệnh lý mạn tính, thay vì chỉ là vấn đề thẩm mỹ hay thiếu ý chí. Theo bác sĩ Georgia Rigas, điều trị béo phì không chỉ là giảm cân mà là cải thiện sức khỏe tổng thể. Bà nhấn mạnh rằng việc thay đổi chế độ ăn uống và tăng cường vận động thể chất là hai yếu tố cơ bản giúp phòng ngừa và điều trị béo phì. “Một chế độ ăn uống lành mạnh với tỷ lệ phù hợp của các nhóm thực phẩm chính, kết hợp với việc tập thể dục đều đặn sẽ giúp duy trì cân nặng ổn định và ngăn ngừa các bệnh lý mạn tính”, bà Rigas chia sẻ. Ngoài ra, việc khuyến khích người dân tham gia các hoạt động thể chất như đi bộ, chạy bộ, yoga hay thể dục nhịp điệu mỗi ngày ít nhất 30 phút sẽ giúp cải thiện sức khỏe và hỗ trợ quá trình giảm cân. Điều quan trọng là các hoạt động này phải được duy trì thường xuyên và trở thành một phần của thói quen sống hàng ngày. https://baotintuc.vn/y-te/hieu-sai-ve-benh-beo-phi-co-nguy-co-gay-mac-nhieu-benh-nguy-hiem-20250621171135535.htm

Đau cổ, người phụ nữ sốc nặng khi thấy thứ nhô ra ngoài

Theo hãng tin Workpoint News, một người phụ nữ ở Thái Lan phải chịu đau đớn sau khi vô tình nuốt phải một chiếc xương cá và sau đó nó đã đâm xuyên qua da cổ. Vào ngày 16/6, chồng của nạn nhân đã chia sẻ một bài đăng trên Facebook, kèm theo một hình ảnh gây sốc cho thấy xương nhô ra từ bên cổ của người phụ nữ Ông cảnh báo mọi người nên thận trọng khi ăn cá, vì xương mắc kẹt trong cổ họng có thể trở nên tồi tệ hơn nếu dùng ngón tay đẩy sâu hơn. Người phụ nữ bị xương cá đâm xuyên qua da. Người phụ nữ được xác định là Samran Bubpha-art, 45 tuổi, người phụ nữ bị thương sau đó đã được đưa đến bệnh viện để phẫu thuật lấy phần xương ra ngoài. Chồng cô, Suriyan Bubpha-art, chia sẻ rằng vợ mình đã nuốt phải xương khi ăn súp cá nấu tại nhà. Samran đã cắn một miếng có chứa trứng cá và vô tình nuốt phải chiếc xương. Sau đó cô cảm thấy một vết cắt sắc nhọn đột ngột ở cổ họng. Theo quan niệm truyền thống, cặp đôi này đã cố nuốt thêm thức ăn để đẩy xương xuống nhưng không có tác dụng. Phần xương sắc nhọn vẫn kẹt lại. Mặc dù họ đã tìm kiếm sự trợ giúp y tế nhưng chụp X-quang vẫn không phát hiện ra chiếc xương. Tin rằng mọi chuyện đã qua một cách tự nhiên, cặp đôi trở về nhà. Hai tuần sau, Samran bị đau cổ và sưng giống như viêm tuyến giáp. Lo sợ có thể là ung thư, cặp đôi đã quay lại bệnh viện, nhưng các bác sĩ vẫn không tìm thấy gì. Các triệu chứng của cô ấy trở nên tồi tệ hơn, và cô ấy đã dán một miếng dán giảm đau. Vào ngày thứ hai, cô ấy cảm thấy một cảm giác châm chích, giống như một cái gai từ bên trong cổ. Khi gỡ miếng dán ra, cô vô cùng sửng sốt khi nhìn thấy đầu xương cá nhô ra rõ ràng qua da của mình. Các bác sĩ sau đó xác nhận đây là trường hợp đầu tiên xương cá bị nuốt xuyên qua da. Samran đã hồi phục sau khi trải qua một cuộc phẫu thuật nhỏ. https://soha.vn/dau-co-nguoi-phu-nu-soc-nang-khi-thay-thu-nho-ra-ngoai-198250618125651436.htm

Huyết khối tĩnh mạch não khác đột quỵ thế nào

Huyết khối tĩnh mạch não là một bệnh lý mạch máu não hiếm gặp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ nghiêm trọng nếu không được phát hiện, điều trị kịp thời. ThS.BS. Đinh Trung Hiếu, Trung tâm Đột Quỵ, Bệnh viện Bạch Mai, cho hay huyết khối tĩnh mạch não là tình trạng hình thành cục máu đông bên trong hệ thống tĩnh mạch của não. Các tĩnh mạch này có vai trò dẫn lưu máu từ não trở về tim. Khi cục máu đông xuất hiện, nó sẽ gây tắc nghẽn, cản trở dòng chảy của máu, dẫn đến ứ trệ tuần hoàn. Hậu quả là tăng áp lực nội sọ và có thể gây tổn thương nhu mô não. Nhiều người có thể nhầm lẫn huyết khối tĩnh mạch não với đột quỵ, tuy nhiên đây là hai bệnh lý có những điểm khác biệt căn bản. Về tần suất mắc bệnh: Đột quỵ là bệnh lý rất phổ biến, là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn phế trên toàn cầu. Ngược lại, huyết khối tĩnh mạch não là một bệnh lý hiếm gặp, chỉ chiếm khoảng 0,5-1% tổng số các trường hợp đột quỵ. Cơ chế bệnh sinh: Đột quỵ thường được chia thành hai thể chính là đột quỵ thiếu máu não (do tắc nghẽn động mạch cấp máu cho não) và đột quỵ chảy máu não (do vỡ mạch máu não). Trong khi đó, huyết khối tĩnh mạch não là tình trạng huyết khối gây tắc nghẽn hệ thống tĩnh mạch dẫn lưu máu từ não đi ra ngoài. Diễn biến bệnh: Đột quỵ thường khởi phát đột ngột, các triệu chứng xuất hiện nhanh và thường nặng ngay từ đầu. Ngược lại, huyết khối tĩnh mạch não thường có diễn biến nặng tăng dần trong vài ngày, khiến việc nhận biết sớm đôi khi gặp khó khăn. Bác sĩ Hiếu cho biết huyết khối tĩnh mạch não hình thành do cục máu đông làm tắc dòng máu tĩnh mạch, khiến áp lực trong não tăng lên. Nếu không được xử lý kịp thời, tình trạng này có thể gây tăng áp lực nội sọ, xuất huyết hoặc tổn thương não lan rộng. Khác với các yếu tố nguy cơ phổ biến của đột quỵ như tăng huyết áp, đái tháo đường, hay rối loạn mỡ máu, huyết khối tĩnh mạch não chủ yếu xảy ra ở phụ nữ mang thai, phụ nữ sau sinh (trong 6 tuần đầu), người sử dụng thuốc tránh thai liều cao kéo dài, người có nhiễm khuẩn vùng đầu-mặt-cổ (như viêm tai xương chũm, viêm xoang), bệnh nhân tự miễn (như lupus ban đỏ, hội chứng kháng phospholipid), ung thư, nhiễm Covid-19, hoặc rối loạn đông máu bẩm sinh… Triệu chứng nghi ngờ huyết khối tĩnh mạch não gồm: đau đầu, đau tăng về đêm, buồn nôn, mờ hai mắt dần, co giật, yếu liệt tay chân, giảm ý thức, lơ mơ hoặc hôn mê. Khi có các dấu hiệu này, đặc biệt ở nhóm nguy cơ cao nêu trên, người bệnh cần đến cơ sở y tế chuyên khoa thần kinh hoặc đột quỵ để được chẩn đoán và xử trí sớm, theo khuyến cáo của bác sĩ Hiếu. Chẩn đoán sớm bệnh thường khó vì triệu chứng diễn tiến chậm và không đặc hiệu. Dò tìm chính xác cần dựa vào các kỹ thuật hình ảnh như chụp CT hoặc MRI sọ não, giúp phát hiện cục máu đông và đánh giá mức độ tổn thương não. Điều trị chủ yếu là dùng thuốc chống đông để làm tan huyết khối, khôi phục dòng máu và phòng biến chứng. Giai đoạn đầu, bệnh nhân thường được tiêm thuốc chống đông, sau đó chuyển sang dạng uống để duy trì. Với trường hợp nặng, khi huyết khối lớn hoặc có xuất huyết đe dọa tính mạng, bác sĩ có thể chỉ định phẫu thuật mở sọ giải áp hoặc can thiệp lấy huyết khối qua mạch máu. Lựa chọn thuốc và thời gian điều trị sẽ tùy vào từng nguyên nhân và yếu tố nguy cơ cá nhân. Người bệnh cần tuân thủ tuyệt đối hướng dẫn của bác sĩ. Bác sĩ Hiếu khuyên việc phát hiện và điều trị huyết khối tĩnh mạch não sớm quyết định tiên lượng bệnh. Phần lớn bệnh nhân được can thiệp kịp thời có thể hồi phục hoàn toàn hoặc ít di chứng. Ngược lại, nếu nhập viện muộn, bệnh nặng với tổn thương não hoặc xuất huyết lớn, nguy cơ tử vong và tàn phế sẽ rất cao. https://vnexpress.net/suc-khoe-cam-nang-huyet-khoi-tinh-mach-nao-khac-dot-quy-the-nao-4896574.html

Hút mỡ – phẫu thuật làm đẹp dễ tai biến chết người

Hút mỡ là phẫu thuật nguy hiểm nhất trong các loại hình mổ thẩm mỹ, có thể gây sốc thuốc, sốc phản vệ, thuyên tắc mỡ dẫn đến tử vong nếu không xử trí kịp thời. “Loại hình phẫu thuật này thường phải gây mê, thực hiện trên người béo, chủ yếu là người tương đối lớn tuổi với nhiều bệnh nền, chứa đựng nhiều rủi ro biến chứng”, PGS.TS.BS Lê Hành, Chủ tịch Hội Phẫu thuật Tạo hình Thẩm mỹ Việt Nam, nói bên lề họp báo khởi động Hội nghị khoa học thẩm mỹ và triển lãm ASLS 2025, tổ chức gần đây. Theo phó giáo sư Hành, bất cứ cuộc gây mê nào cũng một vấn đề lớn với nhiều nguy cơ. Gây mê sai chỉ định hoặc quá liều, có thể dẫn đến ngộ độc, sốc thuốc khiến bệnh nhân rối loạn nhịp tim, suy hô hấp rồi ngưng tim, ngưng thở, tử vong. Mỹ ghi nhận tỷ lệ tử vong bệnh nhân hút mỡ bụng là 1/20.000 ca, còn Việt Nam chưa có thống kê cụ thể. Ngoài ra, bệnh nhân còn đối mặt với nguy cơ biến chứng sau hút mỡ do thuyên tắc mỡ. Điều này xảy ra thường do quy trình hút mỡ diễn ra kéo dài, mạch máu tổn thương, các vi mạch giãn ra. Các tế bào mỡ khi bị hút ngược vào lòng mạch, đi khắp cơ thể, nếu lên não gây đột quỵ, vào tim gây trụy tim, vào phổi gây phù. Năm ngoái, người phụ nữ 31 tuổi đột quỵ nhồi máu não do thuyên tắc mỡ sau hút mỡ bụng, cấy mỡ vùng trán và thái dương tại một thẩm mỹ viện ở TP HCM. Tử vong do hút mỡ cũng có thể xảy ra khi người thực hiện phẫu thuật không được đào tạo chuyên khoa, không có chứng chỉ hành nghề, không có kinh nghiệm phẫu thuật. Cơ sở thẩm mỹ nếu kém uy tín, không đủ trang thiết bị cấp cứu, thiếu nhân sự để theo dõi sát sao trong và sau mổ cũng dễ dẫn đến nguy hiểm cho bệnh nhân. PGS.TS.BS Lê Hành tại họp báo ngày 2/6. Ảnh: Minh Phương Lãnh đạo Hội Phẫu thuật Tạo hình Thẩm mỹ Việt Nam cho rằng điều nguy hiểm nhất hiện nay là bệnh nhân hút mỡ thường làm kèm nhiều thứ như đặt túi ngực, cấy mỡ…, còn gọi là “combo”. Điều này tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ, bởi riêng việc hút mỡ đã là phẫu thuật lớn, đòi hỏi phải có quy trình nghiêm ngặt. Thực tế thời gian qua, TP HCM ghi nhận nhiều trường hợp tử vong trong lúc hút mỡ kết hợp nhiều loại hình khác. Tuần trước, người phụ nữ 32 tuổi bất ngờ ngưng tim rồi tử vong sau mổ nâng ngực và hút mỡ bắp tay tại Bệnh viện Răng hàm mặt Thẩm mỹ Paris, đang được cơ quan chức năng điều tra làm rõ nguyên nhân. Hồi tháng 5/2024, người phụ nữ 64 tuổi hôn mê sau hai ngày hút mỡ, cắt da thừa mí mắt, thay túi độn ngực tại Bệnh viện Tân Hưng, được cứu chữa hơn một tháng nhưng không qua khỏi. Trước đó, cô gái 31 tuổi đến một cơ sở thẩm mỹ học việc, được bà chủ nâng mũi, hút mỡ bụng, vài giờ sau thì tím tái, khó thở, tử vong khi vào viện cấp cứu. Đầu năm nay, Sở Y tế TP HCM đã ban hành “Quy trình chăm sóc toàn diện người bệnh thực hiện phẫu thuật hút mỡ tạo hình bụng”, với quy trình kỹ thuật chi tiết do chuyên gia thuộc nhiều chuyên khoa khác nhau phối hợp xây dựng, theo từng giai đoạn mà người bệnh phải trải qua khi được chỉ định và phẫu thuật hút mỡ. Mỗi bước đều chỉ rõ những việc cần phải làm, do ai làm, cách làm như thế nào, dự báo những tình huống có thể xảy ra, cách giải quyết. “Trong khuyến cáo này, chúng tôi yêu cầu không hút mỡ theo hình thức ‘combo’, nhưng không ít nơi vẫn làm bất chấp với giải thích là thực hiện vì nhu cầu bệnh nhân muốn làm nhanh nhiều thứ cùng lúc”, bác sĩ nói. Bác sĩ trong phòng mổ tại bệnh viện ở TP HCM. Ảnh: Quỳnh Trần Theo ông Hành, một trong những tiêu chuẩn trong mổ hút mỡ là bệnh nhân an toàn, nghĩa là cần biết rõ bệnh nhân có bệnh lý gì hay không để có giải pháp phù hợp. Chẳng hạn, nếu người bệnh có đái tháo đường, tăng huyết áp, bệnh tim mạch…, phải điều trị đưa các chỉ số về mức phù hợp, đủ điều kiện phẫu thuật mới thực hiện. Việc chỉ định gây mê, gây tê cần được cân nhắc kỹ lưỡng với từng trường hợp. Bác sĩ khuyến cáo người muốn phẫu thuật hút mỡ nên chọn bệnh viện được cấp phép hoạt động, bác sĩ có chứng chỉ hành nghề với phạm vi hoạt động chuyên môn dành cho loại hình này. Quá trình hút mỡ bụng phải được thực hiện ở bệnh viện có phòng mổ đạt chuẩn, có bác sĩ gây mê theo dõi và hỗ trợ, kiểm soát. Khách hàng trước khi hút mỡ bụng phải được kiểm tra sức khỏe tổng thể, xét nghiệm đầy đủ. Tuyệt đối không được thực hiện ở cơ sở thẩm mỹ viện. https://vnexpress.net/hut-mo-phau-thuat-lam-dep-de-tai-bien-chet-nguoi-4893664.html

Lợi ích sức khỏe bất ngờ khi ăn dưa chuột hằng ngày

Dưa chuột (hay dưa leo) là loại quả phổ biến, chúng có nhiều công dụng như hỗ trợ giảm cân, tốt cho sức khỏe tim mạch và làm dịu các cơn đau nhức và sưng tấy. Dưới đây là một số lợi ích sức khỏe tốt nhất của việc ăn dưa chuột hằng ngày: Giữ nước cho cơ thể Dưa chuột chứa tới 96% hàm lượng nước, có thể giữ cho cơ thể của bạn đủ nước và đáp ứng nhu cầu hằng ngày. Bổ sung đủ nước thông qua trái cây và rau quả đảm bảo rằng các tế bào nhận được dinh dưỡng thích hợp. Từ đó, giúp bạn chống lại sự kiệt sức và tràn đầy năng lượng cho cả ngày. Do đó, dưa chuột cũng là một lựa chọn ăn vặt tốt. Hỗ trợ giảm cân Dưa chuột là một trong những lựa chọn hỗ trợ giảm cân tốt nhất và dễ dàng nhất có sẵn một cách tự nhiên. Trên thực tế, nhiều chuyên gia coi đây là loại trái cây cần phải có khi đang trong thời gian giảm cân. Dưa chuột không chỉ dễ ăn và nhẹ bụng mà còn chứa nhiều chất xơ và hàm lượng nước, đồng thời là một lựa chọn thực phẩm ít calo tuyệt vời. Giảm đau nhức và đau khớp Nếu bạn thường xuyên bị đau nhức xương khớp và đau nhức cơ bắp, hãy đảm bảo rằng chế độ ăn có nhiều dưa chuột và các loại salad xanh khác. Dưa chuột không chỉ tốt cho sức khỏe làn da mà còn thúc đẩy xương và cơ bắp khỏe mạnh hơn. Chúng cũng hoạt động như một chất chữa bệnh tốt trong các trường hợp đau nhức. Đó là một trong những loại thực phẩm tốt nhất để đưa vào chế độ ăn uống khi bạn bắt đầu lão hóa. Tốt cho nướu răng Dưa chuột có thể giúp điều chỉnh cân bằng axít trong miệng, duy trì cân bằng độ pH, cuối cùng giúp cơ thể ngăn ngừa và chữa lành các vết cắt và vết thương nhỏ trong thời gian ngắn hơn. Thường xuyên ăn dưa chuột cũng có thể giúp giảm nguy cơ phát triển các bệnh về nướu và bệnh răng miệng. Một số người cho rằng ăn trái cây và rau quả như dưa chuột, cần tây, cà rốt có thể hoạt động như chất làm trắng răng và làm sạch mảng bám. Xây dựng các mô và thúc đẩy lưu lượng máu Dưa chuột rất giàu chất chống oxy hóa, tốt cho cơ thể và có lợi cho các hoạt động quan trọng. Chất chống oxy hóa cao có trong trái cây như dưa chuột có thể giúp điều chỉnh lưu lượng máu, đối phó với các gốc tự do và thậm chí giúp tái tạo sự phát triển của mô trong cơ thể. Giúp thải độc tố Ăn dưa chuột thường xuyên có thể điều chỉnh thói quen vệ sinh. Thêm vào đó, nó giúp cơ thể dễ dàng đào thải vi trùng và độc tố khó chịu có thể cản trở quá trình tiêu hóa khỏe mạnh. Dưa chuột không chỉ ngăn ngừa tình trạng mất nước mà còn chứa rất nhiều chất xơ. Hàm lượng magie và kali trong trái cây này cũng giúp loại bỏ các vấn đề như đầy hơi và bệnh đường ruột. Điều chỉnh mức cholesterol Một lý do khác để ăn dưa chuột thường xuyên là chúng có chứa hàm lượng pectin lành mạnh, một loại chất xơ hòa tan tự nhiên giúp giảm cholesterol trong máu, loại bỏ độc tố và tốt cho tim. Có thể ngăn ngừa ung thư Dưa chuột là một thành viên của họ bầu bí, chứa hàm lượng cao các chất dinh dưỡng có vị đắng gọi là cucurbitacin. Theo một bài báo trên Tạp chí Quốc tế về Dịch vụ Y tế, nghiên cứu thử nghiệm cho thấy dưa chuột có thể giúp ngăn chặn các tế bào ung thư sinh sôi. 133g dưa chuột với vỏ cung cấp khoảng 1g chất xơ. Chất xơ có thể giúp bảo vệ chống lại ung thư đại trực tràng. Dưa chuột cũng chứa nhiều loại vitamin B, vitamin A và chất chống oxy hóa, bao gồm một loại được gọi là lignans. Các nghiên cứu đã gợi ý rằng lignans trong dưa chuột và các loại thực phẩm khác có thể giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch và một số loại ung thư. Ngăn ngừa bệnh tiểu đường Dưa chuột chứa các chất có thể giúp giảm lượng đường trong máu hoặc ngăn lượng đường trong máu tăng quá cao. Một giả thuyết cho rằng cucurbitacins trong dưa chuột giúp điều chỉnh quá trình giải phóng insulin và chuyển hóa glycogen ở gan, một loại hormone quan trọng trong quá trình chuyển hóa đường trong máu. Một nghiên cứu cho thấy vỏ dưa chuột giúp kiểm soát các triệu chứng của bệnh tiểu đường ở chuột. Điều này có thể là do hàm lượng chất chống oxy hóa của nó. Theo Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ AHA, chất xơ cũng có thể giúp ngăn ngừa và kiểm soát bệnh tiểu đường type 2. Ngoài ra, dưa chuột có chỉ số đường huyết (GI) thấp, rất tốt với bệnh nhân đái tháo đường. Dưa chuột tốt cho sức khỏe, song để duy trì một chế độ ăn uống lành mạnh, bạn cũng chỉ nên ăn với số lượng vừa phải cùng với các loại trái cây và rau quả khác. https://dantri.com.vn/suc-khoe/loi-ich-suc-khoe-bat-ngo-khi-an-dua-chuot-hang-ngay-20250115075548387.htm

Đặt Lịch Khám

    Đặt Lịch Khám