BỆNH VIỆN BẮC THĂNG LONG
BAC THANG LONG HOSPITAL

(84) 889 615 815

Email: thugopy.bvbtl@gmail.com

Hoạt Động Nghiên Cứu

Tư Vấn Sức Khoẻ

Hạ đường huyết nguy hiểm ra sao với người cao tuổi?

Hạ đường huyết là tình trạng thường gặp ở người cao tuổi, đặc biệt ở những người mắc đái tháo đường. Do biểu hiện không điển hình và dễ bị bỏ qua, bệnh có thể dẫn đến nhiều biến chứng nghiêm trọng như tổn thương não, té ngã, rối loạn tim mạch, thậm chí đe dọa tính mạng nếu không được phát hiện và xử trí kịp thời. Hạ đường huyết là một rối loạn chuyển hóa thường gặp, đặc biệt ở người cao tuổi và người mắc đái tháo đường. Tình trạng này xảy ra khi mức đường huyết giảm xuống dưới 70 mg/dL (≈ 3,9 mmol/L), khiến cơ thể – đặc biệt là não bộ – không được cung cấp đủ năng lượng để hoạt động bình thường. Ở người trẻ, hạ đường huyết thường dễ nhận biết và xử trí nhanh chóng. Ngược lại, ở người cao tuổi, các biểu hiện thường âm thầm, không rõ ràng, làm tăng nguy cơ phát hiện muộn và xảy ra biến chứng. Lý do người cao tuổi dễ bị hạ đường huyết? Người cao tuổi có nguy cơ cao do nhiều yếu tố phối hợp: Suy giảm chức năng gan, thận: Làm giảm khả năng dự trữ và điều hòa glucose, cũng như ảnh hưởng đến chuyển hóa thuốc. Ăn uống thất thường: Biếng ăn, quên bữa khiến cơ thể thiếu hụt năng lượng. Tác dụng của thuốc: Insulin và nhóm sulfonylurea có thể gây tụt đường huyết nếu dùng không phù hợp. Bệnh nội tiết đi kèm: Như suy giáp, suy tuyến thượng thận (Addison). Phản xạ thần kinh kém nhạy: Làm các dấu hiệu cảnh báo sớm trở nên mờ nhạt. Hạ đường huyết nguy hiểm như thế nào? Không chỉ gây khó chịu thoáng qua, hạ đường huyết ở người cao tuổi có thể dẫn đến nhiều biến chứng nghiêm trọng: Tổn thương não, tăng nguy cơ sa sút trí tuệ Não bộ phụ thuộc chủ yếu vào glucose để hoạt động. Khi đường huyết giảm sâu và kéo dài, tế bào não có thể bị tổn thương, gây suy giảm trí nhớ, giảm khả năng nhận thức, thậm chí thúc đẩy sa sút trí tuệ. Nguy cơ té ngã và gãy xương Hạ đường huyết gây chóng mặt, mất thăng bằng, dễ dẫn đến té ngã. Với người cao tuổi, đặc biệt người bị loãng xương, hậu quả có thể là gãy xương, ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng vận động và chất lượng cuộc sống. Biến chứng tim mạch, nguy cơ đột tử Khi đường huyết giảm, cơ thể phản ứng bằng cách tăng nhịp tim và tiết hormone stress. Điều này có thể gây rối loạn nhịp tim, tụt huyết áp và trong trường hợp nặng có thể dẫn đến ngừng tim đột ngột. Dễ bị chẩn đoán nhầm Triệu chứng hạ đường huyết ở người cao tuổi đôi khi giống với các bệnh lý thần kinh như đột quỵ nhẹ hoặc sa sút trí tuệ, khiến việc cấp cứu bị chậm trễ, làm tăng nguy cơ biến chứng. Dấu hiệu nhận biết hạ đường huyết ở người cao tuổi Việc nhận biết sớm các dấu hiệu là yếu tố quan trọng giúp xử trí kịp thời. Tuy nhiên, triệu chứng ở người cao tuổi thường không điển hình. Triệu chứng ban đầu: Mệt mỏi, hoa mắt, chóng mặt Cảm giác đói cồn cào Vã mồ hôi Run tay, tim đập nhanh Cáu gắt, lo lắng không rõ nguyên nhân Triệu chứng nặng cần cấp cứu: Lú lẫn, mất định hướng Nói khó, nói lắp Giảm khả năng tập trung, hay quên đột ngột Yếu cơ, đi lại khó khăn Té ngã Co giật hoặc hôn mê Đáng lưu ý, một số người cao tuổi có thể không có dấu hiệu cảnh báo rõ ràng mà đột ngột ngất xỉu. Đây là tình huống nguy hiểm, cần được xử trí ngay. Cách phòng ngừa hạ đường huyết ở người cao tuổi Để giảm nguy cơ hạ đường huyết, người cao tuổi và gia đình cần thực hiện đồng bộ các biện pháp sau: Duy trì chế độ ăn uống hợp lý Ăn đúng bữa, không bỏ bữa Bổ sung đầy đủ tinh bột, đạm và chất xơ Chia nhỏ bữa ăn nếu cần để duy trì đường huyết ổn định Theo dõi đường huyết định kỳ Đối với người mắc đái tháo đường, việc kiểm tra đường huyết thường xuyên giúp phát hiện sớm bất thường và điều chỉnh điều trị kịp thời. Sử dụng thuốc đúng hướng dẫn Không tự ý thay đổi liều insulin hoặc thuốc hạ đường huyết Tuân thủ chỉ định của bác sĩ Thông báo ngay khi có dấu hiệu bất thường Người cao tuổi nên mang theo kẹo, bánh quy hoặc nước ngọt để sử dụng khi xuất hiện dấu hiệu hạ đường huyết. Hạn chế rượu bia Rượu có thể gây hạ đường huyết kéo dài, đặc biệt khi uống lúc đói, vì vậy cần hạn chế hoặc tránh sử dụng. Tập luyện thể dục hợp lý Vận động giúp cải thiện sức khỏe tổng thể, nhưng cần tránh tập luyện quá sức hoặc khi bụng đói để không làm giảm đường huyết đột ngột. Sự hỗ trợ từ gia đình Người cao tuổi có thể không tự nhận biết hoặc xử trí khi bị hạ đường huyết, do đó người thân cần quan sát, nhắc nhở và hỗ trợ kịp thời. Tóm lại, hạ đường huyết ở người cao tuổi là tình trạng không thể xem nhẹ. Nếu không được phát hiện và xử trí kịp thời, bệnh có thể dẫn đến tổn thương não, té ngã, biến chứng tim mạch, thậm chí tử vong. Việc nâng cao nhận thức, theo dõi sức khỏe định kỳ, duy trì chế độ ăn uống hợp lý và tuân thủ điều trị là những yếu tố then chốt giúp phòng ngừa hiệu quả.

Bác sĩ Trương Hữu Khanh: ‘Virus Nipah khó gây đại dịch như Covid-19’

Bác sĩ Trương Hữu Khanh, chuyên gia về bệnh truyền nhiễm, đánh giá virus Nipah lây qua tiếp xúc dịch tiết động vật hoặc người bệnh, không lây lan mạnh qua đường hô hấp nên khó bùng phát diện rộng. Bác sĩ Khanh, Phó Chủ tịch Hội Truyền nhiễm TP HCM, nguyên trưởng khoa Nhiễm – Thần kinh Bệnh viện Nhi đồng 1, đưa ra nhận định trên ngày 27/1, trước bối cảnh dư luận hoang mang về ổ dịch Nipah mới tại bang Tây Bengal (Ấn Độ). Tính từ cuối năm 2025 đến ngày 26/1, khu vực này phát hiện 5 trường hợp nghi ngờ, trong đó hai nhân viên y tế có kết quả dương tính. Dù giới chức y tế sở tại xác định đây là ổ dịch nhỏ, chưa lây lan rộng, thông tin vẫn gây xao động tâm lý người dân nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Trước lo ngại này, bác sĩ Khanh cho rằng việc đánh đồng mức độ nguy hiểm giữa Nipah và Covid-19 là khập khiễng. SARS-CoV-2 gây Covid-19 là chủng virus mới, lây lan cực nhanh qua giọt bắn hô hấp và liên tục đột biến. Trong khi đó, Nipah là dòng virus “cổ điển”, cơ chế xâm nhập hoàn toàn khác biệt. “Khả năng mầm bệnh Nipah lây trực tiếp từ người sang người qua không khí để tạo thành đại dịch gần như bằng không”, bác sĩ Khanh nói. Lý giải về chùm ca bệnh tại Ấn Độ, chuyên gia cho rằng nguồn lây xuất phát từ hoàn cảnh tiếp xúc đặc biệt. Kết quả điều tra dịch tễ sơ bộ trùng khớp với nhận định này khi nữ điều dưỡng nhiễm bệnh đầu tiên tại Bệnh viện Narayana Multispeciality từng uống mật chà là tươi nghi nhiễm dịch tiết của dơi. Người này sau đó lây cho đồng nghiệp qua tiếp xúc gần trong quá trình chăm sóc mà thiếu biện pháp bảo hộ chuẩn. Theo bác sĩ Khanh, vật chủ chính của virus là loài dơi ăn quả. Mầm bệnh tồn tại trong nước bọt, nước tiểu của loài này. Con người nhiễm bệnh chủ yếu do chạm trực tiếp vào dịch tiết hoặc ăn trái cây dơi cắn dở. Nếu không có tiếp xúc rất gần hoặc tiêu thụ thực phẩm nhiễm khuẩn, nguy cơ virus vượt biên giới bùng phát tại Việt Nam rất thấp. Các đợt dịch Nipah trong lịch sử đều khu trú ở phạm vi hẹp và tự chấm dứt khi cơ quan chức năng kiểm soát tốt nguồn lây động vật. Đồng quan điểm, PGS.TS Lê Quốc Hùng, Trưởng Khoa Bệnh Nhiệt đới, Bệnh viện Chợ Rẫy, đánh giá tính chất lây nhiễm của Nipah rất hạn chế, khác hoàn toàn các bệnh lý đường hô hấp cấp tính. Tuy nhiên, ông lưu ý Nipah vẫn là bệnh nguy hiểm đối với cá nhân mắc phải do tấn công trực tiếp vào não. Bệnh cảnh chính là viêm não với các triệu chứng sốt cao, đau đầu, co giật, diễn tiến nhanh tới hôn mê. Tỷ lệ tử vong của bệnh rất cao, có thể trên 50% do thế giới chưa tìm ra thuốc đặc trị hay vaccine phòng ngừa. Các biện pháp y tế hiện tại chỉ dừng lại ở điều trị triệu chứng và hồi sức tích cực. Sáng 27/1, trước diễn biến dịch tại nước bạn, Bộ Y tế yêu cầu các đơn vị kiểm dịch biên giới và y tế dự phòng tăng cường giám sát tại cửa khẩu và cộng đồng. Đến nay, Việt Nam chưa ghi nhận ca mắc Nipah nào. Thế giới phát hiện virus này lần đầu năm 1999 tại Malaysia và Singapore, khiến hơn 100 người tử vong, buộc tiêu hủy hàng triệu con lợn. Kể từ đó, dịch xuất hiện định kỳ tại Nam Á, chủ yếu ở Bangladesh và Ấn Độ. Để phòng bệnh, các chuyên gia khuyến cáo người dân thực hiện “ăn chín, uống sôi”. Đặc biệt, tuyệt đối không ăn các loại trái cây có dấu hiệu bị cắn dở, vết răng động vật hoặc trái cây rụng không rõ nguyên nhân. Khi du lịch đến các vùng có dịch, cần hạn chế tiếp xúc với động vật hoang dã, đặc biệt là dơi. https://vnexpress.net/bac-si-truong-huu-khanh-virus-nipah-kho-gay-dai-dich-nhu-covid-19-5010670.html

Cách phòng viêm phổi cho trẻ khi trời lạnh

Viêm phổi là bệnh thường gặp và là một trong những nguyên nhân chính gây tử vong ở trẻ em. Trẻ càng nhỏ tỷ lệ tử vong do viêm phổi càng cao. Mùa đông, các bệnh cảm lạnh cũng gia tăng làm cho virus, vi khuẩn nhân cơ hội xâm nhập mũi họng và xuống phổi gây viêm phổi. Trẻ mắc viêm phổi có biểu hiện gì? Khi mắc viêm phổi, trẻ sẽ có các biểu hiện: Giai đoạn sớm: có thể chỉ có sốt nhẹ, ho húng hắng, chảy nước mắt và nước mũi, khò khè, ăn kém, bỏ bú, quấy khóc… Giai đoạn sau: trẻ không được điều trị đúng và theo dõi sát có thể diễn biến nặng hơn với biểu hiện sốt cao, ho tăng lên, có đờm, khó thở, thở nhanh, rút lõm lồng ngực, bỏ bú hoặc bú kém, tím môi, tím đầu chi … Trẻ mắc viêm phổi nặng có triệu chứng: trẻ ho hoặc khó thở và có ít nhất một trong các triệu chứng chính là: co rút lồng ngực, phập phồng cánh mũi; thở rên (ở trẻ dưới 2 tháng)… Trẻ mắc viêm phổi rất nặng sẽ có các biểu hiện: trẻ có ho hoặc khó thở cộng với ít nhất một trong các triệu chứng chính là: tím tái, co giật, lơ mơ hoặc hôn mê; không uống được hoặc bỏ bú hoặc nôn ra tất cả mọi thứ; suy hô hấp nặng với biểu hiện đầu gật gù theo nhịp thở và co kéo cơ hô hấp phụ. Ngoài ra, có thể có thêm một số triệu chứng khác gồm: thở nhanh, phập phồng cánh mũi, thở rên, co rút lồng ngực. Lưu ý: Để xác định trẻ có thở nhanh hay không bằng cách đếm nhịp thở của trẻ trong đủ 1 phút. Trẻ được coi là thở nhanh nếu: Trẻ < 2 tháng tuổi, nhịp thở > 60 lần/phút. Trẻ 2 – 11 tháng tuổi, nhịp thở > 50 lần/phút. Trẻ 12 – 60 tháng tuổi, nhịp thở > 40 lần/phút. Cha mẹ không tự ý cho con uống kháng sinh Khi trẻ mắc viêm phổi, cha mẹ cần cho trẻ đi khám và điều trị theo chỉ dẫn của bác sĩ. Cha mẹ tuyệt đối không tự ý mua thuốc kháng sinh, thuốc giảm ho điều trị cho con tại nhà. Thuốc kháng sinh sẽ không có tác dụng trong trường hợp trẻ bị viêm phổi do virus. Ho là phản xạ tốt để tống xuất chất đờm ra khỏi đường thở, làm thông thoáng đường thở nên không cho trẻ uống thuốc giảm ho khi chưa có chỉ định của bác sĩ. Cách phòng bệnh viêm phổi cho trẻ trong mùa lạnh Mùa đông các bệnh cảm lạnh cũng gia tăng làm cho virus, vi khuẩn nhân cơ hội xâm nhập mũi họng và xuống phổi gây viêm phổi. Muốn phòng bệnh viêm phổi cho trẻ em cần thực hiện các biện pháp như sau: Giữ ấm đường thở: Khi thời tiết trở lạnh, cha mẹ cần lưu ý giữ ấm cho trẻ bằng cách cho trẻ ăn mặc đủ ấm phù hợp với mức độ lạnh bên ngoài: mặc thêm áo ấm, nón len, mang thêm bao tay, tất, khăn, đeo khẩu trang khi ra đường, đội mũi kín tai, sử dụng nước ấm,… Bổ sung đủ dinh dưỡng cho trẻ: Trẻ em cần được ăn uống đầy đủ các chất dinh dưỡng để tăng cường miễn dịch, nhất là những trẻ còn trong độ tuổi bú mẹ. Với các trẻ biếng ăn, cha mẹ nhất thiết nên bổ sung từ các nguồn thực phẩm bổ sung, các công thức thuốc bổ tổng hợp và các chế phẩm thảo dược chuẩn hóa có tác dụng chống biếng ăn cho trẻ. Cho trẻ uống đủ nước, trẻ nhỏ cho bú nhiều lần trong ngày. Không hút thuốc, đun nấu trong phòng có trẻ nhỏ. Cách ly trẻ với người bị bệnh để tránh lây lan thành dịch. Nơi ở đủ ánh sáng, lưu thông không khí tốt. Thường xuyên lau nền nhà, tay nắm cửa và bề mặt các đồ vật trong nhà bằng các chất tẩy rửa thông thường, như xà phòng và các dung dịch khử khuẩn. Đưa trẻ đi tiêm phòng đầy đủ, đúng lịch các vắc-xin như bạch hầu – ho gà – uốn ván, Hemophilus influenzae typ B (Hib), phế cầu, cúm… Phát hiện sớm các biểu hiện sớm của bệnh viêm đường hô hấp nói chung như: ho, sốt, chảy nước mũi, khó thở… và các rối loạn khác như tiêu chảy, ăn kém, chậm tăng cân… để chăm sóc và điều trị kịp thời. Hàng ngày vệ sinh răng miệng cho trẻ sạch sẽ ngày 2 lần sáng khi ngủ dậy và buổi tối trước khi đi ngủ, sau mỗi bữa ăn cho uống nước súc miệng, tránh để khuẩn đọng lại bằng cách chải răng, lau răng miệng cho trẻ nhỏ.

Cô gái xách theo bình “khí cười” đi… cai nghiện

Khi đến Viện Sức khỏe tâm thần khám, cô gái trẻ khiến bác sĩ ngỡ ngàng khi cô đem theo một túi xách lớn, nặng trĩu chứa bình khí N₂O (khí cười), vì sợ xuất hiện cơn thèm bất chợt không thể kiểm soát. Chia sẻ tại buổi tọa đàm “Bóng cười – nước mắt sau những cuộc vui”, diễn ra chiều 12/1 tại Viện Sức khỏe tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai, bác sĩ Lê Thị Phương Thảo, Đơn nguyên Sử dụng chất và Y học Hành vi, cho biết mới đây, bác sĩ đã khám cho một bệnh nhân nữ bị nghiện “khí cười” N₂O. Bác sĩ Thảo cho biết, cô gái trẻ bước vào phòng khám, với một chiếc túi xách lớn, và lấy ra một bình khí N₂O trong sự ngỡ ngàng của bác sĩ. “Cô gái giải thích, cô bị nghiện khí N₂O, bị bố mẹ phát hiện bắt đi khám và cai nghiện, nhưng khi đi khám, sợ lên cơn thèm bất chợt không thể kiểm soát nên cô phải lén vác bình khí đi theo”, bác sĩ Thảo thông tin. Nữ bệnh nhân cho biết, lần đầu tiên cô hít bóng cười (bóng bơm khí N₂O) là khi học cấp 2, do bạn bè rủ hít. Lúc ấy, cô nghĩ chỉ thử cho biết và không hít thường xuyên. Tuy nhiên, lên cấp 3, khi đi chơi với bạn bè nhiều hơn, cô tiếp xúc, hút bóng cười thường xuyên hơn. Dần dần, cô có cảm giác bị lệ thuộc, thèm hút bóng cười nên không cần bạn bè rủ, cô cũng tự mua bóng về hít tại nhà. Bác sĩ Thảo cho biết, nữ bệnh nhân mỗi ngày hít 20-30 quả bóng cười. Khi tình trạng nghiện nặng hơn, cô không dùng bóng cười nữa mà trực tiếp mua khí N₂O về hít. Cô gái thường xuyên mang bình khí N₂O nhỏ bên người, kể cả khi đi làm để lên cơn thèm là hít. Thời điểm bố mẹ phát hiện và bắt đi khám, cô gái đã sử dụng bóng cười đến 6-7 năm, đồng thời có các biểu hiện tê bì chân tay, trầm cảm, lo âu. Bác sĩ Thảo cho biết, bóng cười (còn gọi là funky ball) là một quả bóng được bơm đầy khí N₂O (khí cười). N₂O (Dinitơ oxit hay nitrous oxide) hay còn gọi là khí cười là một trong những hợp chất vô cơ không màu, vị ngọt nhẹ. Chất này vào cơ thể, dạng khí, sẽ chiếm chỗ oxy làm thiếu oxy, ức chế thần kinh trung ương gây ra nhiều cảm giác phê, hoang tưởng. N₂O là nhóm chất gây nghiện, thuộc nhóm gây ảo giác có xu hướng tăng liều, người dùng có thể bị phụ thuộc, nghiện, ảo giác tương tự heroin. “Dùng bóng cười lâu ngày với số lượng lớn có thể làm tổn thương não bộ; tê bì tay chân; yếu liệt, đi không vững; tổn thương tủy sống không hồi phục; giảm trí nhớ, chậm chạp, kém tập trung… Thậm chí, việc lạm dụng bóng cười có thể gây ngừng tim đột ngột hoặc ngạt thở cấp tính do thiếu oxy dẫn đến tử vong”, bác sĩ Thảo cảnh báo. Bác sĩ Thảo cũng cho biết, độc tính của khí cười tăng theo liều lượng và thời gian sử dụng, liều cao thường gây nguy hiểm tức thì nhưng liều thấp dùng kéo dài vẫn có thể gây tổn thương nặng. Việc hít bóng cười lâu ngày sẽ dẫn đến số lượng ngày càng tăng, có những người dùng tới 30-40 quả mỗi lần. “Việc dùng trên 10 quả bóng cười mỗi lần và dùng nhiều lần có thể gây độc tính mạnh đối với bộ não, có khả năng gây tổn thương cấp tính và mạn tính đến cơ thể”, bác sĩ Thảo cho biết. Trước đó, Bệnh viện Bãi Cháy đã tiếp nhận điều trị cho một bệnh nhân 15 tuổi bị tổn thương tủy cổ, tê yếu tay chân do ngộ độc khí N₂O sau thời gian sử dụng bóng cười dài ngày. Bệnh nhi đến viện trong tình trạng tê bì hai tay, hai chân yếu dần, đi lại khó khăn kèm theo sụt cân nhiều. Trước đó, người bệnh đã sử dụng bóng cười liên tục trong vòng 10 ngày, mỗi ngày khoảng 10 quả. Kết quả chụp cộng hưởng từ cột sống cổ có hình ảnh tổn thương sừng sau tủy cổ. Bệnh nhân được chẩn đoán bệnh rễ thần kinh tủy sống cổ, theo dõi do ngộ độc khí cười N₂O. Bác sĩ Thảo khuyến cáo người trẻ cần cảnh giác với bóng cười, tuyệt đối không “thử cho biết” bởi thực tế nhiều người đã bị nghiện sau khi thử, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe. https://dantri.com.vn/suc-khoe/co-gai-xach-theo-binh-khi-cuoi-di-cai-nghien-20260112213551189.htm

Những biến chứng đáng sợ của bệnh tay chân miệng

Bệnh TCM chủ yếu ở trẻ nhỏ dưới 5 tuổi, lây lan nhanh qua tiếp xúc gần với các chủng virus như EV71 và Coxsackievirus A16 là nguyên nhân chính. Tại Việt Nam, bệnh TCM vẫn diễn biến phức tạp, số trường hợp mắc tăng cao vào các đợt cao điểm (tháng 3-5 và tháng 9-12) chủ yếu ở trẻ dưới 5 tuổi. Bệnh rất dễ lây lan trong môi trường tập thể và tiềm ẩn nguy cơ biến chứng nặng và rất nặng có thể tử vong. Nguyên nhân gây bệnh tay chân miệng Tác nhân gây bệnh thường gặp là virus Coxsackie A16 and Enterovirus 71 (virus đường ruột typ 71). Các virus này có khả năng lây lan rất nhanh qua đường miệng bởi các chất tiết từ mũi, miệng, các nốt ban trên da và phân của trẻ bệnh. Trẻ lành tiếp xúc trực tiếp với trẻ bệnh TCM rất dễ bị nhiễm bệnh do hít phải nước bọt của trẻ bệnh văng ra trong lúc nói chuyện, cười, ho hoặc hắt hơi. Hoặc do trẻ lành cầm nắm đồ chơi hay chạm vào sàn nhà có dính nước bọt, chất tiết mũi họng của trẻ bệnh TCM cũng sẽ bị lây bệnh. Bên cạnh đó, bệnh TCM còn lây qua tay của người chăm sóc trẻ bệnh TCM. Triệu chứng bệnh tay chân miệng Triệu chứng của bệnh chân tay miệng ở trẻ em thường là sốt nhẹ, chán ăn, mệt mỏi, đau họng, ho, đau bụng, nổi ban đỏ trên da… trong đó đặc biệt lưu ý là dấu hiệu nổi ban trên da. Đây là dấu hiệu đặc trưng của bệnh TCM. Trong 1-2 ngày đầu khi phát bệnh, trẻ sẽ có những nốt ban hồng nổi trên nền da bình thường, sau đó trở thành bọng nước. Những ban đỏ này xuất hiện nhiều ở niêm mạc miệng, ngón tay, lòng bàn tay, lòng bàn chân (vì vậy gọi là bệnh TCM) và mông. Những nốt ban có kích thước từ 2-5mm ở giữa có màu xám sẫm và có hình bầu dục. Thường bệnh TCM được phân độ để tiện việc điều trị và theo dõi bệnh. Do đó, bệnh TCM được phân thành 4 độ chính, từ nhẹ đến nặng, dựa trên mức độ tổn thương thần kinh, tim mạch và hô hấp. Đó là độ 1 chỉ có loét miệng hoặc phát ban da; độ 2 bắt đầu có biến chứng thần kinh nhẹ như giật mình, sốt cao, lừ đừ; độ 3 có tổn thương thần kinh thực vật nặng (mạch nhanh/chậm, vã mồ hôi, thở nhanh); độ 4 là nặng nhất, có thể suy hô hấp, tuần hoàn, sốc, phù phổi, tím tái, cần can thiệp cấp cứu ngay. Những biến chứng đáng sợ của bệnh tay chân miệng Biến chứng thần kinh (viêm não – viêm màng não); Biến chứng về tim mạch (viêm cơ tim); Biến chứng về hô hấp (phù phổi cấp). Các biến chứng nguy hiểm đáng sợ này thường xuất hiện sớm khoảng từ ngày thứ hai đến ngày thứ năm của bệnh (xảy ra trong giai đoạn toàn phát) nguy cơ dẫn đến tử vong nếu không được phát hiện sớm và xử trí kịp thời. Ngoài ra, bệnh TCM có thể gây nguy hiểm cho phụ nữ mang thai, nếu bị nhiễm bệnh TCM trong 3 tháng đầu của thai kỳ có nguy cơ dẫn đến sảy thai vì vậy, phụ nữ đang mang thai nên phòng ngừa bằng cách hạn chế tiếp xúc gần với những người đang mắc bệnh TCM Nguyên tắc phòng bệnh và điều trị bệnh chân tay miệng Khi thấy trẻ có các biểu hiện nghi ngờ trẻ mắc bệnh TCM, cha mẹ cần đưa trẻ đến bệnh viện để được thăm khám và đánh giá đúng về tình trạng bệnh. Căn cứ vào tình hình thực tế diễn biến bệnh của trẻ, bác sĩ sẽ chỉ định điều trị phù hợp nhất và cho cách ly với trẻ lành (cách ly trẻ bệnh là điều cần được lưu ý khi chưa có vaccine phòng bệnh đặc hiệu). Với trẻ mắc bệnh độ 1, có thể chăm sóc trẻ tại nhà, nhưng phải theo dõi thường xuyên và nếu thấy có biểu hiện bất thường cần đưa đi bệnh viện càng sớm càng tốt. Từ độ 2 trở đi cần được nhập viện để theo dõi, nhằm tránh những biến chứng nguy hiểm. Một số biện pháp phòng tránh tay chân miệng ở trẻ hiệu quả “Phòng bệnh hơn chữa bệnh”, khi đã biết được nguyên nhân gây ra bệnh tay chân miệng, cha mẹ có thể dễ dàng chủ động phòng ngừa bệnh TCM cho trẻ cũng như bản thân mình (vì nhiều trường hợp người lớn cũng có thể mắc bệnh TCM) bằng cách không đưa trẻ đến những nơi đông người bởi ở những nơi đó có thể đang bị ô nhiễm mầm bệnh TCM. Luôn vệ sinh tay chân của trẻ sạch sẽ bằng xà phòng diệt khuẩn phù hợp. Cần tuân thủ nguyên tắc “ăn chín uống chín” để loại bỏ vi khuẩn, virus có thể xâm nhập cơ thể trẻ. Không ôm, hôn, tiếp xúc gần với trẻ nếu nhận thấy bản thân có nguy cơ bị TCM hoặc đã tiếp xúc với người bị bệnh TCM trước đó. Luôn vệ sinh, khử khuẩn không gian sống, giữ cho phòng ở thoáng mát đồng thời thường xuyên vệ sinh, khử khuẩn các loại đồ chơi, đồ dùng cá nhân của bé để loại bỏ virus, vi khuẩn gây bệnh. Bố mẹ bé nên chủ động tăng sức đề kháng và miễn dịch cho trẻ bằng việc bổ sung đầy đủ dinh dưỡng thiết yếu cho trẻ, cho trẻ hoạt động thể chất… https://suckhoedoisong.vn/nhung-bien-chung-dang-so-cua-benh-tay-chan-mieng-169251231214449374.htm

Hai loại vaccine giá hàng triệu đồng được tiêm miễn phí từ 2026

Từ năm 2026, Bộ Y tế tiêm vaccine ngừa ung thư cổ tử cung và phế cầu miễn phí cho trẻ, nhằm bao phủ miễn dịch và giảm gánh nặng chi phí cho người dân. “Bổ sung vaccine phế cầu và HPV là bước đi quan trọng nhằm mở rộng bao phủ miễn dịch, giảm gánh nặng bệnh tật và hướng tới mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ tiêm chủng đạt 95% theo định hướng của Chính phủ”, ông Dương Chí Nam, Phó cục trưởng Cục Phòng bệnh, Bộ Y tế, cho biết tại Lễ tổng kết cuộc thi tìm hiểu về chương trình tiêm chủng mở rộng tại Việt Nam, hôm 26/12 tại Hà Nội. Theo lộ trình, ngành y tế bắt đầu tiêm vaccine phế cầu quy mô nhỏ ngay từ quý I/2026. Dựa trên số liệu trẻ dưới 1 tuổi năm 2025, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương dự kiến triển khai trước tại các địa phương như Bắc Kạn, Lạng Sơn, Quảng Nam, Đăk Nông, Sóc Trăng, Tuyên Quang, Lào Cai, Cao Bằng, Sơn La và Quảng Ngãi. Đối với vaccine ngừa ung thư cổ tử cung (HPV), chương trình ưu tiên thực hiện tại các vùng khó khăn từ quý III/2026. Bốn tỉnh được chọn thí điểm tiêm miễn phí cho bé gái 11 tuổi gồm Tuyên Quang, Quảng Ngãi, Đắk Lắk và Vĩnh Long. Cơ quan chuyên môn ước tính giai đoạn 2026-2028, khoảng 18.000 trẻ mỗi năm tại các vùng triển khai sẽ thụ hưởng chính sách này. Hiện, phụ huynh phải trả chi phí dịch vụ khá cao để con được tiêm hai loại vaccine nói trên. Vaccine ngừa HPV dành cho nữ 9-26 tuổi có giá 1-2 triệu đồng mỗi liều, trọn bộ ba liều tiêu tốn khoảng 3-6 triệu đồng. Vaccine phế cầu cho trẻ từ 6 tuần tuổi cũng dao động quanh mức 1,2 triệu đồng một mũi. Việc đưa các loại dược phẩm này vào danh mục miễn phí tạo điều kiện cho mọi trẻ em, đặc biệt là tại các vùng nghèo, tiếp cận công bằng với dịch vụ y tế chất lượng cao. Phế cầu và HPV là hai trong 4 loại vaccine mới được bổ sung vào chương trình tiêm chủng quốc gia giai đoạn 2024-2030. Trước đó, vaccine ngừa virus Rota đã được thử nghiệm quy mô nhỏ từ cuối năm 2024 và sẽ mở rộng vào năm 2026; vaccine ngừa cúm dự kiến áp dụng từ năm 2030. Như vậy, từ năm 2026, số bệnh truyền nhiễm có vaccine miễn phí sẽ tăng lên 13 bệnh, bao gồm: viêm gan B, lao, bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt, bệnh do Hib, sởi, rubella, viêm não Nhật Bản B, tiêu chảy do virus Rota, các bệnh do phế cầu và ung thư cổ tử cung. Chương trình Tiêm chủng mở rộng quốc gia vận hành từ năm 1985 và đạt nhiều thành tựu quan trọng sau gần 40 năm. Việt Nam đã thanh toán bệnh bại liệt vào năm 2000 và loại trừ uốn ván sơ sinh năm 2005. Tỷ lệ trẻ dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ thường xuyên duy trì ở mức trên 90%. Vi khuẩn phế cầu (Streptococcus pneumoniae) là tác nhân hàng đầu gây ra các bệnh nguy hiểm ở trẻ nhỏ như viêm phổi, viêm màng não và nhiễm trùng huyết với tỷ lệ tử vong cao hoặc để lại di chứng thần kinh nặng nề. Trong khi đó, virus HPV (Human Papillomavirus) là nguyên nhân chính gây ung thư cổ tử cung ở phụ nữ và nhiều bệnh lý đường sinh dục khác ở cả hai giới. Vaccine phế cầu giúp cơ thể trẻ tạo kháng thể đặc hiệu, giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh và hạn chế tình trạng kháng kháng sinh đang ngày càng trầm trọng. Đối với vaccine HPV, việc tiêm chủng sớm, tốt nhất trong độ tuổi 9-14, được chứng minh mang lại hiệu quả bảo vệ tối ưu lên tới trên 90% trong việc ngăn ngừa các tổn thương tiền ung thư. https://vnexpress.net/hai-loai-vaccine-gia-hang-trieu-dong-duoc-tiem-mien-phi-tu-2026-4998511.html

Bơm xi măng sinh học – phương pháp điều trị hiệu quả xẹp thân đốt sống

Xẹp thân đốt sống là một trong những biến chứng thường gặp do loãng xương (chủ yếu ở người lớn tuổi và phụ nữ sau mãn kinh), sau chấn thương hoặc do các tổn thương bệnh lý khác (U máu thân đốt, tổn thương thứ phát do di căn…) trên nền bệnh nhân loãng xương… Xẹp thân đốt sống gây đau đớn, hạn chế vận động, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh. Có nhiều phương pháp điều trị xẹp thân đốt sống như: cố định ngoài, phẫu thuật, điều trị nội khoa, tạo hình thân đốt sống qua da bằng xi măng sinh học. Trong đó, phương pháp tạo hình đốt sống qua da mà Bệnh viện Bắc Thăng Long hiện đang thực hiện thường quy đã mang lại lợi ích và hiệu quả thấy rõ cho người bệnh. Bà Ng Thị T – 72 tuổi nhập viện trong tình trạng rất đau ở lưng. Kết quả thăm khám cho thấy bà T bị xẹp thân đốt sống lưng cần phải điều trị can thiệp. Đã từng chứng kiến người quen cũng bị tổn thương đốt sống lưng như mình, sau khi phẫu thuật cả năm trời vẫn chưa thể hồi phục, bà T rất lo lắng. Nhưng khi được BSCKII Đàm Quang Thịnh – Trưởng Khoa Chấn thương tư vấn về hướng điều trị theo phương pháp tạo hình thân đốt sống qua da bằng xi măng sinh học thì bà T yên tâm hơn hẳn, gia đình bà T rất mừng khi biết so với các phương pháp truyền thống như điều trị nội khoa, mặc áo nẹp đốt sống…, kỹ thuật bơm xi măng sinh học được đánh giá an toàn, ít biến chứng và hiệu quả cao hơn. Tuy nhiên, gia đình người bệnh lo ngại vì sợ chi phí điều trị bằng kỹ thuật cao này rất lớn trong khi điều kiện kinh tế khó khăn. Thấu hiểu lo lắng của gia đình người bệnh, BSCKII Đàm Quang Thịnh cho biết: Hiện bộ vật tư, thuốc điều trị trong thực hiện dịch vụ kỹ thuật cao này được BHYT chi trả (lưu ý: Chi phí bảo hiểm y tế chi trả sẽ tùy thuộc vào mức hưởng thẻ bảo hiểm và tình trạng của từng người bệnh). Sau hơn 30 phút thực hiện thủ thuật chỉ với 2 vết chọc kim rất nhỏ, không phải mổ mở, không gây mất máu, ít để lại sẹo, bà T đã giảm đau đến 80%, có thể vận động, sinh hoạt lại dễ dàng sau đó 2-3 giờ… Thông tin thêm về kỹ thuật can thiệp này, BSCKII Đàm Quang Thịnh cho biết: Phẫu thuật tạo hình thân đốt sống bằng xi măng sinh học là một phẫu thuật ít xâm lấn. Xi măng sinh học được bơm vào thân đốt sống với mục đích giảm đau, nâng chiều cao thân đốt sống, tái khôi phục đường cong sinh lý và tăng độ vững cho cột sống. Tại Bệnh viện Bắc Thăng Long phẫu thuật tạo hình thân đốt sống bằng xi măng sinh học được thực hiện hằng ngày, một cách thường quy dưới sự hỗ trợ của hệ thống máy móc hiện đại nên hình ảnh rõ nét giúp phẫu thuật viên thao tác dễ dàng, chính xác, hạn chế tai biến, biến chứng có thể xảy ra cho người bệnh. Phòng CTXH  

Những yếu tố làm tăng nguy cơ mắc rối loạn tiền đình

Rối loạn tiền đình ngày càng xuất hiện ở nhiều độ tuổi và gây ảnh hưởng rõ rệt đến sinh hoạt hằng ngày. Nhận diện sớm các yếu tố nguy cơ giúp chủ động phòng ngừa và hạn chế biến chứng Rối loạn tiền đình là gì? Rối loạn tiền đình thường gặp ở người cao tuổi, nhưng ngày càng có xu hướng trẻ hóa, xuất hiện ở mọi lứa tuổi và phổ biến hơn ở người trưởng thành. Nếu không được điều trị sớm, bệnh có thể gây nhiều biến chứng, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống. Rối loạn tiền đình là tình trạng quá trình truyền dẫn và tiếp nhận thông tin của hệ tiền đình bị rối loạn hoặc tắc nghẽn do tổn thương dây thần kinh số 8, động mạch nuôi dưỡng não, hoặc các tổn thương khác tại tai trong và não. Khi đó tiền đình mất khả năng giữ thăng bằng, gây loạng choạng, hoa mắt, chóng mặt, ù tai, buồn nôn… Những triệu chứng này tái diễn nhiều lần và thường xuất hiện đột ngột, gây khó chịu và cản trở sinh hoạt, lao động của người bệnh. Hai yếu tố chính làm tăng nguy cơ mắc bệnh là tuổi tác và tiền sử bệnh. Rối loạn tiền đình có thể gặp ở mọi độ tuổi, nhưng tỷ lệ ở người cao tuổi cao hơn. Theo dữ liệu y tế, trong 100 người từ 40 tuổi trở lên, có khoảng 30 người mắc rối loạn tiền đình. Hiện nay, do ảnh hưởng của môi trường và khí hậu, số người trẻ xuất hiện triệu chứng rối loạn tiền đình cũng đang tăng. Những người từng có tiền sử chóng mặt có nguy cơ cao phát triển rối loạn tiền đình về sau.Hai loại rối loạn tiền đình Rối loạn tiền đình ngoại biên: xuất phát từ tổn thương hệ tiền đình ở vùng tai trong. Triệu chứng thường rầm rộ với chóng mặt, mất thăng bằng nhưng ít nguy hiểm đến tính mạng. Đây là nhóm bệnh phổ biến nhất. Rối loạn tiền đình trung ương: do tổn thương nhân tiền đình tại thân não hoặc tiểu não. Nhóm bệnh này ít gặp hơn nhưng nguy hiểm hơn. Yếu tố gây rối loạn tiền đình Rối loạn tiền đình ngoại biên Viêm thần kinh tiền đình hoặc viêm tai trong: do nhiễm virus hoặc vi khuẩn. Chấn thương vùng đầu hoặc cột sống cổ: ảnh hưởng đến dây thần kinh và tuần hoàn, gây tổn thương hệ tiền đình. Rối loạn chuyển hóa như đái tháo đường, rối loạn lipid máu, suy giáp. Tác dụng phụ của thuốc: một số thuốc như aminoglycoside, thuốc an thần, thuốc giảm đau thần kinh có thể tác động đến tai trong. Yếu tố tâm lý: căng thẳng, lo âu, trầm cảm có thể làm nặng thêm triệu chứng. Mất ngủ, làm việc quá sức, thay đổi thời tiết: khiến cơ thể suy nhược và ảnh hưởng hoạt động thần kinh – tuần hoàn. U dây thần kinh số 8. Viêm tai giữa cấp hoặc mạn tính. Nguyên nhân rối loạn tiền đình trung ương Đột quỵ não (đặc biệt vùng cầu não, tiểu não hoặc chẩm). U não. Hạ huyết áp tư thế. Hội chứng Wallenberg. Giang mai thần kinh. Xơ cứng rải rác. Thiếu máu tuần hoàn não. Đau đầu migraine. Những người có nguy cơ cao mắc rối loạn tiền đình Rối loạn tiền đình có thể gặp ở nhiều nhóm tuổi, nhưng một số đối tượng có nguy cơ cao hơn do đặc điểm sức khỏe, lối sống hoặc tính chất công việc: 1. Người trung niên và cao tuổi Tuần hoàn máu kém và thoái hóa hệ thần kinh – tiền đình theo tuổi. Nguy cơ đột quỵ cao, dẫn đến rối loạn tiền đình trung ương. 2. Người mắc bệnh nền mạn tính Tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu ảnh hưởng tuần hoàn và tai trong. Thoái hóa đốt sống cổ gây chèn ép mạch máu lên não, dễ dẫn đến hội chứng tiền đình. 3. Người bị viêm tai, chấn thương đầu hoặc tai Gây tổn thương hệ tiền đình ngoại biên. 4. Người làm việc căng thẳng, ít vận động, rối loạn giấc ngủ Stress kéo dài làm tăng cortisol, góp phần gây bệnh tim mạch, tăng huyết áp, đái tháo đường và tổn thương hệ thần kinh, trong đó có dây thần kinh số 8. 5. Phụ nữ, đặc biệt giai đoạn tiền mãn kinh hoặc mãn kinh Thay đổi nội tiết tố, tuần hoàn và tâm lý khiến nguy cơ rối loạn tiền đình cao hơn. 6. Phụ nữ mang thai Ốm nghén, chán ăn dẫn đến thiếu dinh dưỡng; tâm lý thay đổi, lo lắng khiến thai phụ dễ chóng mặt, choáng váng và xuất hiện triệu chứng rối loạn tiền đình. Tóm lại: Rối loạn tiền đình có thể ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống nếu không được phòng ngừa và điều trị đúng cách. Để giảm nguy cơ mắc bệnh và ngăn ngừa tái phát, cần: Duy trì lối sống lành mạnh: ngủ đủ giấc, ăn uống đầy đủ dinh dưỡng, uống đủ nước, tập thể dục đều đặn. Kiểm soát tốt bệnh lý nền: điều trị ổn định tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, thoái hóa cột sống cổ. Khám sức khỏe định kỳ để phát hiện sớm vấn đề ảnh hưởng đến hệ tiền đình. Quản lý stress: tránh lo âu kéo dài, thư giãn qua đọc sách, nghe nhạc, thiền… Tránh thay đổi tư thế đột ngột: ngồi dậy từ từ, hạn chế xoay đầu nhanh, chú ý khi lên xuống cầu thang, tránh đọc báo trên xe. Hạn chế môi trường gây kích thích tiền đình: tránh tàu xe dài giờ, tránh tiếng ồn, ánh sáng chớp nháy hoặc sử dụng máy tính liên tục mà không nghỉ. Tập phục hồi tiền

WHO ban hành hướng dẫn toàn cầu đầu tiên về sử dụng thuốc GLP-1 trong điều trị béo phì

Trước gánh nặng béo phì ảnh hưởng hơn 1 tỷ người, WHO lần đầu ban hành hướng dẫn toàn cầu về sử dụng thuốc chủ vận GLP-1 trong điều trị béo phì như một bệnh mạn tính. Tổ chức nhấn mạnh việc dùng thuốc phải đi kèm chăm sóc toàn diện, đảm bảo tiếp cận công bằng và chuẩn bị hệ thống y tế. 1. Béo phì – thách thức sức khỏe toàn cầu ngày càng gia tăng Béo phì đang ảnh hưởng đến người dân ở mọi quốc gia và là nguyên nhân liên quan tới 3,7 triệu ca tử vong trên toàn thế giới chỉ riêng năm 2024. Nếu không có biện pháp ứng phó mạnh mẽ, số người mắc béo phì có thể tăng gấp đôi vào năm 2030. WHO đánh giá béo phì là một bệnh lý mạn tính phức tạp, làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch, tiểu đường type 2, một số ung thư và làm giảm hiệu quả điều trị của nhiều bệnh truyền nhiễm. Bên cạnh gánh nặng sức khỏe, chi phí kinh tế toàn cầu do béo phì được dự báo đạt 3 nghìn tỷ USD mỗi năm vào năm 2030. Trong bối cảnh nhiều quốc gia yêu cầu hỗ trợ kỹ thuật, WHO đã phát triển hướng dẫn toàn cầu nhằm định hình cách tiếp cận thống nhất, khoa học trong điều trị béo phì — đặc biệt là vai trò của thuốc chủ vận GLP-1. 2. Hướng dẫn mới: Thuốc GLP-1 được khuyến nghị sử dụng cho điều trị béo phì lâu dài Đây là lần đầu tiên WHO ban hành hướng dẫn chính thức về sử dụng liệu pháp GLP-1 trong điều trị béo phì. Trước đó, tháng 9/2025, các thuốc này đã được bổ sung vào Danh mục Thuốc thiết yếu để kiểm soát đái tháo đường type 2 ở nhóm nguy cơ cao. Trong hướng dẫn, WHO đưa ra hai khuyến nghị có điều kiện quan trọng: 1. GLP-1 có thể sử dụng cho người lớn mắc béo phì, trừ phụ nữ mang thai Các thuốc như liraglutide, semaglutide và tirzepatide được chứng minh mang lại hiệu quả giảm cân, cải thiện chuyển hóa và giảm nguy cơ biến chứng. Tuy nhiên, khuyến nghị vẫn có điều kiện do: Dữ liệu an toàn và hiệu quả lâu dài còn hạn chế Chi phí thuốc hiện vẫn cao Hệ thống y tế nhiều nước chưa sẵn sàng triển khai rộng rãi Lo ngại về công bằng trong tiếp cận dịch vụ 2. Người dùng GLP-1 nên được kết hợp can thiệp hành vi chuyên sâu WHO nhấn mạnh các biện pháp can thiệp có cấu trúc về dinh dưỡng, thay đổi hành vi và tăng cường hoạt động thể chất có thể mang lại kết quả điều trị tốt hơn. Điều này dựa trên bằng chứng tuy có độ tin cậy thấp nhưng mang ý nghĩa thực hành quan trọng. Tiến sĩ Tedros Adhanom Ghebreyesus, Tổng Giám đốc WHO, khẳng định: “Chỉ dùng thuốc sẽ không thể giải quyết cuộc khủng hoảng béo phì toàn cầu. Liệu pháp GLP-1 là một phần của chiến lược chăm sóc toàn diện, giúp hàng triệu người vượt qua bệnh lý mạn tính này”. 3. Ba trụ cột để giải quyết béo phì bền vững Hướng dẫn của WHO nhấn mạnh béo phì không chỉ là vấn đề y tế cá nhân mà là thách thức của toàn xã hội. Việc kiểm soát bền vững đòi hỏi chiến lược đa ngành, với ba trụ cột chính: 1. Tạo môi trường sống lành mạnh hơn:Quốc gia cần thực thi các chính sách mạnh mẽ để thúc đẩy ăn uống lành mạnh, giảm thực phẩm không tốt cho sức khỏe, khuyến khích hoạt động thể chất và phòng ngừa béo phì ngay từ cộng đồng. 2. Bảo vệ nhóm nguy cơ cao:Sàng lọc sớm, can thiệp có mục tiêu và chăm sóc liên tục giúp hạn chế tiến triển của béo phì và giảm biến chứng. 3. Đảm bảo tiếp cận dịch vụ chăm sóc trọn đời, lấy con người làm trung tâm: Người bệnh béo phì cần được điều trị toàn diện, từ tư vấn dinh dưỡng, hỗ trợ tâm lý đến dùng thuốc và theo dõi lâu dài. 4. Thách thức trong triển khai: Giá thuốc, khả năng chi trả và tính công bằng Nhu cầu GLP-1 tăng mạnh dẫn đến nguy cơ bất bình đẳng y tế nếu không có chính sách phù hợp. WHO cảnh báo: Nếu không mở rộng sản xuất, tới năm 2030 chỉ dưới 10% người cần thuốc có thể tiếp cận. Chi phí cao có thể khiến nhiều quốc gia thu nhập thấp – trung bình đứng ngoài cuộc. Hệ thống y tế nhiều nước còn thiếu nhân lực, năng lực giám sát và cơ chế chi trả cho nhóm thuốc mới. WHO kêu gọi cộng đồng quốc tế “hành động khẩn cấp”, thúc đẩy: Mua sắm chung Định giá theo từng bậc Cấp phép tự nguyện Tăng sản xuất, đảm bảo chuỗi cung ứng 5. Nguy cơ sản phẩm GLP-1 giả và kém chất lượng Nhu cầu tăng nhanh của thuốc GLP-1 đã kéo theo sự xuất hiện của sản phẩm giả, kém chất lượng, tạo ra rủi ro nghiêm trọng cho người bệnh. WHO nhấn mạnh cần: Kê đơn và phân phối nghiêm ngặt bởi nhân viên y tế có chuyên môn Tăng cường giám sát dược Giáo dục bệnh nhân về dùng thuốc an toàn Hợp tác quốc tế để ngăn chặn thuốc giả WHO khuyến cáo các quốc gia phải cảnh giác cao độ để bảo vệ bệnh nhân và duy trì niềm tin vào hệ thống y tế. Hướng dẫn được xây dựng dựa trên phân tích sâu các bằng chứng và ý kiến của nhiều bên liên quan, bao gồm cả người có trải nghiệm thực tế với béo phì. Đây là một phần trong kế hoạch đẩy nhanh tiến độ chấm dứt tình

‘Thủ phạm’ đứng sau những ca đột quỵ

Tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu hay tiểu đường tiến triển lặng lẽ khiến nhiều người tưởng mình khỏe mạnh nhưng thực tế lại đứng trước nguy cơ đột quỵ bất cứ lúc nào… Người đàn ông 30 tuổi vốn quen với những cơn đau đầu âm ỉ sau mỗi ngày làm việc căng thẳng. Anh vẫn thường xoa thái dương, tự trấn an “chắc do áp lực”. Cho đến một đêm tháng 10, khi đang chạy trên sân bóng, mọi thứ bỗng chao đảo, nửa thân phải trở nên nặng trịch. Anh đổ sụp xuống mặt sân trong sự hốt hoảng của đồng đội. Ở khoa Cấp cứu, các bác sĩ nhanh chóng đánh giá tình trạng. Những dấu hiệu chóng mặt dữ dội, thất điều nửa người phải cùng huyết áp tăng vọt tới 200/100 mmHg khiến họ nghĩ ngay đến đột quỵ. Bệnh nhân được đưa đi chụp MRI ngay trong đêm. Ê-kíp cấp cứu lập tức dùng thuốc tiêu sợi huyết. Các bác sĩ chỉ ra yếu tố nguy cơ lớn nhất là tăng huyết áp. Những cơn đau đầu trước đó chính là dấu hiệu rõ nhất. Tại Hội nghị Liên minh Đột quỵ Toàn cầu 2025, GS.TS Trần Văn Thuấn, Thứ trưởng Y tế, nhấn mạnh đột quỵ hiện đã vượt cả ung thư và tim mạch, trở thành nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở Việt Nam. Và người đàn ông trẻ này chỉ là một trong rất nhiều trường hợp mang bệnh nền mà không hay biết, để rồi trả giá bằng phút giây cận kề sinh tử. Yếu tố nền âm thầm dẫn đường cho đột quỵ Trên bản đồ đột quỵ toàn cầu, Việt Nam hiện lên với gam màu đỏ đậm, nằm trong nhóm các quốc gia có gánh nặng đột quỵ ở mức cao nhất. Tỷ lệ mắc ước tính hơn 218 ca trên 100.000 dân, đồng nghĩa mỗi năm, hơn 200.000 người Việt phải nhập viện vì cơn tai biến đến bất ngờ. Đột quỵ đã trở thành nguyên nhân tử vong hàng đầu tại Việt Nam, đưa nước ta vào nhóm có tỷ lệ mắc đứng đầu khu vực Đông Nam Á. Đằng sau những con số ngày càng tăng, theo PGS.TS Nguyễn Huy Thắng, Trưởng khoa Bệnh lý mạch máu não, Bệnh viện Nhân Dân 115, Phó chủ tịch Hội Đột quỵ Việt Nam, là cả quá trình âm thầm tích tụ của nhiều yếu tố nguy cơ mà người bệnh thường không hay biết. Nhiều người nghĩ mình khỏe mạnh, nhưng lại mang trong người những bệnh lý nền tiến triển lặng lẽ. “Gần 90% ca đột quỵ có liên quan đến ít nhất một bệnh nền”, ông nói. Trong số đó, tăng huyết áp luôn đứng đầu danh sách. Hiệp hội Tim mạch Mỹ nhấn mạnh rằng hầu hết bệnh nhân bị đột quỵ lần đầu đều có huyết áp cao. Tăng huyết áp kéo dài làm tổn thương lớp nội mạc mạch máu, khiến thành mạch yếu đi, dễ nứt vỡ hoặc bị bồi lấp bởi mảng xơ vữa và cục máu đông. Khi những tổn thương này xảy ra ở hệ mạch máu não, nguy cơ đột quỵ tăng. Các thống kê quốc tế củng cố nhận định này. Một phân tích trên tạp chí Stroke của Hiệp hội Tim mạch Mỹ ghi nhận hơn 70% bệnh nhân đột quỵ cấp nhập viện có tiền sử tăng huyết áp. Tỷ lệ này còn cao hơn ở châu Á. Dữ liệu từ hệ thống China National Stroke Registry cho thấy 80-90% người bệnh đột quỵ, đặc biệt trong nhóm xuất huyết não, đều sống chung với tăng huyết áp. Một yếu tố nguy cơ khác không kém phần đáng lo, theo PGS Nguyễn Huy Thắng, là rối loạn lipid máu. Khi LDL hay “cholesterol xấu” tăng cao, quá trình xơ vữa diễn ra nhanh hơn, lòng mạch hẹp dần, dòng máu di chuyển qua khu vực tổn thương dễ tạo xoáy và hình thành cục máu đông. Những cảnh báo này được phản ánh rõ trong dữ liệu thực tế. Trong nghiên cứu “Dyslipidemia among Patients with Ischemic Stroke” tại Nepal, rối loạn lipid xuất hiện với tỷ lệ rất cao. 80% trong số 150 bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não mắc ít nhất một dạng bất thường mỡ máu. Hơn một nửa có cholesterol toàn phần và triglyceride tăng, 45% tăng LDL. Trong vô số yếu tố nguy cơ dẫn đến đột quỵ, đái tháo đường lại là tình trạng dễ bị lãng quên nhất. Hiệp hội Đột quỵ Mỹ cho biết đường huyết tăng cao kéo dài khiến máu trở nên “đặc” và kém linh hoạt hơn, từ đó làm chậm dòng chảy và hạn chế khả năng đưa oxy, dưỡng chất lên não. Đáng lưu ý, tăng huyết áp lại xuất hiện rất phổ biến ở người mắc tiểu đường, và chính sự kết hợp thầm lặng này khiến nguy cơ đột quỵ ở nhóm bệnh nhân tiểu đường luôn cao hơn rõ rệt so với người không mắc bệnh. Dự phòng đột quỵ Trong dự phòng đột quỵ, yếu tố quyết định không chỉ nằm ở phác đồ điều trị hay kỹ thuật can thiệp, mà bắt đầu từ chính sự chủ động của mỗi người. Dự phòng đột quỵ chỉ thật sự hiệu quả khi người bệnh chủ động tham gia vào quá trình chăm sóc sức khỏe của chính mình. Theo ThS.BS Lê Thanh Khôi, Trưởng hội đồng chuyên môn Y khoa, Hệ thống nhà thuốc và Trung tâm tiêm chủng Long Châu, Với những người đã có bệnh nền, việc tuân thủ điều trị, kiểm soát các yếu tố nguy cơ và tái khám đúng hẹn không chỉ là khuyến cáo mà là yêu cầu bắt buộc. “Bác sĩ có thể rất tâm huyết, cẩn trọng, nhưng nếu người bệnh không tự bảo vệ mình thì rất khó kiểm soát được nguy cơ”, ông chia sẻ. Song song với điều trị, bác sĩ Khôi nhấn

Đặt Lịch Khám

    Đặt Lịch Khám