BỆNH VIỆN BẮC THĂNG LONG
BAC THANG LONG HOSPITAL

(84) 889 615 815

Email: thugopy.bvbtl@gmail.com

Hoạt Động Nghiên Cứu

Tư Vấn Sức Khoẻ

Hạ đường huyết nguy hiểm ra sao với người cao tuổi?

Hạ đường huyết là tình trạng thường gặp ở người cao tuổi, đặc biệt ở những người mắc đái tháo đường. Do biểu hiện không điển hình và dễ bị bỏ qua, bệnh có thể dẫn đến nhiều biến chứng nghiêm trọng như tổn thương não, té ngã, rối loạn tim mạch, thậm chí đe dọa tính mạng nếu không được phát hiện và xử trí kịp thời. Hạ đường huyết là một rối loạn chuyển hóa thường gặp, đặc biệt ở người cao tuổi và người mắc đái tháo đường. Tình trạng này xảy ra khi mức đường huyết giảm xuống dưới 70 mg/dL (≈ 3,9 mmol/L), khiến cơ thể – đặc biệt là não bộ – không được cung cấp đủ năng lượng để hoạt động bình thường. Ở người trẻ, hạ đường huyết thường dễ nhận biết và xử trí nhanh chóng. Ngược lại, ở người cao tuổi, các biểu hiện thường âm thầm, không rõ ràng, làm tăng nguy cơ phát hiện muộn và xảy ra biến chứng. Lý do người cao tuổi dễ bị hạ đường huyết? Người cao tuổi có nguy cơ cao do nhiều yếu tố phối hợp: Suy giảm chức năng gan, thận: Làm giảm khả năng dự trữ và điều hòa glucose, cũng như ảnh hưởng đến chuyển hóa thuốc. Ăn uống thất thường: Biếng ăn, quên bữa khiến cơ thể thiếu hụt năng lượng. Tác dụng của thuốc: Insulin và nhóm sulfonylurea có thể gây tụt đường huyết nếu dùng không phù hợp. Bệnh nội tiết đi kèm: Như suy giáp, suy tuyến thượng thận (Addison). Phản xạ thần kinh kém nhạy: Làm các dấu hiệu cảnh báo sớm trở nên mờ nhạt. Hạ đường huyết nguy hiểm như thế nào? Không chỉ gây khó chịu thoáng qua, hạ đường huyết ở người cao tuổi có thể dẫn đến nhiều biến chứng nghiêm trọng: Tổn thương não, tăng nguy cơ sa sút trí tuệ Não bộ phụ thuộc chủ yếu vào glucose để hoạt động. Khi đường huyết giảm sâu và kéo dài, tế bào não có thể bị tổn thương, gây suy giảm trí nhớ, giảm khả năng nhận thức, thậm chí thúc đẩy sa sút trí tuệ. Nguy cơ té ngã và gãy xương Hạ đường huyết gây chóng mặt, mất thăng bằng, dễ dẫn đến té ngã. Với người cao tuổi, đặc biệt người bị loãng xương, hậu quả có thể là gãy xương, ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng vận động và chất lượng cuộc sống. Biến chứng tim mạch, nguy cơ đột tử Khi đường huyết giảm, cơ thể phản ứng bằng cách tăng nhịp tim và tiết hormone stress. Điều này có thể gây rối loạn nhịp tim, tụt huyết áp và trong trường hợp nặng có thể dẫn đến ngừng tim đột ngột. Dễ bị chẩn đoán nhầm Triệu chứng hạ đường huyết ở người cao tuổi đôi khi giống với các bệnh lý thần kinh như đột quỵ nhẹ hoặc sa sút trí tuệ, khiến việc cấp cứu bị chậm trễ, làm tăng nguy cơ biến chứng. Dấu hiệu nhận biết hạ đường huyết ở người cao tuổi Việc nhận biết sớm các dấu hiệu là yếu tố quan trọng giúp xử trí kịp thời. Tuy nhiên, triệu chứng ở người cao tuổi thường không điển hình. Triệu chứng ban đầu: Mệt mỏi, hoa mắt, chóng mặt Cảm giác đói cồn cào Vã mồ hôi Run tay, tim đập nhanh Cáu gắt, lo lắng không rõ nguyên nhân Triệu chứng nặng cần cấp cứu: Lú lẫn, mất định hướng Nói khó, nói lắp Giảm khả năng tập trung, hay quên đột ngột Yếu cơ, đi lại khó khăn Té ngã Co giật hoặc hôn mê Đáng lưu ý, một số người cao tuổi có thể không có dấu hiệu cảnh báo rõ ràng mà đột ngột ngất xỉu. Đây là tình huống nguy hiểm, cần được xử trí ngay. Cách phòng ngừa hạ đường huyết ở người cao tuổi Để giảm nguy cơ hạ đường huyết, người cao tuổi và gia đình cần thực hiện đồng bộ các biện pháp sau: Duy trì chế độ ăn uống hợp lý Ăn đúng bữa, không bỏ bữa Bổ sung đầy đủ tinh bột, đạm và chất xơ Chia nhỏ bữa ăn nếu cần để duy trì đường huyết ổn định Theo dõi đường huyết định kỳ Đối với người mắc đái tháo đường, việc kiểm tra đường huyết thường xuyên giúp phát hiện sớm bất thường và điều chỉnh điều trị kịp thời. Sử dụng thuốc đúng hướng dẫn Không tự ý thay đổi liều insulin hoặc thuốc hạ đường huyết Tuân thủ chỉ định của bác sĩ Thông báo ngay khi có dấu hiệu bất thường Người cao tuổi nên mang theo kẹo, bánh quy hoặc nước ngọt để sử dụng khi xuất hiện dấu hiệu hạ đường huyết. Hạn chế rượu bia Rượu có thể gây hạ đường huyết kéo dài, đặc biệt khi uống lúc đói, vì vậy cần hạn chế hoặc tránh sử dụng. Tập luyện thể dục hợp lý Vận động giúp cải thiện sức khỏe tổng thể, nhưng cần tránh tập luyện quá sức hoặc khi bụng đói để không làm giảm đường huyết đột ngột. Sự hỗ trợ từ gia đình Người cao tuổi có thể không tự nhận biết hoặc xử trí khi bị hạ đường huyết, do đó người thân cần quan sát, nhắc nhở và hỗ trợ kịp thời. Tóm lại, hạ đường huyết ở người cao tuổi là tình trạng không thể xem nhẹ. Nếu không được phát hiện và xử trí kịp thời, bệnh có thể dẫn đến tổn thương não, té ngã, biến chứng tim mạch, thậm chí tử vong. Việc nâng cao nhận thức, theo dõi sức khỏe định kỳ, duy trì chế độ ăn uống hợp lý và tuân thủ điều trị là những yếu tố then chốt giúp phòng ngừa hiệu quả.

Biến chứng nguy hiểm hẹp van động mạch chủ và cách điều trị

Động mạch chủ là động mạch lớn nhất trong cơ thể đưa máu từ tim đi nuôi toàn bộ cơ thể. Hẹp van động mạch chủ có thể dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm đe doạ tính mạng như: suy tim, đột tử… Động mạch chủ là động mạch lớn nhất trong cơ thể đưa máu từ tim đi nuôi toàn bộ cơ thể. Van động mạch chủ là lá van ngăn cách giữa động mạch chủ và tâm thất trái. Hẹp van động mạch chủ là nguyên nhân thường gặp nhất gây tắc nghẽn đường tống máu của tâm thất trái. Biểu hiện của hẹp van động mạch chủ Nguyên nhân gây hẹp van động mạch chủ là do: thoái hoá van động mạch chủ; hẹp van động mạch chủ sau thấp tim; bệnh lý van động mạch chủ hai lá van; bệnh Paget, suy thận giai đoạn cuối… Biểu hiện kinh điển của hẹp van động mạch chủ là tam chứng: đau ngực, khó thở, ngất, thường xuất hiện khi hẹp nặng. Có thể xảy ra đột tử do rối loạn nhịp thất. Khám lâm sàng, bắt mạch sẽ thấy mạch nhỏ, nảy chậm (rõ nhất ở động mạch cảnh); nghe tim có tiếng thổi tâm thu tống máu ở phía trên bên phải xương ức, lan lên cổ, đạt cường độ cao nhất vào đầu đến giữa tâm thu. Biến chứng hẹp van động mạch chủ Hẹp van động mạch chủ có thể dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm đe doạ tính mạng: Suy tim. Rối loạn nhịp tim: rối loạn nhịp thất (Ngoại tâm thu, nhịp nhanh thất, rung thất,…), rối loạn nhịp nhĩ (Rung nhĩ hay gây ra các đợt suy tim cấp do mất cơ chế bóp bù của tâm nhĩ, giảm lưu lượng nhĩ – thất, giảm cung lượng tim). Đột tử. Tắc mạch do các mảnh vôi hóa, xơ vữa, mảnh sùi… Hội chứng vành cấp. Điều trị hẹp van động mạch chủ Điều trị hẹp van động mạch chủ gồm: Điều trị nội khoa Chưa có phương pháp điều trị nội khoa nào được chứng minh là có thể ngăn ngừa quá trình tiến triển của bệnh hay cải thiện tiên lượng bệnh. Một số thuốc (lợi tiểu, chẹn beta giao cảm, …) có thể giúp cải thiện triệu chứng của bệnh. Phẫu thuật thay van động mạch chủ cơ học hoặc sinh học Là phương pháp điều trị hiệu quả với tỷ lệ tử vong quanh phẫu thuật là 1%, biến chứng sau phẫu thuật là 1%/năm tại các trung tâm có nhiều kinh nghiệm, tuy nhiên số liệu từ những nghiên cứu sổ bộ quốc gia cho thấy tỷ lệ tử vong quanh phẫu thuật khoảng 3%. Van sinh học nên được lựa chọn cho những bệnh nhân lớn tuổi, và cũng có thể được sử dụng ở những bệnh nhân trẻ tuổi nếu muốn tránh nguy cơ huyết khối hoặc xuất huyết (ước tính khoảng 2 – 4 %/ năm). Nong van động mạch chủ bằng bóng qua da Chỉ là phương pháp điều trị thay thế tạm thời cho phẫu thuật hoặc thay van động mạch chủ qua đường ống thông đối với bệnh nhân hẹp van động mạch chủ nặng vì biến chứng xung quanh thủ thuật và tỷ lệ tái hẹp cao. Thay van động mạch chủ qua đường ống thông (TAVI) Thay van động mạch chủ qua đường ống thông là thủ thuật xâm lấn tối thiểu như một phương pháp thay thế cho phẫu thuật thay van nhân tạo đối với những bệnh nhân hẹp van động mạch chủ nặng có chỉ định thay van với chỉ định ngày càng được mở rộng. https://suckhoedoisong.vn/bien-chung-nguy-hiem-hep-van-dong-mach-chu-va-cach-dieu-tri-169250928180318394.htm

Bệnh viện Bắc Thăng Long điều trị thành công ca bệnh Whitmore

Bệnh nhân nam N.V.Q (60 tuổi), địa chỉ Sơn Đoài, xã Sóc Sơn Hà Nội, có tiền sử lạm dụng rượu, xơ gan. Cách ngày vào cấp cứu viện 2 tháng, bệnh nhân xuất hiện triệu chứng sốt cao, mệt mỏi về chiều, bệnh nhân tự uống thuốc hạ sốt thấy đỡ hơn, sau đó thỉnh thoảng sốt lại 2, 3 ngày rồi lại tự hết sốt, kèm theo mệt mỏi, chán ăn, gầy sút cân (khoảng 7,5 kg/ 2 tháng), bệnh nhân đã đi khám tại một số bệnh viện tuyến TW và được chẩn đoán: Viêm trào ngược dạ dày, tăng men gan, kê đơn thuốc điều trị tại nhà. Về nhà 1 tuần bệnh nhân đi ngoài phân lỏng 3 đến 4 lần/ ngày, sốt cao rét run, ho, mệt nhiều. Ngày 2/9/2025, bệnh nhân vào bệnh viện Bắc Thăng Long khám và điều trị. Bệnh nhân được khám và làm các xét nghiệm cận lâm sàng, cấy máu và định danh vi khuẩn và chẩn đoán xác định nhiễm khuẩn huyết do vi khuẩn Burkholderia pseudomallei (bệnh Whitmore).   Sau điều trị 5 ngày bằng kháng sinh, truyền dịch, điều trị triệu chứng, đến hiện tại bệnh nhân hết sốt, không đi ngoài, không nôn, đỡ mệt, ăn uống được. BSCKII. Nguyễn Quốc Tế, Trưởng khoa Hồi sức tích cực cho biết, bệnh Whitmore (hay còn gọi bệnh Melioidosis) là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở người và động vật do vi khuẩn Burkholderia pseudomallei gây ra. Bệnh có biểu hiện lâm sàng rất đa dạng, khó chẩn đoán và tỷ lệ tử vong cao, nhất là ở những trường hợp viêm phổi nặng, nhiễm trùng huyết và sốc nhiễm trùng. Bệnh lây truyền chủ yếu do tiếp xúc với nguồn đất, nước có chứa vi khuẩn qua các vết trầy xước ngoài da. Những người có sức đề kháng bị suy giảm, có bệnh lý nền như đái tháo đường, nghiện rượu, bệnh gan, thận, bệnh phổi mạn tính có nguy cơ mắc bệnh cao. Hiện chưa có vắc xin phòng bệnh Whitmore. Khi nghi ngờ nhiễm bệnh cần đến cơ sở y tế chuyên sâu để được tư vấn, khám, phát hiện và điều trị kịp thời. Để dự phòng bệnh, cần chú ý đảm bảo vệ sinh cá nhân, thường xuyên rửa tay với xà phòng và nước sạch; thực hiện ăn chín, uống nước đun sôi để nguội, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm; hạn chế tiếp xúc trực tiếp với đất, nước bẩn, đặc biệt tại những nơi bị ô nhiễm nặng… Phòng CTXH  

Bác sĩ chỉ dấu hiệu phân biệt giữa đột tử và đột quỵ

Đột tử và đột quỵ đều diễn tiến đột ngột, nếu không được cấp cứu kịp thời sẽ dẫn đến tử vong hoặc di chứng của thiếu oxy não kéo dài không hồi phục. Theo ThS.BS Đoàn Dư Mạnh, Thành viên Hội Bệnh mạch máu Việt Nam, điểm giống nhau giữa đột quỵ và đột tử tim là đều thấy người bệnh đột nhiên ngã quỵ và mất ý thức, nếu không được cấp cứu kịp thời sẽ dẫn đến tử vong hoặc di chứng của thiếu oxy não kéo dài không hồi phục. “Đột quỵ và đột tử tim là đều rất nguy hiểm, cần phải xử trí càng sớm càng tốt”… Bác sĩ Mạnh chỉ ra cách phân biệt bệnh nhân đột quỵ, đột tử và hướng xử trí kịp thời khi phát hiện. Dấu hiệu nhận biết Đột tử: Bệnh nhân đột ngột ôm ngực (nhiều người sau cấp cứu mô tả đau dữ dội như tảng đá đè lên ngực), ngã gục và mất ý thức rất nhanh, nếu có kiến thức nghe tim hoặc bắt mạch cảnh mạch bẹn thấy mất mạch. Dấu hiệu của đột tử là bệnh nhân đột ngột ôm ngực, ngã gục và mất ý thức rất nhanh. Hình minh họa Đột quỵ não: Bệnh nhân có thể đau đầu dữ dội hoặc nói khó, méo miệng, yếu hoặc mất cảm giác 1/2 người. Một số trường hợp còn đại tiểu tiện không tự chủ, sau đó ngất, rồi đến mất ý thức, nếu phát hiện sớm kiểm tra tim và mạch vẫn còn đập, muộn có thể thấy mất mạch, ngừng tim. Nguyên nhân Đột tử: Tim ngừng đột ngột 2/3 từ nhồi máu cơ tim do xơ vữa mạch vành, ngoài ra do các bệnh như viêm cơ tim, huyết khối trong tim, shock tim, rung thất, các bất thường điện tim hội chứng Brugada, block nhĩ thất… Đột quỵ não: 2/3 từ nhồi máu não huyết khối gây tắc mạch não do xơ vữa mạch bong ra trôi lên não, gây tắc hoặc huyết khối từ tim văng lên gây tắc mạch. 1/3 từ xuất huyết não do huyết áp tăng đột ngột, làm vỡ túi phình mạch não có từ trước gây xuất huyết. Các triệu chứng chính Đột tử: Diễn biến cực nhanh, đau ngực như mô tả ở trên, khó thở, mất ý thức, mất mạch tim rất nhanh. Đột quỵ: Nhận diện nhanh các triệu chứng điển hình của đột quỵ thông qua nguyên tắc F.A.S.T: – Méo miệng (Face Drooping – F): Méo miệng một bên, biểu hiện rõ nhất khi cười, nhe răng, đôi khi có cảm giác tê một bên mặt. – Yếu liệt tay chân (Arm weakness – A): Một bên tay chân yếu, liệt hay mất cảm giác; tay rơi xuống khi được yêu cầu đưa lên cao, một tay rơi xuống. – Ngôn ngữ bất thường (Speech difficulty – S): Không thể nói, không thể hiểu lời nói. Có thể yêu cầu người bệnh lặp lại một câu nói đơn giản để xem họ có thể lặp lại được hay không. – Thời gian (Timing – T): Thời gian là sự sống còn của não, vì vậy bệnh nhân cần được đưa đến cơ sở y tế sớm nhất. Tri giác có thể bất thường, nhưng kiểm tra tim vẫn còn đập, mạch còn nảy. Cơ quan tổn thương Đột tử: Ảnh hưởng toàn bộ cơ thể do tim ngừng đập, mất cấp máu đến toàn bộ cơ thể. Đột quỵ: Bị ảnh hưởng 1/2 cơ thể như méo miệng một bên, yếu liệt một bên trái hoặc phải cơ thể, đương nhiên kéo dài cũng bị toàn bộ và tử vong. Xử trí Đột tử: Cần lập tức ép tim cấp cứu, song song với gọi 115, hồi sinh tim phổi càng sớm càng tốt. Quá 5′ não thiếu oxy sẽ tổn thương không phục hồi. Đột quỵ: Gọi 115 càng sớm càng tốt, đến cơ sở chuyên khoa có đơn vị đột quỵ cấp cứu trong thời gian “vàng” (< 6 tiếng) càng sớm càng tốt, nếu mất mạch tim mới ép tim trong quá trình đợi 115. Tỷ lệ tử vong Đột tử: Rất cao, lên đến hơn 90%. Đột quỵ: Nếu không cấp cứu kịp cũng có nguy cơ tử vong cao, nhưng thấp hơn đột tử. Phòng ngừa Đột tử: Cần có lối sống lành mạnh, tập thể thao, bỏ thuốc lá, bỏ rượu bia, giảm cân nếu thừa cân, kiểm soát huyết áp, rối loạn lipid máu, tiểu đường, kiểm tra sức khoẻ định kỳ, đặc biệt chú ý vấn đề tim mạch: điện tim, siêu âm tim, chụp mạch vành nếu có nguy cơ cao hoặc tiền sử hẹp mạch vành bằng DSA, CT Photon. Đột quỵ: Kiểm soát lối sống (tương tự phòng ngừa đột tử), kiểm tra sức khoẻ định kỳ, đặc biệt ở người có nguy cơ cao hoặc tiền sử từng đột quỵ: điện tim, siêu âm tim, siêu âm mạch cảnh, chụp mạch não bằng MRI hoặc CT Photon. Lưu ý thêm, cả hai tình trạng đều cần được cấp cứu ngay lập tức. Quy tắc F.A.S.T giúp nhận biết đột quỵ não nhanh chóng. Với đột tử tim, triệu chứng đau ngực và ngất xỉu là dấu hiệu cần hành động ngay. Đặc biệt, không nhầm lẫn với trúng gió (đi cạo gió) hoặc cấp cứu theo kiểu truyền miệng như chích máu đầu ngón tay. https://daibieunhandan.vn/bac-si-chi-dau-hieu-phan-biet-giua-dot-tu-va-dot-quy-10383093.html

282 bệnh được nghỉ ốm đau dài ngày theo quy định mới

Người lao động tham gia BHXH khi mắc một số bệnh nhất định sẽ được xem là trường hợp cần điều trị dài ngày và được nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau theo quy định của pháp luật. Theo Luật BHXH năm 2024, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, chế độ ốm đau dài ngày đã có sự thay đổi. Người lao động sẽ không còn được hưởng trọn vẹn 180 ngày nghỉ như trước đây. Thay vào đó, thời gian nghỉ và mức hưởng được điều chỉnh phù hợp với điều kiện làm việc và thời gian tham gia BHXH của người lao động. Cụ thể, tại khoản 2 Điều 43, khoản 3 Điều 45 Luật BHXH năm 2024 quy định, trong trường hợp, người lao động đã hết thời hạn hưởng chế độ ốm đau trong năm theo quy định, mà vẫn tiếp tục điều trị thì người lao động nghỉ việc do mắc bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày (do Bộ Y tế ban hành) được hưởng tiếp chế độ ốm đau dài ngày. Mức hưởng trợ cấp ốm đau dài ngày được tính như sau: Nếu người lao động đã đóng BHXH bắt buộc từ đủ 30 năm trở lên: Mức trợ cấp ốm đau sẽ bằng 65% tiền lương làm căn cứ đóng BHXH. Nếu thời gian đóng BHXH từ đủ 15 năm đến dưới 30 năm: Mức trợ cấp ốm đau sẽ bằng 55% tiền lương làm căn cứ đóng BHXH. Nếu thời gian đóng BHXH dưới 15 năm: Mức trợ cấp ốm đau sẽ bằng 50% tiền lương làm căn cứ đóng BHXH. Thời gian nghỉ hưởng chế độ ốm đau được tính theo ngày làm việc, không bao gồm ngày nghỉ lễ, Tết và ngày nghỉ hằng tuần. Danh mục 282 bệnh cần chữa trị dài ngày Thông tư số 25/2025/TT-BYT ngày 30/6/2025 của Bộ Y tế quy định chi tiết thi hành Luật BHXH, Luật An toàn, vệ sinh lao động về lĩnh vực y tế và một số điều của Luật khám bệnh, chữa bệnh đã ban hành Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày tại Phụ lục I . Theo đó, có 282 bệnh theo các chuyên khoa thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày. Đây là cơ sở để thực hiện chế độ ốm đau dài ngày cho người lao động theo Luật BHXH năm 2024. Cụ thể, danh mục 282 bệnh cần chữa trị dài ngày như sau: https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/linh-vuc-bao-hiem-xa-hoi.aspx?ItemID=25332&CateID=168

Phản vệ – Hiểm họa có thật quanh ta!

Phản vệ, hay còn gọi là sốc phản vệ, là một phản ứng dị ứng nghiêm trọng và có thể đe dọa tính mạng, xảy ra khi hệ miễn dịch phản ứng quá mức với một chất gây dị ứng. Phản ứng này có thể xuất hiện ngay lập tức hoặc sau một thời gian ngắn khi tiếp xúc với dị nguyên (chất gây dị ứng) như thức ăn, thuốc, nọc côn trùng, hoặc các chất khác… Phản vệ không chừa ai, có thể xảy ra với chính bạn, con bạn, người thân bạn, hay cả nhân viên y tế. Sự khác biệt giữa sống sót và mất đi đôi khi chỉ gói gọn trong một mũi tiêm epinephrine kịp thời. Mỗi năm, trên thế giới có khoảng 5 triệu ca phản vệ, và ít nhất 8.000 người tử vong vì xử trí chậm trễ. Trong đời, 0,05 – 2% dân số có nguy cơ gặp phản vệ. Đáng báo động là chỉ 60% quốc gia đảm bảo được quyền tiếp cận bút tiêm epinephrine tự động (EpiPen, Anapen…). Tại Anh, nghiên cứu cho thấy gần 1/3 trẻ em có dị ứng thức ăn nặng chưa hề được kê đơn epinephrine, và 52–60% bệnh nhân nguy cơ cao không mang theo thuốc khi ra ngoài. ✅ NÊN LÀM NGAY khi nghi ngờ phản vệ 1) Tiêm epinephrine vào mặt ngoài đùi ngay lập tức (0,01 mg/kg, tối đa 0,5 mg ở người lớn). Tiêm sớm giảm tới 90% nguy cơ nhập viện và tử vong. 2) Gọi cấp cứu 📞 115, đưa đến bệnh viện theo dõi ít nhất 4–6 giờ (30% có thể bị phản ứng hai pha sau 1–72 giờ). 3) Luôn chuẩn bị 2 bút tiêm dự phòng, mang theo mọi lúc. 4) Dạy cho gia đình, thầy cô, đồng nghiệp cách nhận biết và xử trí phản vệ. ❌ TUYỆT ĐỐI KHÔNG 1) Chờ đợi triệu chứng nặng mới xử trí: trì hoãn làm tăng mạnh nguy cơ tử vong. 2) Chỉ dùng thuốc kháng histamine hay corticoid: chúng không thay thế epinephrine. 3) Chủ quan với một liều duy nhất: 35% bệnh nhân cần tiêm liều thứ hai. 4) Để bút tiêm hết hạn hoặc cất ở nhà mà không mang theo. 🌱 PHÒNG NGỪA LÀ GỐC RỄ 1) Xác định dị nguyên (thức ăn: lạc, tôm, cua…; thuốc: kháng sinh, giảm đau…; nọc côn trùng; latex…). 2) Có kế hoạch hành động cá nhân, do bác sĩ dị ứng hướng dẫn. 3) Tập huấn ở trường học, công ty, cộng đồng để mọi người đều biết cách xử trí. 4) Sẵn sàng cả về tâm lý – bởi sống chung với nguy cơ phản vệ có thể gây lo âu kéo dài. Phùng Dũng (sưu tầm)

15/08 Truyền hình trực tuyến: ‘Lạm dụng Corticoid trong điều trị nấm da – cảnh báo từ chuyên gia’

Báo Sức khỏe & Đời sống tổ chức chương trình truyền hình trực tuyến với chủ đề “Lạm dụng Corticoid trong điều trị nấm da – cảnh báo từ chuyên gia” vào lúc 20h30 thứ Sáu, ngày 15/08/ 2025 với sự đồng hành của nhãn hàng Nizoral thuộc Tập đoàn dược phẩm STADA. Chương trình được phát trực tiếp trên Báo điện tử Suckhoedoisong.vn, trên kênh Youtube, Fanpage và Tiktok của Báo Sức khỏe & Đời sống. Chương trình được truyền hình trực tuyến trên Báo Điện tử Suckhoedoisong.vn, trên kênh Youtube và fanpage, tiktok của Báo Sức khỏe&Đời sống bắt đầu vào lúc 20h30, thứ Sáu ngày 15/08/2025. Bạn đọc có thể gửi câu hỏi về tòa soạn ngay từ bây giờ theo địa chỉ: Email: toasoan@suckhoedoisong.vn Hoặc trực tiếp đặt câu hỏi với các chuyên gia trong thời gian diễn ra chương trình. Báo điện tử Sức khỏe & Đời sống (Suckhoedoisong.vn) trân trọng cảm ơn BSCKII Phạm Đăng Trọng Tường, Phó Giám đốc Bệnh viện Da liễu TP HCM – Phó Chủ tịch Hội Da liễu TP HCM, TS.BS Lý Thị Mỹ Nhung – Giảng viên Bộ môn Da liễu Đại học Y dược TP HCM và MC Vũ Mạnh Cường. https://suckhoedoisong.vn/truyen-hinh-truc-tuyen-lam-dung-corticoid-trong-dieu-tri-nam-da-canh-bao-tu-chuyen-gia-169250814080559186.htm

Điều trị Gút ở bệnh nhân bệnh thận mạn

1. Bệnh thận mạn là yếu tố nguy cơ của tăng acid uric máu và bệnh gút. Tuy nhiêu việc điều trị gút ở BN có bệnh thận mạn gặp nhiều thách thức do hạn chế về liều và loại thuốc. Nhiều BN không đạt mục tiêu điều trị acid uric do bị cản trở bởi các giới hạn liều cũ. 2. Khi nào cần điều trị thuốc làm hạ acid uric máu ở BN có bệnh thận mạn, theo ACR & EULAR, là khi có ≥2 cơn gút/năm, có hạt tophi, viêm khớp mạn do gút, acid uric máu > 8–9 mg/dL, có sỏi urat hoặc bệnh thận mạn. 3. Các thuốc: • Allopurinol là thuốc ưu tiên hàng đầu: Hướng điều trị là khởi đầu liều thấp, và tăng liều từ từ (“start-low-go-slow”). Liều có thể vượt ngưỡng theo eGFR nhưng cần theo dõi cẩn thận. Nguy cơ bị Hội chứng tăng nhạy cảm với Allopurinol (AHS) tăng ở BN có HLA-B*5801 → khuyến cáo xét nghiệm gen ở các BN châu Á. • Febuxostat khi BN không dung nạp Allopurinol hoặc không đạt được mục tiêu acid uric với Allopurinol. Febuxostat là thuốc an toàn hơn ở BN bệnh thận mạn do chuyển hóa qua gan, nhưng có lo ngại về nguy cơ tim mạch (FDA 2017), dù nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy nguy cơ thấp, tương đương allopurinol. • Uricosurics (Probenecid, Benzbromarone): Không khuyến cáo cho BN bệnh thận mạn giai đoạn 3 trở đi, trừ khi không còn lựa chọn nào khác • Pegloticase: Chỉ định cho BN gút nặng, kháng trị. Có thể phối hợp thuốc ức chế miễn dịch (methotrexate, mycophenolate, azathioprine) để giảm sinh kháng thể chống lại pegloticase và tăng hiệu quả. • Thuốc SGLT-2i có thể làm giảm nhẹ acid uric nhưng hiệu quả bị hạn chế ở BN bệnh thận mạn. 4. Xử trí cơn gút cấp ở các BN bệnh thận mạn. • NSAIDs thường bị chống chỉ định. • Colchicine dùng thận trọng, cần hiệu chỉnh liều theo GFR và không nên dùng nếu BN đang điều trị thuốc ức chế CYP3A4/P-gp. • Prednisone đường uống hoặc tiêm là lựa chọn phổ biến và an toàn hơn. • IL-1 inhibitors (như anakinra) là lựa chọn thay thế trong gút kháng trị, có thể dùng được cả cho BN ghép thận. 5. Dự phòng tái phát: Khuyến cáo dùng colchicine liều thấp hoặc prednisone liều thấp trong 3–6 tháng đầu điều trị thuốc làm giảm acid uric máu. Ở BN có bệnh thận mạn nặng, có thể không cần dự phòng nếu áp dụng chiến lược “start-low-go-slow”. 6. Lưu ý ở BN ghép thận: Không dùng chung Azathioprine với allopurinol hoặc febuxostat do nguy cơ suy tủy → chuyển sang mycophenolate nếu có thể. Chú ý Cyclosporine làm tăng acid uric → cân nhắc thay thế bằng tacrolimus nếu có gút sau ghép. Ths.Bác sĩ Phùng Văn Dũng Nguồn: American Journal of Kidney Disease, ngày 1/ 7/ 2025    

Khi đột quỵ không còn chờ đến tuổi già

Những cú ngã quỵ bất ngờ, những ánh mắt bàng hoàng của người thân và cả sự tiếc nuối “Giá như biết sớm hơn”. Do đó, cần nhận thức đúng và hành động sớm là cách duy nhất để bảo vệ sức khỏe, tính mạng của chính mình và người thân. PGS.TS.BS Nguyễn Sinh Hiền khuyến cáo mỗi năm, ít nhất một lần, mỗi người cần đi khám sức khỏe định kỳ. Theo PGS.TS.BS Nguyễn Sinh Hiền, Giám đốc Bệnh viện Tim Hà Nội, Chủ tịch Hội Tim mạch thành phố Hà Nội: “Dù chưa tổng hợp phân tích số liệu chi tiết, nhưng thực tế hoạt động ở Bệnh viện Tim Hà Nội cho thấy, tình trạng các ca đột quỵ ở người trẻ được bệnh viện tiếp nhận điều trị là khá nhiều so với cách nay 20 năm. Có những người thậm chí chưa đến 30 tuổi đã bị đột quỵ. Đáng chú ý, không chỉ đột quỵ, mà tình trạng đột tử cũng có dấu hiệu trẻ hóa lứa tuổi. Mọi người cần phân biệt rõ đột quỵ và đột tử. Đột quỵ hay còn gọi là tai biến mạch máu não là khi việc cung cấp máu cho não bị giảm hoặc ngừng đột ngột. Não không được cung cấp đủ ô xy, dinh dưỡng dẫn đến hoại tử tế bào não, người bệnh đi vào hôn mê dù tim vẫn đập. Biểu hiện lâm sàng của tai biến mạch não có thể thoáng qua hoặc để lại di chứng yếu, liệt, thậm chí tử vong, nhưng thường các ca này không tử vong ngay sau khi đột quỵ mà thường là vài ngày, vài tháng, bệnh nhân có nhiều cơ hội để can thiệp, điều trị hơn; Còn đột tử liên quan trực tiếp đến bệnh lý về tim, do nhịp tim bị rối loạn, tim co bóp không hiệu quả hoặc ngừng đột ngột khiến bệnh nhân chết ngay lập tức sau vài phút nếu không được cấp cứu kịp thời”. PGS.TS.BS Nguyễn Sinh Hiền cho biết: “Hiện nay, bệnh lý đột tử dường như đến sớm với những người trẻ do một số nhóm nguyên nhân như rối loạn nhịp tim bẩm sinh, do bản thân nạn nhân đã có mầm mống rối loạn nhịp tim, nhưng không cẩn trọng trong quá trình vận động và làm việc, tập thể dục thể thao quá sức hoặc bị rối loạn điện giải khi làm việc dưới điều kiện quá nắng nóng, dẫn đến không kiểm soát được nhịp tim; người còn trẻ nhưng đã bị xơ vữa động mạch vành, gây tắc, nhồi máu cơ tim diện lớn, ảnh hưởng hoạt động điện của quả tim, gây rối loạn nhịp, dẫn đến đột tử; bệnh nhân bị tim bẩm sinh hoặc mắc phải bệnh van tim… nhưng không được phát hiện, điều trị sớm, dẫn đến phì đại cơ tim, suy tim, loạn nhịp, tim không đưa máu đi nuôi cơ thể được cũng là nguyên nhân khiến bệnh nhân đột tử; các trường hợp ngộ độc cơ tim do hóa chất, dùng chất kích thích, như ma tuý gây ngừng tim đột ngột, dẫn đến đột tử… Đột quỵ hay đột tử có những nguyên nhân chung và riêng. Một trong những nguyên nhân chung là xơ vữa động mạch, xơ vữa gây hẹp hoặc tắc mạch máu; tắc ở não có thể gây đột quỵ, tắc ở mạch tim có thể gây đột tử. Các bác sĩ cấp cứu, điều trị kịp thời cho bệnh nhân (BVCC). Không chỉ vậy, PGS.TS.BS Nguyễn Sinh Hiền cho rằng, việc giới trẻ lạm dụng sử dụng điện thoại, thức đêm quá nhiều hoặc thường xuyên làm việc quá sức cũng là vấn đề đáng lo. Cuộc sống hiện đại với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ, quá trình số hóa đã dẫn đến nhiều thay đổi trong lối sống, sinh hoạt. Các công việc dạng tĩnh, lao động chân tay ít hơn hoặc lượng vận động giảm nhiều sẽ dễ gây ra các bệnh lý về chuyển hóa. Một bộ phận người trẻ không chủ động xây dựng thói quen vận động, thể dục thể thao mỗi ngày. Ngoài ra, chế độ ăn của giới trẻ thay đổi, nhiều người ăn quá nhiều thức ăn chế biến từ động vật hoặc sử dụng thức ăn chế biến sẵn nhiều mỡ, muối, hút thuốc lá, uống nước ngọt… dẫn đến tình trạng nhiều người tuổi còn rất trẻ nhưng đã mắc bệnh về huyết áp, tiểu đường, rối loạn mỡ máu, xơ vữa thành mạch, khiến máu khó lưu thông… gọi chung là nhóm bệnh do rối loạn chuyển hóa – là tiền đề dẫn đến tình trạng đột tử, đột quỵ. Bên cạnh đó, tình trạng “stress” kéo dài, do nhiều người trẻ ép cơ thể và tâm trí làm việc cả ngày và đêm trong một thời gian dài, áp lực công việc quá vất vả; thức đêm nhiều có thể gây rối loại chức năng tế bào gan rất nhiều, khiến việc thải độc ở gan không bảo đảm, dẫn đến tích tụ chất độc cho cơ thể, gây tổn thương não, tim, gan… Để phòng chống đột quỵ, đột tử từ sớm, từ xa, đặc biệt là với giới trẻ, PGS.TS.BS Nguyễn Sinh Hiền khuyến cáo: “Mỗi năm, ít nhất một lần, mỗi người cần đi khám sức khỏe định kỳ, kịp thời phát hiện các triệu chứng bất thường để có giải pháp can thiệp kịp thời. Cơ bản là phải xét nghiệm máu để biết có rối loạn chuyển hóa, có bị tiểu đường, mỡ máu không, phải đo huyết áp, điện tim – rất đơn giản, nhưng lại giúp phát hiện kịp thời các bệnh lý tim mạch nguy hiểm. Nếu có nghi ngờ thì mới làm sâu hơn như siêu âm tim, chụp não, mạch não xem có dị dạng mạch não không… Đặc biệt,

Axit uric cao mà bạn không biết ???

Axit uric cao là gì? Bất cứ khi nào bạn ăn, cơ thể sẽ hấp thụ những thứ cần thiết, chẳng hạn như protein và vitamin, và thải ra chất thải. Một trong những chất thải đó là axit uric. Nồng độ axit uric cao là tình trạng có quá nhiều axit uric trong máu. Axit uric được tạo ra trong quá trình phân hủy purin. Purin có trong một số loại thực phẩm và được cơ thể tự tổng hợp. Máu vận chuyển axit uric đến thận. Thận thải phần lớn axit uric qua nước tiểu, sau đó axit uric được đào thải ra ngoài cơ thể. Nồng độ axit uric cao có thể liên quan đến bệnh gút hoặc sỏi thận. Tuy nhiên, hầu hết những người có nồng độ axit uric cao đều không có triệu chứng của bất kỳ tình trạng nào trong số này hoặc các vấn đề liên quan. Các triệu chứng của tăng axit uric máu là gì? Theo Clevelandclinic, bản thân tình trạng tăng axit uric máu thường không gây ra triệu chứng. Hầu hết mọi người không biết mình bị bệnh cho đến khi nồng độ axit uric trong máu đủ cao để gây ra bệnh gút hoặc sỏi thận. Các triệu chứng của cơn gút ở một trong các khớp bao gồm đau dữ dội, đỏ hoặc đổi màu khớp, cứng khớp, sưng, đau nhức, ngay cả khi chạm nhẹ.. Các triệu chứng của sỏi thận bao gồm đau ở lưng dưới hoặc hông, buồn nôn hoặc nôn do đau, sốt hoặc ớn lạnh, có máu trong nước tiểu, đau khi đi tiểu, không thể đi tiểu, cảm thấy buồn tiểu thường xuyên hơn, nước tiểu có mùi hôi hoặc đục. Nguyên nhân dẫn đến axit uric cao Theo Phòng khám Mayo, nồng độ axit uric cao có thể là kết quả của việc cơ thể tạo ra quá nhiều axit uric, không đào thải đủ hoặc cả hai. Nguyên nhân gây ra nồng độ axit uric cao trong máu bao gồm: – Thuốc lợi tiểu. – Uống quá nhiều rượu. – Uống quá nhiều soda hoặc ăn quá nhiều thực phẩm có chứa fructose, một loại đường. – Di truyền. – Huyết áp cao (tăng huyết áp). – Thuốc ức chế miễn dịch. – Các vấn đề về thận. – Bệnh bạch cầu. – Hội chứng chuyển hóa. – Béo phì. – Bệnh đa hồng cầu nguyên phát, một loại ung thư máu. – Bệnh vẩy nến. – Chế độ ăn giàu purin, nhiều thực phẩm như gan, thịt thú rừng, cá cơm và cá mòi. – Hội chứng ly giải khối u, tình trạng giải phóng nhanh các tế bào vào máu do một số loại ung thư hoặc do hóa trị liệu đối với những loại ung thư đó. – Những người đang điều trị hóa trị hoặc xạ trị ung thư có thể được theo dõi nồng độ axit uric cao. Cách tự nhiên để hạ axit uric cao – Hạn chế thực phẩm giàu purin Bạn có thể hạn chế nguồn axit uric. Thực phẩm giàu purin bao gồm một số loại thịt, hải sản và rau củ. Tất cả những thực phẩm này đều góp phần tạo ra axit uric khi tiêu hóa. Bạn hãy tránh hoặc giảm lượng thực phẩm giàu purin, chẳng hạn như thịt đỏ, nội tạng, động vật có vỏ, gia cầm. – Tránh đường Fructose là một loại đường tự nhiên có trong trái cây và mật ong. Khi cơ thể phân hủy fructose, nó sẽ giải phóng purin và làm tăng nồng độ axit uric. Lưu ý rằng fructose trong đồ uống được hấp thụ nhanh hơn đường trong thực phẩm nguyên chất vì đồ uống không chứa chất xơ, protein hoặc các chất dinh dưỡng khác. Các loại đường khác được thêm vào thực phẩm bao gồm đường ăn, si rô ngô có hàm lượng fructose cao. – Uống nhiều nước hơn Uống nhiều chất lỏng giúp thận đào thải axit uric nhanh hơn. Thận lọc khoảng 70% axit uric trong cơ thể. Uống đủ nước có thể giúp hỗ trợ thận và có thể làm giảm nguy cơ sỏi thận do axit uric. – Tránh uống rượu Uống rượu có thể khiến bạn mất nước nhiều hơn. Nghiên cứu năm 2021 cho thấy nó cũng có thể gây ra nồng độ axit uric cao. Rượu làm tăng quá trình chuyển hóa nucleotide, một nguồn purin khác có thể chuyển hóa thành axit uric. Nó cũng ảnh hưởng đến tốc độ bài tiết axit uric, dẫn đến tăng nồng độ axit uric trong máu. – Uống cà phê Nghiên cứu năm 2016 cho thấy cà phê có thể giúp giảm nồng độ axit uric trong huyết thanh theo hai cách chính. Nó cạnh tranh với enzyme phân hủy purin trong cơ thể, làm giảm tốc độ sản xuất axit uric. Nó làm tăng tốc độ cơ thể bài tiết axit uric. Các nghiên cứu khác từ năm 2016Trusted Source cho thấy có đủ bằng chứng ủng hộ khả năng. – Kiểm soát cân nặng Mỡ thừa trong cơ thể có thể góp phần làm tăng nồng độ axit uric. Tăng cân có thể khiến thận hoạt động kém hiệu quả. Nó cũng có thể làm tăng sản xuất axit uric và làm giảm bài tiết axit uric qua nước tiểu. – Kiểm soát lượng đường trong máu Nghiên cứu năm 2019 cho thấy tăng axit uric máu có liên quan đến sự phát triển của bệnh tiểu đường và các biến chứng liên quan. Những người có lượng đường trong máu cao, chẳng hạn như những người mắc tiền tiểu đường hoặc tiểu đường, cũng có nguy cơ cao hơn gặp phải các tác dụng phụ của tăng axit uric máu. – Bổ sung thêm chất xơ vào chế độ ăn uống Ăn nhiều chất xơ có thể giúp giảm nồng độ axit uric. Chất xơ cũng có thể giúp cân

Các loại u vú thường gặp, cách nhận biết sớm nhất

U vú là hiện tượng xuất hiện một hoặc nhiều khối bất thường ở tuyến vú. Khối u vú có thể xuất hiện do nhiều nguyên nhân nếu không được điều trị kịp thời, khối u vú ác tính có thể lan sang các bộ phận khác của cơ thể. Vì vậy, dù khối u có thể là ác tính hay không, ngay khi xuất hiện những triệu chứng bất thường, người bệnh nên đến gặp bác sĩ để được kiểm tra và điều trị sớm. Nguyên nhân gây ung thư vú Khối u xuất hiện ở vú có thể xuất phát từ các nguyên nhân sau: Nhiễm trùng: Có thể gây viêm và hình thành áp xe vú. Ung thư vú: Khối u thường không đau, cứng và có hình dạng bất thường, khác biệt rõ rệt với các mô xung quanh. Lớp da bao quanh khối u có thể đỏ, nhíu da hoặc sần sùi như vỏ cam. Có thể có co kéo núm vú, tiết dịch từ núm vú và có thể kèm theo hạch nách hoặc hạch cổ. Ở giai đoạn trễ, khối u có thể xâm lấn ra da và gây lở loét. U nang vú: Khối u tròn, nhẵn và có thể có kích thước lớn hoặc nhỏ, với mô vú xung quanh mềm. Tình trạng này thường gặp ở phụ nữ tiền mãn kinh. Thay đổi sợi bọc: Cảm giác căng và tức ở vú, thường xảy ra trong chu kỳ kinh nguyệt hoặc mãn kinh. U xơ tuyến vú: Khối u chắc, nhẵn, di chuyển dễ dưới da, không phải ung thư. U xơ tuyến vú có thể phát triển lớn hơn và bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như mang thai, liệu pháp hormone, hoặc chu kỳ kinh nguyệt. Đây là nguyên nhân phổ biến gây u vú ở phụ nữ từ 20 đến 30 tuổi. Chấn thương: Chấn thương nghiêm trọng đối với mô vú có thể dẫn đến hình thành khối u và hoại tử mỡ. Các loại u vú thường gặp U nhú: U nhú là một khối u lành tính, có hình dáng giống mụn cóc, phát triển bên trong các ống tuyến vú. U nhú thường hình thành thành khối tròn hoặc bầu dục ở khu vực trung tâm dưới núm vú. Khối u này có thể gây tiết dịch từ núm vú, thường là dịch trong suốt hoặc có lẫn máu. Siêu âm thường được sử dụng để phát hiện u nhú, và có thể đi kèm với hiện tượng giãn ống tuyến vú. Cần lưu ý rằng về mặt hình ảnh học và tế bào học, rất khó phân biệt giữa u nhú lành tính và ung thư dạng nhú của tuyến vú. Vì vậy, khi siêu âm phát hiện hình ảnh nhú bên trong nang, bác sĩ thường sẽ chỉ định lấy khối u ra (bằng phẫu thuật hoặc hút chân không) để tiến hành xét nghiệm nhằm chẩn đoán chính xác. U vú lành tính: Các loại u vú lành tính thường xuất hiện ở phần biểu mô của ống tuyến hoặc mô liên kết. Một số triệu chứng phổ biến bao gồm: Xuất hiện khối u trong vú. Gây cảm giác khó chịu hoặc đau. Đau toàn bộ vùng vú.Một số u có thể thay đổi kích thước theo chu kỳ kinh nguyệt hoặc trong thời kỳ mang thai. Tiết dịch từ núm vú. Mức độ đau có thể tăng lên hoặc kèm theo việc sờ thấy các khối u theo chu kỳ hàng tháng, đặc biệt trong hoặc trước kỳ kinh. Khối u thường có mật độ chắc, bề mặt trơn láng và có thể di động. Nang tuyến vú: Nang đơn giản của tuyến vú là túi chứa chất dịch lành tính, không phải ung thư, và thường gặp ở phụ nữ trong độ tuổi từ 30 đến 50. Tình trạng này hiếm gặp ở thiếu nữ và phụ nữ sau mãn kinh. Một số triệu chứng có thể bao gồm: Xuất hiện khối u ở vú. Đau vùng vú. Tiết dịch từ núm vú. Nang tuyến vú thường bị ảnh hưởng bởi nội tiết tố liên quan đến chu kỳ kinh nguyệt. Nang tuyến vú có thể là nang tuyến vú đơn giản hoặc nang tuyến vú phức tạp, tùy thuộc vào thành phần dịch bên trong, đôi khi có chứa các thành phần đặc. Nếu nang có kích thước lớn và gây đau, bác sĩ có thể tiến hành chọc hút dịch bằng kim. Ngoài ra, bác sĩ cũng có thể chỉ định sinh thiết để kiểm tra các tế bào trong thành phần đặc của nang. U xơ tuyến vú U xơ tuyến vú là sự phát triển bất thường của mô tuyến trong vú, thường gặp ở phụ nữ trong độ tuổi từ 14 đến 35. U xơ có xu hướng co lại và thậm chí biến mất theo thời gian. Tuy nhiên, đối với những trường hợp u xơ lớn, phẫu thuật có thể được yêu cầu để loại bỏ. U xơ tuyến vú lành tính thường có các đặc điểm như: khối u tròn, có đường viền rõ ràng, không gây đau và dễ di động. Nếu khối u tăng nhanh kích thước trong thời gian ngắn, cần phải phân biệt với u diệp thể, một loại u khác có thể nguy hiểm hơn. U mỡ U mỡ là khối u lành tính với các đặc điểm như mềm, có giới hạn tương đối rõ, bao bọc bởi lớp vỏ và có thể di động, không gây đau. U mỡ có thể xuất hiện ở bất kỳ đâu trên cơ thể, bao gồm cả vú, và thường không cần điều trị. Tuy nhiên, nếu u mỡ có kích thước lớn, bác sĩ có thể tư vấn phẫu thuật để loại bỏ nó. U vú ác tính ( ung thư vú ) Khối u ở vú, thường không đau, có hình dạng không đều và mật

Đặt Lịch Khám

    Đặt Lịch Khám