BỆNH VIỆN BẮC THĂNG LONG
BAC THANG LONG HOSPITAL

(84) 889 615 815

Email: thugopy.bvbtl@gmail.com

Hoạt Động Nghiên Cứu

Tư Vấn Sức Khoẻ

Xử trí đúng cách bệnh da do côn trùng

Vào thời điểm cuối xuân, đầu hè, khi nhiệt độ tăng cao và độ ẩm không khí lớn, các bệnh da do côn trùng cũng có xu hướng gia tăng. Nhiều trường hợp, các tổn thương da do côn trùng có thể gây viêm nhiễm, dị ứng kéo dài, thậm chí dẫn đến biến chứng nếu không được xử trí đúng cách. Dấu hiệu nhận biết bệnh da do côn trùng Không ít người gặp phải tình trạng da nổi sẩn đỏ, ngứa rát sau khi bị côn trùng đốt nhưng thường chủ quan, Tuy nhiên, bệnh da do côn trùng không thể chủ quan vì đây là tình trạng tổn thương da xảy ra khi da tiếp xúc với nọc độc, dịch tiết hoặc chất gây dị ứng từ các loài côn trùng. Tổn thương da do côn trùng thường xuất hiện tại những vùng da hở như tay, chân, cổ hoặc vùng quanh cạp quần – nơi quần áo ít che phủ. Biểu hiện thường gặp là các sẩn đỏ nhỏ có kích thước khoảng 3 – 5 mm. Ở trung tâm sẩn đôi khi có mụn nước nhỏ, gọi là sẩn huyết thanh. Các tổn thương này thường gây ngứa nhiều, đặc biệt vào ban đêm. Trong nhiều trường hợp, nếu người bệnh gãi nhiều, các sẩn có thể trở nên dày và cứng hơn, hình thành các sẩn cục. Da vùng tổn thương có thể bị trầy xước, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập và gây nhiễm trùng thứ phát. Một số dấu hiệu thường gặp gồm: Xuất hiện sẩn đỏ hoặc mụn nước trên da. Ngứa nhiều, đặc biệt vào ban đêm. Da có thể sưng nhẹ tại vị trí bị đốt. Tổn thương thường xuất hiện thành từng cụm hoặc theo hàng. Có thể để lại vết thâm sau khi lành. Đối với những người có cơ địa dị ứng, phản ứng da có thể mạnh hơn với biểu hiện sưng to, nổi mề đay hoặc viêm da lan rộng. Xử trí tổn thương da do côn trùng Phần lớn các trường hợp bệnh da do côn trùng đốt có thể tự khỏi sau vài ngày. Tuy nhiên, người bệnh nên đi khám nếu xuất hiện các dấu hiệu sau: Ngứa nhiều kéo dài nhiều ngày không giảm; Vùng da bị đốt sưng to, đau hoặc chảy dịch; Xuất hiện dấu hiệu nhiễm trùng như mủ, đỏ lan rộng; Nổi mề đay toàn thân hoặc khó thở (nghi ngờ dị ứng nặng). Đặc biệt, trẻ nhỏ thường có xu hướng gãi nhiều khi bị ngứa, dễ làm tổn thương da và tăng nguy cơ nhiễm trùng. Việc điều trị bệnh da do côn trùng chủ yếu nhằm giảm ngứa, giảm viêm và ngăn ngừa nhiễm trùng. Đối với các trường hợp nhẹ, người bệnh có thể sử dụng kem hoặc thuốc mỡ chứa corticoid bôi lên vùng da tổn thương để giảm viêm và giảm ngứa. Tuy nhiên, các loại thuốc này cần được sử dụng đúng hướng dẫn của bác sĩ. Ngoài ra, thuốc kháng histamin đường uống có thể được sử dụng để giảm ngứa, đặc biệt trong trường hợp ngứa nhiều hoặc có phản ứng dị ứng. Trong trường hợp tổn thương bị nhiễm trùng do gãi nhiều, bác sĩ có thể chỉ định thêm thuốc kháng sinh bôi hoặc uống. Một lưu ý quan trọng là người bệnh không nên gãi hoặc chà xát mạnh lên vùng da tổn thương, vì điều này có thể làm vết thương lan rộng và lâu lành hơn. Cách phòng tránh bệnh da do côn trùng Phòng bệnh luôn là biện pháp quan trọng để hạn chế nguy cơ mắc các bệnh da do côn trùng. Người dân có thể áp dụng một số biện pháp sau: Mặc quần áo bảo vệ Khi đi ra ngoài, đặc biệt là vào buổi tối hoặc ở những nơi có nhiều cây cối, nên mặc quần áo dài tay và chít gấu quần để hạn chế côn trùng tiếp xúc với da. Sử dụng thuốc chống côn trùng Các loại thuốc bôi hoặc xịt chống côn trùng có thể giúp xua đuổi muỗi và các loài côn trùng khác. Một số sản phẩm phổ biến có thể được sử dụng như DEP, Soffell, Remos hoặc các sản phẩm chứa hoạt chất xua côn trùng an toàn. Giữ vệ sinh môi trường sống Côn trùng thường sinh sống ở những nơi ẩm thấp, nhiều rác thải hoặc có vật nuôi. Vì vậy, cần giữ nhà cửa sạch sẽ, thông thoáng, thường xuyên giặt chăn ga gối đệm và vệ sinh nơi ngủ. Đối với gia đình nuôi chó mèo, cần tắm rửa và kiểm tra ký sinh trùng thường xuyên cho vật nuôi, tránh để bọ nhảy hoặc rệp lây sang người. Hạn chế ánh sáng thu hút côn trùng Nhiều loài côn trùng bị thu hút bởi ánh sáng vào ban đêm. Vì vậy, nên sử dụng lưới chống côn trùng hoặc màn khi ngủ để giảm nguy cơ bị côn trùng đốt. Không gãi khi bị côn trùng đốt Khi bị côn trùng đốt, nên rửa sạch vùng da bằng nước và xà phòng, sau đó có thể chườm lạnh để giảm ngứa. Việc gãi mạnh có thể làm tổn thương da và tăng nguy cơ nhiễm trùng. Tóm lại: Tổn thương da do côn trùng đốt là vấn đề thường gặp. Mặc dù phần lớn các tổn thương da do côn trùng gây ra đều lành tính, nhưng nếu không được chăm sóc đúng cách, chúng có thể gây viêm nhiễm, để lại sẹo hoặc vết thâm trên da. Trong bối cảnh thời tiết nóng ẩm kéo dài, việc chủ động phòng tránh côn trùng, giữ vệ sinh môi trường sống và nhận biết sớm các dấu hiệu tổn thương da là yếu tố quan trọng giúp bảo vệ sức khỏe cho bản thân và gia đình. Nếu các tổn thương da kéo dài hoặc có

Vaccine ung thư: Hiểu đúng để không kỳ vọng sai

Thông tin về “vaccine ung thư” đang thu hút sự quan tâm của nhiều người. Tuy nhiên, các bác sĩ khuyến cáo cần hiểu đúng bản chất loại vaccine này để tránh hiểu lầm và kỳ vọng quá mức. Bệnh viện Hữu Nghị vừa tiếp nhận một trường hợp bệnh nhân nam 70 tuổi. Bệnh nhân không có triệu chứng gì đặc biệt, được thực hiện nội soi đại tràng để tầm soát ung thư đại trực tràng. Rất may, trong quá trình nội soi đã phát hiện polyp. Bệnh nhân được tiến hành cắt hớt – một kỹ thuật nội soi tiêu hóa. Trường hợp này nếu giải phẫu bệnh polyp cho kết quả là ung thư, thì việc điều trị cũng chỉ cần phẫu thuật là đủ. Bác sĩ khuyến cáo ngoài việc tiêm phòng vaccine ung thư cho một số chỉ định, người dân vẫn nên chủ động phòng tránh ung thư bằng cách duy trì lối sống lành mạnh và khám sức khỏe định kỳ nhằm phát hiện sớm ung thư qua tầm soát. Ca bệnh phát hiện ra polyp nhờ tầm soát ung thư đại trực tràng. Bệnh viện Hữu Nghị cũng vừa có buổi làm việc với đoàn công tác của Trung tâm Ung thư Napalkov (Liên bang Nga). Buổi làm việc này nhận được nhiều sự quan tâm của bệnh nhân, với nguyện vọng được tham gia các thử nghiệm lâm sàng. Trong thời gian gần đây, thông tin một số trung tâm nghiên cứu quốc tế, trong đó có các trung tâm của Liên bang Nga, đang tiến hành các thử nghiệm liên quan đến loại vaccine này. Tuy nhiên, để hiểu đúng, cần phân biệt rõ hai khái niệm: vaccine phòng ngừa ung thư và vaccine điều trị ung thư. Vaccine phòng ngừa ung thư là gì? Một số loại vaccine hiện nay có thể ngăn ngừa virus gây ung thư, ví dụ: Vaccine HPV giúp phòng ung thư cổ tử cung, hậu môn, hầu họng… Vaccine viêm gan B giúp giảm nguy cơ ung thư gan. Những loại vaccine này không ngăn chặn trực tiếp tế bào ung thư, mà ngăn virus gây ra quá trình dẫn đến sự hình thành ung thư. Đây là dạng vaccine phòng bệnh, tương tự như vaccine cúm hay sởi. Vaccine có vai trò nhất định trong phòng một số loại ung thư. Ảnh minh họa. Vaccine điều trị ung thư là gì? Đây là lĩnh vực nghiên cứu mới, trong đó các nhà khoa học tìm cách kích hoạt hệ miễn dịch của cơ thể để tấn công các tế bào ung thư đã hình thành. Tuy nhiên, đa số vaccine điều trị vẫn đang ở giai đoạn thử nghiệm lâm sàng, hiệu quả còn hạn chế và chưa được ứng dụng rộng rãi. Do vậy, vaccine không thể thay thế lối sống lành mạnh và tầm soát ung thư. Hiện nay chưa có loại vaccine nào giúp con người “tránh bị ung thư” nói chung. Cách phòng ngừa ung thư hiệu quả nhất vẫn là sống lành mạnh: Không hút thuốc, hạn chế rượu bia. Duy trì cân nặng hợp lý, ăn nhiều rau xanh và trái cây. Tập thể dục đều đặn, ngủ đủ giấc, hạn chế căng thẳng, stress. Khám sức khỏe định kỳ và tầm soát ung thư theo khuyến cáo của bác sĩ. Như vậy, vaccine có vai trò nhất định trong phòng một số loại ung thư, nhưng chìa khóa bảo vệ sức khỏe vẫn nằm ở lối sống lành mạnh và khám sức khỏe định kỳ phát hiện sớm ung thư qua tầm soát. https://suckhoedoisong.vn/vaccine-ung-thu-hieu-dung-de-khong-ky-vong-sai-169251005180556201.htm Đọc thêm: Miễn dịch trị liệu ung thư – bước tiến vượt bậc của y học hiện đại

Robot phẫu thuật mở hy vọng sống cho người ung thư phổi

Ung thư phổi cướp đi sinh mạng hàng triệu người toàn cầu mỗi năm, song phẫu thuật robot và những tiến bộ điều trị đang đem lại cơ hội sống cao hơn cho các bệnh nhân. Tại Việt Nam, ung thư phổi là nguyên nhân tử vong do ung thư cao thứ hai sau ung thư gan, với khoảng 22.500 ca tử vong mỗi năm, chiếm gần 19% tổng số. Dù các phương pháp điều trị đã có nhiều tiến bộ, thực tế cho thấy đa số bệnh nhân được chẩn đoán ở giai đoạn muộn, khiến tiên lượng sống còn không cao. Tùy vào giai đoạn bệnh, bác sĩ có thể chỉ định phẫu thuật cắt bỏ khối u hoặc toàn bộ thùy phổi, hóa trị và xạ trị khi bệnh đã tiến triển. Hiện nay, điều trị nhắm trúng đích và miễn dịch đạt nhiều tiến bộ mới, mang lại cơ hội sống cho nhiều bệnh nhân giai đoạn muộn. Phòng mổ robot tại Bệnh viện Chợ Rẫy. Ảnh: Bệnh viện cung cấp “Xu hướng điều trị bằng robot ngày càng tăng, nhiều khuyến cáo xem đây là lựa chọn hàng đầu cho bệnh nhân ung thư phổi nhờ tính an toàn, hiệu quả và khả năng cải thiện chất lượng sống“, TS.BS Nguyễn Hoàng Bình, Trưởng khoa Ngoại Lồng ngực, Bệnh viện Chợ Rẫy, phát biểu tại hội nghị khoa học ngày 2/10. Theo bác sĩ Bình, phương pháp này sử dụng hình ảnh 3D phóng đại gấp 10 lần, giúp bác sĩ quan sát rõ và thao tác chính xác. Cánh tay robot có độ linh hoạt cao, không bị run tay hay vướng chạm, nhờ đó hạn chế biến chứng, giảm đau sau mổ và rút ngắn thời gian nằm viện. Phẫu thuật robot còn cho phép xử lý những ca khó như cắt trọn một bên phổi khi khối u xâm lấn phế quản, đồng thời nạo vét hạch trung thất để đánh giá chính xác giai đoạn bệnh. Việc xác định đúng giai đoạn là yếu tố then chốt giúp tiên lượng và định hướng điều trị hiệu quả hơn. Các nghiên cứu quốc tế cho thấy tỷ lệ sống sau 5 năm của bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn sớm được phẫu thuật bằng robot đạt trên 77%, giai đoạn hai là 70%. Tỷ lệ biến chứng và tử vong sau mổ chỉ dưới 3%, thấp hơn đáng kể so với các phương pháp khác. Trước đây, mổ mở là phương pháp phổ biến nhưng để lại vết mổ lớn, gây đau nhiều và đòi hỏi thời gian hồi phục lâu. Phẫu thuật nội soi ra đời sau đó tuy ít xâm lấn hơn nhưng vẫn còn hạn chế. Sự xuất hiện của phẫu thuật robot từ những năm 2000 được xem là bước tiến quan trọng trong điều trị căn bệnh này, mang lại kết quả tốt hơn cho cả người bệnh và đội ngũ y tế. TS.BS Nguyễn Hoàng Bình, Trưởng khoa Ngoại Lồng ngực, Bệnh viện Chợ Rẫy, tại hội nghị khoa học ngày 2/10. Ảnh: Bệnh viện cung cấp Các yếu tố nguy cơ chính gồm hút thuốc lá, khói thuốc thụ động, ô nhiễm không khí, tiền sử gia đình và tiếp xúc lâu dài với môi trường độc hại. Ung thư phổi khi có triệu chứng như ho, đau ngực, đau lưng… thường là ở giai đoạn muộn, phần lớn người bệnh tình cờ phát hiện nhờ khám sức khỏe định kỳ. Người bình thường nên khám sức khỏe định kỳ hàng năm, đến bác sĩ đúng chuyên khoa khi có dấu hiệu bất thường. Bệnh nhân tuân thủ điều trị, không nghe theo các phương pháp dân gian truyền miệng, bỏ lỡ thời gian vàng, dẫn đến hậu quả đáng tiếc. https://vnexpress.net/robot-phau-thuat-mo-hy-vong-song-cho-nguoi-ung-thu-phoi-4946420.html Đọc thêm: Tuổi mắc ung thư phổi ở Việt Nam trẻ hơn thế giới 10 năm Sàng lọc tầm soát – chìa khóa chiến thắng ung thư phổi

PGS.TS Nguyễn Lân Hiếu: 5 sai lầm khi dùng thuốc chống đông

‘Dùng thuốc chống đông mà ngắt quãng hay uống bù hôm sau là sai lầm nghiêm trọng nhất’, PGS.TS Nguyễn Lân Hiếu nhấn mạnh. Ông chỉ ra loạt ngộ nhận phổ biến khiến việc điều trị kém hiệu quả, thậm chí nguy hiểm. Theo PGS.TS Nguyễn Lân Hiếu, Giám đốc Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, thuốc chống đông (kháng đông) là nhóm thuốc được sử dụng phổ biến cho bệnh nhân tim mạch. Tuy nhiên, ngay cả nhiều bác sĩ chuyên khoa cũng có thể nhầm lẫn khi chỉ định và theo dõi, khiến hiệu quả điều trị giảm, thậm chí tiềm ẩn nguy hiểm cho người bệnh. Phân biệt chống đông và chống ngưng tập tiểu cầu PGS.TS Nguyễn Lân Hiếu cho biết, cần phân biệt rõ thuốc chống đông đường uống (gồm kháng Vitamin K tổng hợp và thế hệ mới – NOAC) với thuốc chống ngưng tập tiểu cầu (Aspirin, Clopidogrel, Ticagrelor). Thuốc chống đông giúp ngăn hình thành cục máu đông trong buồng tim và mạch máu, trong khi thuốc chống ngưng tập tiểu cầu hạn chế hiện tượng máu đông ở những vết nứt, vỡ thành mạch. “Có thể hình dung: thuốc chống đông “đánh thẳng” vào quá trình tạo cục máu đông, còn thuốc chống ngưng tập tiểu cầu giống như ‘lực lượng vệ sinh’ làm sạch lòng mạch. Vì thế, việc dùng thuốc chống đông phức tạp hơn rất nhiều về chỉ định, theo dõi và chỉnh liều”, ông Hiếu giải thích. Không có liều cố định cho mọi bệnh nhân Một sai lầm phổ biến là cho rằng thuốc kháng Vitamin K tổng hợp luôn bắt đầu với liều 1 mg. Thực tế, đây chỉ là thói quen kê đơn. Liều lượng cần cá thể hóa dựa trên tuổi, cân nặng, tình trạng tim mạch… Có trường hợp phải chia nhỏ đến 1/8 viên, hoặc uống xen kẽ nhiều mức liều khác nhau. “Bác sĩ càng cẩn thận dò liều thì bệnh nhân càng có cơ hội đạt hiệu quả tối ưu”, ông Hiếu nhấn mạnh. Thuốc thế hệ mới vẫn cần theo dõi Nhiều người tin rằng thuốc chống đông thế hệ mới không cần theo dõi xét nghiệm. Nguyên tắc là đúng, nhưng nếu xuất hiện các dấu hiệu bất thường như chảy máu chân răng, xuất huyết dưới da…, người bệnh vẫn cần đi khám và xét nghiệm. Thực tế đã ghi nhận nhiều ca xuất huyết nội tạng, thậm chí xuất huyết não, khởi phát từ những triệu chứng rất mơ hồ khi dùng NOAC. Chế độ ăn và thủ thuật Một hiểu lầm khác là dùng thuốc kháng đông thì tuyệt đối không ăn cải xanh. Trên thực tế, chỉ cần hạn chế thực phẩm giàu Vitamin K khi hiệu quả điều trị chưa đạt. Ngược lại, nếu chỉ số INR quá cao, bác sĩ thậm chí còn khuyên ăn thêm cải xanh để cân bằng. Bên cạnh đó, quan niệm “đang dùng thuốc chống đông thì không được làm thủ thuật như nhổ răng, đặt implant” cũng không chính xác. Trong các trường hợp này, bác sĩ có thể ngừng thuốc uống, chuyển sang tiêm thuốc chống đông ngắn hạn như Enoxaparin, sau đó dừng trước thủ thuật 12 giờ. Với phẫu thuật cấp cứu, đã có các thuốc trung hòa chuyên biệt để xử trí. Sai lầm nghiêm trọng nhất: Ngừng thuốc hoặc uống bù PGS.TS Nguyễn Lân Hiếu cảnh báo: “Nhiều bệnh nhân cho rằng thuốc chống đông có thể dùng ngắt quãng, hoặc nếu quên thì uống bù hôm sau. Đây là sai lầm nguy hiểm nhất. Khi đang dùng mà ngừng đột ngột, nguy cơ đông máu tăng vọt (thrombosis rebound). Nếu quên, tuyệt đối không được uống bù. Đây là nguyên tắc quan trọng nhất trong điều trị”. Nguyễn Hà/VOV.VN http://hibaomoi.com/pgs-ts-nguyen-lan-hieu-5-sai-lam-khi-dung-thuoc-chong-dong-c53372932.epi?zdlink=Uo9XRcHoRsba8ZeYOszjBcLmQI8i8cblSo8wUo9pOsXbRMLVTN9i8ZeYUc5iRoqsDJ4vDpaqDZOwN2zSBo8i8c5mS6ba8ZeYDZKnEJSvD3Os8drz

Biến chứng nguy hiểm hẹp van động mạch chủ và cách điều trị

Động mạch chủ là động mạch lớn nhất trong cơ thể đưa máu từ tim đi nuôi toàn bộ cơ thể. Hẹp van động mạch chủ có thể dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm đe doạ tính mạng như: suy tim, đột tử… Động mạch chủ là động mạch lớn nhất trong cơ thể đưa máu từ tim đi nuôi toàn bộ cơ thể. Van động mạch chủ là lá van ngăn cách giữa động mạch chủ và tâm thất trái. Hẹp van động mạch chủ là nguyên nhân thường gặp nhất gây tắc nghẽn đường tống máu của tâm thất trái. Biểu hiện của hẹp van động mạch chủ Nguyên nhân gây hẹp van động mạch chủ là do: thoái hoá van động mạch chủ; hẹp van động mạch chủ sau thấp tim; bệnh lý van động mạch chủ hai lá van; bệnh Paget, suy thận giai đoạn cuối… Biểu hiện kinh điển của hẹp van động mạch chủ là tam chứng: đau ngực, khó thở, ngất, thường xuất hiện khi hẹp nặng. Có thể xảy ra đột tử do rối loạn nhịp thất. Khám lâm sàng, bắt mạch sẽ thấy mạch nhỏ, nảy chậm (rõ nhất ở động mạch cảnh); nghe tim có tiếng thổi tâm thu tống máu ở phía trên bên phải xương ức, lan lên cổ, đạt cường độ cao nhất vào đầu đến giữa tâm thu. Biến chứng hẹp van động mạch chủ Hẹp van động mạch chủ có thể dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm đe doạ tính mạng: Suy tim. Rối loạn nhịp tim: rối loạn nhịp thất (Ngoại tâm thu, nhịp nhanh thất, rung thất,…), rối loạn nhịp nhĩ (Rung nhĩ hay gây ra các đợt suy tim cấp do mất cơ chế bóp bù của tâm nhĩ, giảm lưu lượng nhĩ – thất, giảm cung lượng tim). Đột tử. Tắc mạch do các mảnh vôi hóa, xơ vữa, mảnh sùi… Hội chứng vành cấp. Điều trị hẹp van động mạch chủ Điều trị hẹp van động mạch chủ gồm: Điều trị nội khoa Chưa có phương pháp điều trị nội khoa nào được chứng minh là có thể ngăn ngừa quá trình tiến triển của bệnh hay cải thiện tiên lượng bệnh. Một số thuốc (lợi tiểu, chẹn beta giao cảm, …) có thể giúp cải thiện triệu chứng của bệnh. Phẫu thuật thay van động mạch chủ cơ học hoặc sinh học Là phương pháp điều trị hiệu quả với tỷ lệ tử vong quanh phẫu thuật là 1%, biến chứng sau phẫu thuật là 1%/năm tại các trung tâm có nhiều kinh nghiệm, tuy nhiên số liệu từ những nghiên cứu sổ bộ quốc gia cho thấy tỷ lệ tử vong quanh phẫu thuật khoảng 3%. Van sinh học nên được lựa chọn cho những bệnh nhân lớn tuổi, và cũng có thể được sử dụng ở những bệnh nhân trẻ tuổi nếu muốn tránh nguy cơ huyết khối hoặc xuất huyết (ước tính khoảng 2 – 4 %/ năm). Nong van động mạch chủ bằng bóng qua da Chỉ là phương pháp điều trị thay thế tạm thời cho phẫu thuật hoặc thay van động mạch chủ qua đường ống thông đối với bệnh nhân hẹp van động mạch chủ nặng vì biến chứng xung quanh thủ thuật và tỷ lệ tái hẹp cao. Thay van động mạch chủ qua đường ống thông (TAVI) Thay van động mạch chủ qua đường ống thông là thủ thuật xâm lấn tối thiểu như một phương pháp thay thế cho phẫu thuật thay van nhân tạo đối với những bệnh nhân hẹp van động mạch chủ nặng có chỉ định thay van với chỉ định ngày càng được mở rộng. https://suckhoedoisong.vn/bien-chung-nguy-hiem-hep-van-dong-mach-chu-va-cach-dieu-tri-169250928180318394.htm

Bệnh viện Bắc Thăng Long điều trị thành công ca bệnh Whitmore

Bệnh nhân nam N.V.Q (60 tuổi), địa chỉ Sơn Đoài, xã Sóc Sơn Hà Nội, có tiền sử lạm dụng rượu, xơ gan. Cách ngày vào cấp cứu viện 2 tháng, bệnh nhân xuất hiện triệu chứng sốt cao, mệt mỏi về chiều, bệnh nhân tự uống thuốc hạ sốt thấy đỡ hơn, sau đó thỉnh thoảng sốt lại 2, 3 ngày rồi lại tự hết sốt, kèm theo mệt mỏi, chán ăn, gầy sút cân (khoảng 7,5 kg/ 2 tháng), bệnh nhân đã đi khám tại một số bệnh viện tuyến TW và được chẩn đoán: Viêm trào ngược dạ dày, tăng men gan, kê đơn thuốc điều trị tại nhà. Về nhà 1 tuần bệnh nhân đi ngoài phân lỏng 3 đến 4 lần/ ngày, sốt cao rét run, ho, mệt nhiều. Ngày 2/9/2025, bệnh nhân vào bệnh viện Bắc Thăng Long khám và điều trị. Bệnh nhân được khám và làm các xét nghiệm cận lâm sàng, cấy máu và định danh vi khuẩn và chẩn đoán xác định nhiễm khuẩn huyết do vi khuẩn Burkholderia pseudomallei (bệnh Whitmore).   Sau điều trị 5 ngày bằng kháng sinh, truyền dịch, điều trị triệu chứng, đến hiện tại bệnh nhân hết sốt, không đi ngoài, không nôn, đỡ mệt, ăn uống được. BSCKII. Nguyễn Quốc Tế, Trưởng khoa Hồi sức tích cực cho biết, bệnh Whitmore (hay còn gọi bệnh Melioidosis) là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở người và động vật do vi khuẩn Burkholderia pseudomallei gây ra. Bệnh có biểu hiện lâm sàng rất đa dạng, khó chẩn đoán và tỷ lệ tử vong cao, nhất là ở những trường hợp viêm phổi nặng, nhiễm trùng huyết và sốc nhiễm trùng. Bệnh lây truyền chủ yếu do tiếp xúc với nguồn đất, nước có chứa vi khuẩn qua các vết trầy xước ngoài da. Những người có sức đề kháng bị suy giảm, có bệnh lý nền như đái tháo đường, nghiện rượu, bệnh gan, thận, bệnh phổi mạn tính có nguy cơ mắc bệnh cao. Hiện chưa có vắc xin phòng bệnh Whitmore. Khi nghi ngờ nhiễm bệnh cần đến cơ sở y tế chuyên sâu để được tư vấn, khám, phát hiện và điều trị kịp thời. Để dự phòng bệnh, cần chú ý đảm bảo vệ sinh cá nhân, thường xuyên rửa tay với xà phòng và nước sạch; thực hiện ăn chín, uống nước đun sôi để nguội, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm; hạn chế tiếp xúc trực tiếp với đất, nước bẩn, đặc biệt tại những nơi bị ô nhiễm nặng… Phòng CTXH  

Bác sĩ chỉ dấu hiệu phân biệt giữa đột tử và đột quỵ

Đột tử và đột quỵ đều diễn tiến đột ngột, nếu không được cấp cứu kịp thời sẽ dẫn đến tử vong hoặc di chứng của thiếu oxy não kéo dài không hồi phục. Theo ThS.BS Đoàn Dư Mạnh, Thành viên Hội Bệnh mạch máu Việt Nam, điểm giống nhau giữa đột quỵ và đột tử tim là đều thấy người bệnh đột nhiên ngã quỵ và mất ý thức, nếu không được cấp cứu kịp thời sẽ dẫn đến tử vong hoặc di chứng của thiếu oxy não kéo dài không hồi phục. “Đột quỵ và đột tử tim là đều rất nguy hiểm, cần phải xử trí càng sớm càng tốt”… Bác sĩ Mạnh chỉ ra cách phân biệt bệnh nhân đột quỵ, đột tử và hướng xử trí kịp thời khi phát hiện. Dấu hiệu nhận biết Đột tử: Bệnh nhân đột ngột ôm ngực (nhiều người sau cấp cứu mô tả đau dữ dội như tảng đá đè lên ngực), ngã gục và mất ý thức rất nhanh, nếu có kiến thức nghe tim hoặc bắt mạch cảnh mạch bẹn thấy mất mạch. Dấu hiệu của đột tử là bệnh nhân đột ngột ôm ngực, ngã gục và mất ý thức rất nhanh. Hình minh họa Đột quỵ não: Bệnh nhân có thể đau đầu dữ dội hoặc nói khó, méo miệng, yếu hoặc mất cảm giác 1/2 người. Một số trường hợp còn đại tiểu tiện không tự chủ, sau đó ngất, rồi đến mất ý thức, nếu phát hiện sớm kiểm tra tim và mạch vẫn còn đập, muộn có thể thấy mất mạch, ngừng tim. Nguyên nhân Đột tử: Tim ngừng đột ngột 2/3 từ nhồi máu cơ tim do xơ vữa mạch vành, ngoài ra do các bệnh như viêm cơ tim, huyết khối trong tim, shock tim, rung thất, các bất thường điện tim hội chứng Brugada, block nhĩ thất… Đột quỵ não: 2/3 từ nhồi máu não huyết khối gây tắc mạch não do xơ vữa mạch bong ra trôi lên não, gây tắc hoặc huyết khối từ tim văng lên gây tắc mạch. 1/3 từ xuất huyết não do huyết áp tăng đột ngột, làm vỡ túi phình mạch não có từ trước gây xuất huyết. Các triệu chứng chính Đột tử: Diễn biến cực nhanh, đau ngực như mô tả ở trên, khó thở, mất ý thức, mất mạch tim rất nhanh. Đột quỵ: Nhận diện nhanh các triệu chứng điển hình của đột quỵ thông qua nguyên tắc F.A.S.T: – Méo miệng (Face Drooping – F): Méo miệng một bên, biểu hiện rõ nhất khi cười, nhe răng, đôi khi có cảm giác tê một bên mặt. – Yếu liệt tay chân (Arm weakness – A): Một bên tay chân yếu, liệt hay mất cảm giác; tay rơi xuống khi được yêu cầu đưa lên cao, một tay rơi xuống. – Ngôn ngữ bất thường (Speech difficulty – S): Không thể nói, không thể hiểu lời nói. Có thể yêu cầu người bệnh lặp lại một câu nói đơn giản để xem họ có thể lặp lại được hay không. – Thời gian (Timing – T): Thời gian là sự sống còn của não, vì vậy bệnh nhân cần được đưa đến cơ sở y tế sớm nhất. Tri giác có thể bất thường, nhưng kiểm tra tim vẫn còn đập, mạch còn nảy. Cơ quan tổn thương Đột tử: Ảnh hưởng toàn bộ cơ thể do tim ngừng đập, mất cấp máu đến toàn bộ cơ thể. Đột quỵ: Bị ảnh hưởng 1/2 cơ thể như méo miệng một bên, yếu liệt một bên trái hoặc phải cơ thể, đương nhiên kéo dài cũng bị toàn bộ và tử vong. Xử trí Đột tử: Cần lập tức ép tim cấp cứu, song song với gọi 115, hồi sinh tim phổi càng sớm càng tốt. Quá 5′ não thiếu oxy sẽ tổn thương không phục hồi. Đột quỵ: Gọi 115 càng sớm càng tốt, đến cơ sở chuyên khoa có đơn vị đột quỵ cấp cứu trong thời gian “vàng” (< 6 tiếng) càng sớm càng tốt, nếu mất mạch tim mới ép tim trong quá trình đợi 115. Tỷ lệ tử vong Đột tử: Rất cao, lên đến hơn 90%. Đột quỵ: Nếu không cấp cứu kịp cũng có nguy cơ tử vong cao, nhưng thấp hơn đột tử. Phòng ngừa Đột tử: Cần có lối sống lành mạnh, tập thể thao, bỏ thuốc lá, bỏ rượu bia, giảm cân nếu thừa cân, kiểm soát huyết áp, rối loạn lipid máu, tiểu đường, kiểm tra sức khoẻ định kỳ, đặc biệt chú ý vấn đề tim mạch: điện tim, siêu âm tim, chụp mạch vành nếu có nguy cơ cao hoặc tiền sử hẹp mạch vành bằng DSA, CT Photon. Đột quỵ: Kiểm soát lối sống (tương tự phòng ngừa đột tử), kiểm tra sức khoẻ định kỳ, đặc biệt ở người có nguy cơ cao hoặc tiền sử từng đột quỵ: điện tim, siêu âm tim, siêu âm mạch cảnh, chụp mạch não bằng MRI hoặc CT Photon. Lưu ý thêm, cả hai tình trạng đều cần được cấp cứu ngay lập tức. Quy tắc F.A.S.T giúp nhận biết đột quỵ não nhanh chóng. Với đột tử tim, triệu chứng đau ngực và ngất xỉu là dấu hiệu cần hành động ngay. Đặc biệt, không nhầm lẫn với trúng gió (đi cạo gió) hoặc cấp cứu theo kiểu truyền miệng như chích máu đầu ngón tay. https://daibieunhandan.vn/bac-si-chi-dau-hieu-phan-biet-giua-dot-tu-va-dot-quy-10383093.html

282 bệnh được nghỉ ốm đau dài ngày theo quy định mới

Người lao động tham gia BHXH khi mắc một số bệnh nhất định sẽ được xem là trường hợp cần điều trị dài ngày và được nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau theo quy định của pháp luật. Theo Luật BHXH năm 2024, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, chế độ ốm đau dài ngày đã có sự thay đổi. Người lao động sẽ không còn được hưởng trọn vẹn 180 ngày nghỉ như trước đây. Thay vào đó, thời gian nghỉ và mức hưởng được điều chỉnh phù hợp với điều kiện làm việc và thời gian tham gia BHXH của người lao động. Cụ thể, tại khoản 2 Điều 43, khoản 3 Điều 45 Luật BHXH năm 2024 quy định, trong trường hợp, người lao động đã hết thời hạn hưởng chế độ ốm đau trong năm theo quy định, mà vẫn tiếp tục điều trị thì người lao động nghỉ việc do mắc bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày (do Bộ Y tế ban hành) được hưởng tiếp chế độ ốm đau dài ngày. Mức hưởng trợ cấp ốm đau dài ngày được tính như sau: Nếu người lao động đã đóng BHXH bắt buộc từ đủ 30 năm trở lên: Mức trợ cấp ốm đau sẽ bằng 65% tiền lương làm căn cứ đóng BHXH. Nếu thời gian đóng BHXH từ đủ 15 năm đến dưới 30 năm: Mức trợ cấp ốm đau sẽ bằng 55% tiền lương làm căn cứ đóng BHXH. Nếu thời gian đóng BHXH dưới 15 năm: Mức trợ cấp ốm đau sẽ bằng 50% tiền lương làm căn cứ đóng BHXH. Thời gian nghỉ hưởng chế độ ốm đau được tính theo ngày làm việc, không bao gồm ngày nghỉ lễ, Tết và ngày nghỉ hằng tuần. Danh mục 282 bệnh cần chữa trị dài ngày Thông tư số 25/2025/TT-BYT ngày 30/6/2025 của Bộ Y tế quy định chi tiết thi hành Luật BHXH, Luật An toàn, vệ sinh lao động về lĩnh vực y tế và một số điều của Luật khám bệnh, chữa bệnh đã ban hành Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày tại Phụ lục I . Theo đó, có 282 bệnh theo các chuyên khoa thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày. Đây là cơ sở để thực hiện chế độ ốm đau dài ngày cho người lao động theo Luật BHXH năm 2024. Cụ thể, danh mục 282 bệnh cần chữa trị dài ngày như sau: https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/linh-vuc-bao-hiem-xa-hoi.aspx?ItemID=25332&CateID=168

Phản vệ – Hiểm họa có thật quanh ta!

Phản vệ, hay còn gọi là sốc phản vệ, là một phản ứng dị ứng nghiêm trọng và có thể đe dọa tính mạng, xảy ra khi hệ miễn dịch phản ứng quá mức với một chất gây dị ứng. Phản ứng này có thể xuất hiện ngay lập tức hoặc sau một thời gian ngắn khi tiếp xúc với dị nguyên (chất gây dị ứng) như thức ăn, thuốc, nọc côn trùng, hoặc các chất khác… Phản vệ không chừa ai, có thể xảy ra với chính bạn, con bạn, người thân bạn, hay cả nhân viên y tế. Sự khác biệt giữa sống sót và mất đi đôi khi chỉ gói gọn trong một mũi tiêm epinephrine kịp thời. Mỗi năm, trên thế giới có khoảng 5 triệu ca phản vệ, và ít nhất 8.000 người tử vong vì xử trí chậm trễ. Trong đời, 0,05 – 2% dân số có nguy cơ gặp phản vệ. Đáng báo động là chỉ 60% quốc gia đảm bảo được quyền tiếp cận bút tiêm epinephrine tự động (EpiPen, Anapen…). Tại Anh, nghiên cứu cho thấy gần 1/3 trẻ em có dị ứng thức ăn nặng chưa hề được kê đơn epinephrine, và 52–60% bệnh nhân nguy cơ cao không mang theo thuốc khi ra ngoài. ✅ NÊN LÀM NGAY khi nghi ngờ phản vệ 1) Tiêm epinephrine vào mặt ngoài đùi ngay lập tức (0,01 mg/kg, tối đa 0,5 mg ở người lớn). Tiêm sớm giảm tới 90% nguy cơ nhập viện và tử vong. 2) Gọi cấp cứu 📞 115, đưa đến bệnh viện theo dõi ít nhất 4–6 giờ (30% có thể bị phản ứng hai pha sau 1–72 giờ). 3) Luôn chuẩn bị 2 bút tiêm dự phòng, mang theo mọi lúc. 4) Dạy cho gia đình, thầy cô, đồng nghiệp cách nhận biết và xử trí phản vệ. ❌ TUYỆT ĐỐI KHÔNG 1) Chờ đợi triệu chứng nặng mới xử trí: trì hoãn làm tăng mạnh nguy cơ tử vong. 2) Chỉ dùng thuốc kháng histamine hay corticoid: chúng không thay thế epinephrine. 3) Chủ quan với một liều duy nhất: 35% bệnh nhân cần tiêm liều thứ hai. 4) Để bút tiêm hết hạn hoặc cất ở nhà mà không mang theo. 🌱 PHÒNG NGỪA LÀ GỐC RỄ 1) Xác định dị nguyên (thức ăn: lạc, tôm, cua…; thuốc: kháng sinh, giảm đau…; nọc côn trùng; latex…). 2) Có kế hoạch hành động cá nhân, do bác sĩ dị ứng hướng dẫn. 3) Tập huấn ở trường học, công ty, cộng đồng để mọi người đều biết cách xử trí. 4) Sẵn sàng cả về tâm lý – bởi sống chung với nguy cơ phản vệ có thể gây lo âu kéo dài. Phùng Dũng (sưu tầm)

15/08 Truyền hình trực tuyến: ‘Lạm dụng Corticoid trong điều trị nấm da – cảnh báo từ chuyên gia’

Báo Sức khỏe & Đời sống tổ chức chương trình truyền hình trực tuyến với chủ đề “Lạm dụng Corticoid trong điều trị nấm da – cảnh báo từ chuyên gia” vào lúc 20h30 thứ Sáu, ngày 15/08/ 2025 với sự đồng hành của nhãn hàng Nizoral thuộc Tập đoàn dược phẩm STADA. Chương trình được phát trực tiếp trên Báo điện tử Suckhoedoisong.vn, trên kênh Youtube, Fanpage và Tiktok của Báo Sức khỏe & Đời sống. Chương trình được truyền hình trực tuyến trên Báo Điện tử Suckhoedoisong.vn, trên kênh Youtube và fanpage, tiktok của Báo Sức khỏe&Đời sống bắt đầu vào lúc 20h30, thứ Sáu ngày 15/08/2025. Bạn đọc có thể gửi câu hỏi về tòa soạn ngay từ bây giờ theo địa chỉ: Email: toasoan@suckhoedoisong.vn Hoặc trực tiếp đặt câu hỏi với các chuyên gia trong thời gian diễn ra chương trình. Báo điện tử Sức khỏe & Đời sống (Suckhoedoisong.vn) trân trọng cảm ơn BSCKII Phạm Đăng Trọng Tường, Phó Giám đốc Bệnh viện Da liễu TP HCM – Phó Chủ tịch Hội Da liễu TP HCM, TS.BS Lý Thị Mỹ Nhung – Giảng viên Bộ môn Da liễu Đại học Y dược TP HCM và MC Vũ Mạnh Cường. https://suckhoedoisong.vn/truyen-hinh-truc-tuyen-lam-dung-corticoid-trong-dieu-tri-nam-da-canh-bao-tu-chuyen-gia-169250814080559186.htm

Điều trị Gút ở bệnh nhân bệnh thận mạn

1. Bệnh thận mạn là yếu tố nguy cơ của tăng acid uric máu và bệnh gút. Tuy nhiêu việc điều trị gút ở BN có bệnh thận mạn gặp nhiều thách thức do hạn chế về liều và loại thuốc. Nhiều BN không đạt mục tiêu điều trị acid uric do bị cản trở bởi các giới hạn liều cũ. 2. Khi nào cần điều trị thuốc làm hạ acid uric máu ở BN có bệnh thận mạn, theo ACR & EULAR, là khi có ≥2 cơn gút/năm, có hạt tophi, viêm khớp mạn do gút, acid uric máu > 8–9 mg/dL, có sỏi urat hoặc bệnh thận mạn. 3. Các thuốc: • Allopurinol là thuốc ưu tiên hàng đầu: Hướng điều trị là khởi đầu liều thấp, và tăng liều từ từ (“start-low-go-slow”). Liều có thể vượt ngưỡng theo eGFR nhưng cần theo dõi cẩn thận. Nguy cơ bị Hội chứng tăng nhạy cảm với Allopurinol (AHS) tăng ở BN có HLA-B*5801 → khuyến cáo xét nghiệm gen ở các BN châu Á. • Febuxostat khi BN không dung nạp Allopurinol hoặc không đạt được mục tiêu acid uric với Allopurinol. Febuxostat là thuốc an toàn hơn ở BN bệnh thận mạn do chuyển hóa qua gan, nhưng có lo ngại về nguy cơ tim mạch (FDA 2017), dù nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy nguy cơ thấp, tương đương allopurinol. • Uricosurics (Probenecid, Benzbromarone): Không khuyến cáo cho BN bệnh thận mạn giai đoạn 3 trở đi, trừ khi không còn lựa chọn nào khác • Pegloticase: Chỉ định cho BN gút nặng, kháng trị. Có thể phối hợp thuốc ức chế miễn dịch (methotrexate, mycophenolate, azathioprine) để giảm sinh kháng thể chống lại pegloticase và tăng hiệu quả. • Thuốc SGLT-2i có thể làm giảm nhẹ acid uric nhưng hiệu quả bị hạn chế ở BN bệnh thận mạn. 4. Xử trí cơn gút cấp ở các BN bệnh thận mạn. • NSAIDs thường bị chống chỉ định. • Colchicine dùng thận trọng, cần hiệu chỉnh liều theo GFR và không nên dùng nếu BN đang điều trị thuốc ức chế CYP3A4/P-gp. • Prednisone đường uống hoặc tiêm là lựa chọn phổ biến và an toàn hơn. • IL-1 inhibitors (như anakinra) là lựa chọn thay thế trong gút kháng trị, có thể dùng được cả cho BN ghép thận. 5. Dự phòng tái phát: Khuyến cáo dùng colchicine liều thấp hoặc prednisone liều thấp trong 3–6 tháng đầu điều trị thuốc làm giảm acid uric máu. Ở BN có bệnh thận mạn nặng, có thể không cần dự phòng nếu áp dụng chiến lược “start-low-go-slow”. 6. Lưu ý ở BN ghép thận: Không dùng chung Azathioprine với allopurinol hoặc febuxostat do nguy cơ suy tủy → chuyển sang mycophenolate nếu có thể. Chú ý Cyclosporine làm tăng acid uric → cân nhắc thay thế bằng tacrolimus nếu có gút sau ghép. Ths.Bác sĩ Phùng Văn Dũng Nguồn: American Journal of Kidney Disease, ngày 1/ 7/ 2025    

Đặt Lịch Khám

    Đặt Lịch Khám