BỆNH VIỆN BẮC THĂNG LONG
BAC THANG LONG HOSPITAL

(84) 889 615 815

Email: thugopy.bvbtl@gmail.com

Hoạt Động Nghiên Cứu

Tư Vấn Sức Khoẻ

Hạ đường huyết nguy hiểm ra sao với người cao tuổi?

Hạ đường huyết là tình trạng thường gặp ở người cao tuổi, đặc biệt ở những người mắc đái tháo đường. Do biểu hiện không điển hình và dễ bị bỏ qua, bệnh có thể dẫn đến nhiều biến chứng nghiêm trọng như tổn thương não, té ngã, rối loạn tim mạch, thậm chí đe dọa tính mạng nếu không được phát hiện và xử trí kịp thời. Hạ đường huyết là một rối loạn chuyển hóa thường gặp, đặc biệt ở người cao tuổi và người mắc đái tháo đường. Tình trạng này xảy ra khi mức đường huyết giảm xuống dưới 70 mg/dL (≈ 3,9 mmol/L), khiến cơ thể – đặc biệt là não bộ – không được cung cấp đủ năng lượng để hoạt động bình thường. Ở người trẻ, hạ đường huyết thường dễ nhận biết và xử trí nhanh chóng. Ngược lại, ở người cao tuổi, các biểu hiện thường âm thầm, không rõ ràng, làm tăng nguy cơ phát hiện muộn và xảy ra biến chứng. Lý do người cao tuổi dễ bị hạ đường huyết? Người cao tuổi có nguy cơ cao do nhiều yếu tố phối hợp: Suy giảm chức năng gan, thận: Làm giảm khả năng dự trữ và điều hòa glucose, cũng như ảnh hưởng đến chuyển hóa thuốc. Ăn uống thất thường: Biếng ăn, quên bữa khiến cơ thể thiếu hụt năng lượng. Tác dụng của thuốc: Insulin và nhóm sulfonylurea có thể gây tụt đường huyết nếu dùng không phù hợp. Bệnh nội tiết đi kèm: Như suy giáp, suy tuyến thượng thận (Addison). Phản xạ thần kinh kém nhạy: Làm các dấu hiệu cảnh báo sớm trở nên mờ nhạt. Hạ đường huyết nguy hiểm như thế nào? Không chỉ gây khó chịu thoáng qua, hạ đường huyết ở người cao tuổi có thể dẫn đến nhiều biến chứng nghiêm trọng: Tổn thương não, tăng nguy cơ sa sút trí tuệ Não bộ phụ thuộc chủ yếu vào glucose để hoạt động. Khi đường huyết giảm sâu và kéo dài, tế bào não có thể bị tổn thương, gây suy giảm trí nhớ, giảm khả năng nhận thức, thậm chí thúc đẩy sa sút trí tuệ. Nguy cơ té ngã và gãy xương Hạ đường huyết gây chóng mặt, mất thăng bằng, dễ dẫn đến té ngã. Với người cao tuổi, đặc biệt người bị loãng xương, hậu quả có thể là gãy xương, ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng vận động và chất lượng cuộc sống. Biến chứng tim mạch, nguy cơ đột tử Khi đường huyết giảm, cơ thể phản ứng bằng cách tăng nhịp tim và tiết hormone stress. Điều này có thể gây rối loạn nhịp tim, tụt huyết áp và trong trường hợp nặng có thể dẫn đến ngừng tim đột ngột. Dễ bị chẩn đoán nhầm Triệu chứng hạ đường huyết ở người cao tuổi đôi khi giống với các bệnh lý thần kinh như đột quỵ nhẹ hoặc sa sút trí tuệ, khiến việc cấp cứu bị chậm trễ, làm tăng nguy cơ biến chứng. Dấu hiệu nhận biết hạ đường huyết ở người cao tuổi Việc nhận biết sớm các dấu hiệu là yếu tố quan trọng giúp xử trí kịp thời. Tuy nhiên, triệu chứng ở người cao tuổi thường không điển hình. Triệu chứng ban đầu: Mệt mỏi, hoa mắt, chóng mặt Cảm giác đói cồn cào Vã mồ hôi Run tay, tim đập nhanh Cáu gắt, lo lắng không rõ nguyên nhân Triệu chứng nặng cần cấp cứu: Lú lẫn, mất định hướng Nói khó, nói lắp Giảm khả năng tập trung, hay quên đột ngột Yếu cơ, đi lại khó khăn Té ngã Co giật hoặc hôn mê Đáng lưu ý, một số người cao tuổi có thể không có dấu hiệu cảnh báo rõ ràng mà đột ngột ngất xỉu. Đây là tình huống nguy hiểm, cần được xử trí ngay. Cách phòng ngừa hạ đường huyết ở người cao tuổi Để giảm nguy cơ hạ đường huyết, người cao tuổi và gia đình cần thực hiện đồng bộ các biện pháp sau: Duy trì chế độ ăn uống hợp lý Ăn đúng bữa, không bỏ bữa Bổ sung đầy đủ tinh bột, đạm và chất xơ Chia nhỏ bữa ăn nếu cần để duy trì đường huyết ổn định Theo dõi đường huyết định kỳ Đối với người mắc đái tháo đường, việc kiểm tra đường huyết thường xuyên giúp phát hiện sớm bất thường và điều chỉnh điều trị kịp thời. Sử dụng thuốc đúng hướng dẫn Không tự ý thay đổi liều insulin hoặc thuốc hạ đường huyết Tuân thủ chỉ định của bác sĩ Thông báo ngay khi có dấu hiệu bất thường Người cao tuổi nên mang theo kẹo, bánh quy hoặc nước ngọt để sử dụng khi xuất hiện dấu hiệu hạ đường huyết. Hạn chế rượu bia Rượu có thể gây hạ đường huyết kéo dài, đặc biệt khi uống lúc đói, vì vậy cần hạn chế hoặc tránh sử dụng. Tập luyện thể dục hợp lý Vận động giúp cải thiện sức khỏe tổng thể, nhưng cần tránh tập luyện quá sức hoặc khi bụng đói để không làm giảm đường huyết đột ngột. Sự hỗ trợ từ gia đình Người cao tuổi có thể không tự nhận biết hoặc xử trí khi bị hạ đường huyết, do đó người thân cần quan sát, nhắc nhở và hỗ trợ kịp thời. Tóm lại, hạ đường huyết ở người cao tuổi là tình trạng không thể xem nhẹ. Nếu không được phát hiện và xử trí kịp thời, bệnh có thể dẫn đến tổn thương não, té ngã, biến chứng tim mạch, thậm chí tử vong. Việc nâng cao nhận thức, theo dõi sức khỏe định kỳ, duy trì chế độ ăn uống hợp lý và tuân thủ điều trị là những yếu tố then chốt giúp phòng ngừa hiệu quả.

Mù màu

Định nghĩa Mù màu ảnh hưởng đến cách cảm nhận màu sắc và khiến một người khó phân biệt một số màu. Có ba loại tế bào hình nón (M, L và S) trong mắt. Các tế bào hình nón này giúp nhận biết màu sắc. Những người bị khiếm khuyết màu sắc có thể bị thiếu hoặc có các tế bào hình nón kém nhạy hơn. Tình trạng này được gọi là khiếm khuyết màu sắc hoặc mù màu. Nếu chỉ thiếu một sắc tố, bạn có thể gặp khó khăn khi nhìn một số màu nhất định. Người không có bất kỳ sắc tố nào trong tế bào nón sẽ không thể nhìn thấy màu sắc, rất ít gặp. Nguyên nhân Thông thường, gene di truyền từ cha mẹ gây ra các sắc tố quang học bị lỗi. Đôi khi chứng mù màu không phải do gen mà có thể xuất phát từ một số nguyên nhân khác như: Tổn thương vật lý hoặc hóa học ở mắt Tổn thương dây thần kinh thị giác Tổn thương các phần não xử lý thông tin màu sắc Đục thủy tinh thể – tình trạng thủy tinh thể bị mờ Tuổi tác Phân loại bệnh Có ba loại khiếm khuyết màu sắc chính là đỏ – lục, xanh – vàng và mù màu hoàn toàn. Các loại mù màu phổ biến nhất xảy ra khi các gene thừa hưởng từ cha mẹ, tạo ra các sắc tố quang học trong tế bào hình nón của mắt không hoạt động bình thường. Đôi khi điều này khiến một người kém nhạy cảm với một số màu hơn những màu khác, thậm chí không thể nhìn thấy một số màu nhất định. Mù màu đỏ – xanh lục Tình trạng này xảy ra khi các sắc tố quang học trong tế bào nón đỏ hoặc tế bào nón xanh lá cây của mắt không hoạt động bình thường hoặc không hoạt động. Dạng mù màu này có một số loại: Mù màu lục nhạt: Đây là dạng mù màu phổ biến nhất và ảnh hưởng chủ yếu ở nam giới, ít gặp ở nữ giới. Người mắc bệnh nhìn thấy màu vàng, xanh lá cây đỏ hơn và rất khó để phân biệt màu xanh lam với màu tím. Mù màu đỏ nhạt: Sắc tố quang học của tế bào nón đỏ không hoạt động bình thường. Ở dạng mù màu này, màu cam, đỏ và vàng trông xanh lá cây hơn, màu sắc kém tươi sáng hơn. Dạng này thường nhẹ, không gây ra vấn đề trong cuộc sống hàng ngày. Mù màu đỏ nhạt: Đây là loại không có tế bào nón đỏ hoạt động. Màu đỏ qua mắt mang sắc xám đen. Một số sắc thái của màu cam, vàng và xanh lá cây thường có xu hướng vàng. Mù màu xanh – vàng Đây là tình trạng các sắc tố hình nón xanh bị thiếu hoặc hoạt động không bình thường. Loại phổ biến thứ hai và ảnh hưởng đến cả nam, nữ như nhau. Mù màu đơn sắc: Các tế bào hình nón xanh chỉ hoạt động hạn chế. Màu xanh trông xanh lục hơn, có thể khó phân biệt màu hồng với màu vàng và đỏ. Tình trạng này rất ít gặp. Mù màu đơn sắc: Mù màu xanh – vàng xảy ra khi mắt không có tế bào hình nón xanh. Người mắc nhìn màu xanh có xu hướng xanh lục, màu vàng trông xám nhạt hoặc tím. Mù màu hoàn toàn Loại mù màu này khiến một người không thể phân biệt được bất kỳ màu nào và thị lực kém. Nó gây ra tình trạng khiếm khuyết về thị lực ở cả ba loại tế bào hình nón đồng thời dẫn đến các vấn đề về võng mạc. Những người mắc chứng rối loạn thị lực này thường chỉ nhìn thấy màu đen, xám và trắng. Mù màu vô sắc hoàn toàn khiến mắt chỉ nhìn thấy màu đơn sắc. Người bệnh có thể có thị lực kém với thị lực 20/200 hoặc thấp hơn. Mù màu vô sắc không hoàn toàn khiến người bệnh chủ yếu nhìn thấy màu đơn sắc nhưng có một số màu. Người mắc có thể gặp các vấn đề về thị lực ít nghiêm trọng hơn so với loại hoàn toàn, với thị lực lên đến 20/80. Điều trị Chưa có cách chữa khỏi hoàn toàn tình trạng khiếm khuyết về thị lực màu nhưng hiện nay có nhiều thiết bị hỗ trợ có thể giúp một người phân biệt màu sắc. Kính mắt hoặc kính áp tròng Chiếu sáng điều chỉnh quang phổ Thiết bị tái tạo màu sắc Xử trí Nếu nghi ngờ gặp vấn đề trong việc phân biệt một số màu sắc nhất định hoặc thị lực màu thay đổi, bạn nên đến gặp bác sĩ nhãn khoa để được kiểm tra. Trẻ em nên được khám mắt toàn diện, bao gồm cả kiểm tra thị lực màu trước khi bắt đầu đi học. Không có cách chữa khỏi tình trạng thiếu hụt màu sắc di truyền. Song nếu nguyên nhân là do bệnh lý hoặc bệnh về mắt thì điều trị có thể cải thiện khả năng nhận biết màu sắc. https://vnexpress.net/suc-khoe/cam-nang/mu-mau-357

Khi nào nốt ruồi là ác tính?

Nốt ruồi đa số là lành tính, nhưng một số trường hợp có nguy cơ ác tính. Vậy khi nào nốt ruồi có nguy cơ trở thành ác tính, dấu hiệu nhận biết như thế nào? Ths.Bs Vũ Nguyên Bình, khoa Phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ và phục hồi chức năng, Bệnh viện Da liễu Trung ương cho biết, nốt ruồi rất phổ biến, trung bình mỗi người có khoảng 10 nốt, thậm chí nhiều hơn trên cơ thể. Đa số các nốt là lành tính, song cũng có một số nguy cơ ác tính, bị “ác tính hóa” do nằm ở các vị trí cọ xát trên cơ thể hoặc vị trí tiếp xúc với ánh sáng mặt trời và hóa chất. Nốt ruồi nào dễ ác tính hóa? Các nốt ruồi nằm ở vùng cọ xát như ở khu vực quai áo, cạp quần, vùng cổ, nguy cơ biến tính cao do thường xuyên bị cọ xát, thậm chí gây chảy máu. Nốt ruồi có kích thước lớn, ở vùng tiếp xúc ánh nắng mặt trời nhiều sẽ có nguy cơ ác tính hóa cao hơn (Ảnh: Bệnh viện cung cấp). Đặc biệt, ung thư tế bào hắc tố gặp nhiều nhất là các tổn thương nằm ở lòng bàn tay và bàn chân. Những người thường xuyên tiếp xúc với ánh sáng mặt trời, đặc biệt là ánh sáng cường độ mạnh nguy cơ mắc bệnh tăng lên, và nguy cơ này cũng tăng dần theo tuổi Người tiếp xúc với hóa chất độc hại, nhiễm độc Arsenic (thạch tín); người có tiền sử gia đình mắc ung thư hắc tố có nguy cơ mắc nốt ruồi ung thư hóa cao hơn. Các dấu hiệu của nốt ruồi ác tính Có 5 dấu hiệu nhận biết nốt ruồi có nguy cơ ác tính: –  Nốt ruồi không đối xứng: Thông thường nốt ruồi có hình tròn và bầu dục, hai bên đối xứng nhau, nhưng với nốt ruồi có nguy cơ ác tính thì hai phía không đối xứng. – Bờ tổn thương không đều: Các nốt ruồi lành tính có đường viền mềm mại, cong tròn nhưng nốt ruồi ác tính lại có viền như hình bản đồ, khúc khủyu, không đều. – Màu sắc không đồng nhất: Thay vì chỉ có màu nâu hay đen, nốt ruồi có nguy cơ ác tính có chỗ đậm, nhạt, chỗ đen, nâu hoặc mất sắc tố. – Kích thước lớn: Nốt ruồi thông thường có đường kính thường dưới 6mm. Các nốt ruồi có đường kính trên 6mm được đánh giá có yếu tố nguy cơ. – Phát triển bất thường: Kích thước một nốt ruồi bình thường tăng chậm, có khi mất 10 năm để tăng một vài mm, cuối cùng không phát triển. Với nốt ruồi có nguy cơ ác tính, thời gian chuyển từ kích thước nhỏ tới lớn rất ngắn, có thể chỉ trong vài tháng. Vì thế,  khi phát hiện có các nốt ruồi bất thường trên da, đặc biệt là ở những vị trí hay tiếp xúc với ánh sáng mặt trời hoặc các vị trí dễ cọ xát (lòng bàn tay, bàn chân), người dân cần chủ động đi khám chuyên khoa da liễu để kịp thời phát hiện, điều trị nguy cơ ung thư da nếu có. https://dantri.com.vn/suc-khoe/khi-nao-not-ruoi-la-ac-tinh-20230918141941990.htm

Tổ chức Y tế Thế giới kêu gọi khẩn cấp đề phòng đại dịch virus Chikungunya

Tổ chức Y tế Thế giới ngày 22-7 đã đưa ra lời kêu gọi hành động khẩn cấp nhằm ngăn chặn sự tái diễn của đại dịch virus Chikungunya do muỗi truyền khi các đợt bùng phát mới liên quan đến khu vực Ấn Độ Dương lan sang châu Âu và các châu lục khác. Phát biểu với các phóng viên tại Geneva hôm 22-7, bà Diana Rojas Alvarez – một quan chức y tế của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho hay, ước tính khoảng 5,6 tỷ người đang sống tại các khu vực trên 119 quốc gia có nguy cơ nhiễm virus này, loại virus có thể gây sốt cao, đau khớp và tàn tật lâu dài. “Chúng ta đang chứng kiến lịch sử lặp lại”, bà Diana Rojas Alvarez nói, đồng thời so sánh với đợt dịch năm 2004-2005, đã ảnh hưởng đến gần nửa triệu người, chủ yếu ở các vùng lãnh thổ đảo nhỏ, trước khi lan rộng khắp thế giới. Đợt bùng phát hiện tại bắt đầu vào đầu năm 2025, tại cùng các đảo Ấn Độ Dương đã từng bị ảnh hưởng trước đó, bao gồm La Reunion, Mayotte và Mauritius. Trong đó, khoảng 1/3 dân số La Reunion đã bị nhiễm bệnh. Virus hiện đang lây lan sang các quốc gia như Madagascar, Somalia và Kenya cũng như có dấu hiệu lây truyền dịch bệnh ở Đông Nam Á, Ấn Độ. Đặc biệt đáng lo ngại là số ca nhiễm gần đây ở châu Âu. Đã có khoảng 800 ca nhiễm Chikungunya do nguồn gốc nhập cảnh ở lục địa Pháp kể từ ngày 1-5. Trong đó, không ít người bị nhiễm muỗi địa phương mà không hề đi đến các vùng lưu hành dịch bệnh. Bệnh Chikungunya lây truyền chủ yếu qua muỗi Aedes, bao gồm cả muỗi vằn (muỗi vằn), có thể gây ra các đợt bùng phát nhanh chóng và trên diện rộng. Vì muỗi đốt người vào ban ngày, nên việc phòng ngừa là rất quan trọng. https://www.anninhthudo.vn/to-chuc-y-te-the-gioi-keu-goi-khan-cap-de-phong-dai-dich-virus-chikungunya-post618445.antd  

Cảnh báo nguy cơ đột quỵ, nhồi máu cơ tim từ loại gia vị tưởng tốt cho sức khỏe

Một nghiên cứu mới được công bố gần đây chỉ ra rằng chất tạo ngọt hay dùng trong thực phẩm, đồ uống “ăn kiêng” có thể làm tăng nguy cơ đột quỵ và cả nhồi máu cơ tim. Newsweek đưa tin, erythritol là một trong các chất tạo ngọt thường được sử dụng trong các sản phẩm đồ uống, bánh, ngũ cốc được dán nhãn “không đường”, “ít đường”, “ít calo”…; hoặc bán riêng dưới dạng đường ăn kiêng. Trước đây, erythritol được cho là tốt cho sức khỏe bởi không chứa calo, không làm tăng đường huyết như đường thật. Năm 2001, Cơ quan Quản lý thực phẩm và dược phẩm Mỹ (FDA) đã chấp thuận erythritol như một chất thay thế đường cho người mắc bệnh béo phì, chuyển hóa… Nó cũng tồn tại một ít trong tự nhiên – trong một số loại trái cây và rau củ – cũng như được sản xuất nội sinh trong cơ thể người. Sử dụng erythritol thay thế cho đường có nguy cơ dẫn đến đột quỵ. Ảnh: Getty Images Tuy nhiên, các nhà khoa học tại Đại học Colorado Boulder (Mỹ) mới đây đã phát hiện ra rằng erythritol có thể làm thay đổi tế bào mạch máu não ở người theo những cách có thể làm tăng nguy cơ đột quỵ. Phát hiện này đã được công bố trên Tạp chí Sinh lý học Ứng dụng , bổ sung thêm bằng chứng ngày càng tăng cho thấy những chất thay thế đường tưởng vô hại này có thể không hoàn toàn an toàn. Nhóm nghiên cứu của các nhà khoa học đến từ Đại học Colorado đã phân tích dữ liệu của 4.000 người, được theo dõi trong vòng 3 năm. Dự trên kết quả nghiên cứu, họ phát hiện ra cả nam giới lẫn nữ giới có mức erythritol trong cơ thể cao hơn thông qua việc bổ sung dưới dạng chất tạo ngọt có nguy cơ đột quỵ và nhồi máu cơ tim cao hơn đáng kể. Giáo sư Christopher DeSouza, tác giả chính của nghiên cứu, cho biết họ đã thực hiện một thí nghiệm để tìm kiếm nguyên nhân erythritol trở nên nguy hiểm. Tại phòng thí nghiệm, các nhà khoa học đã xử lý các tế bào trong mạch máu não người trong 3 giờ với lượng erythritol vừa đủ để mô phỏng việc sử dụng một loại đồ uống “ăn kiêng”. Các tế bào biểu hiện ít oxit nitric – một phân tử có tác dụng làm giãn và mở rộng mạch máu – hơn đáng kể; đồng thời nhiều endothelin-1, một loại protein có tác dụng làm co mạch máu. Trong khi đó, khi tiếp xúc với hợp chất hình thành huyết khối (cục máu đông) gọi là thrombin, quá trình sản xuất hợp chất phá huyết khối tự nhiên t-PA của tế bào đã giảm đáng kể. Các tế bào được xử lý bằng erythritol cũng sản sinh ra nhiều loại oxy phản ứng hơn, hay còn gọi là gốc tự do, là sản phẩm phụ của quá trình trao đổi chất có thể làm tế bào lão hóa, tổn thương và gây viêm mô. “Nhìn chung, nếu mạch máu của bạn bị co thắt nhiều hơn và khả năng phá vỡ cục máu đông giảm đi, nguy cơ đột quỵ của bạn sẽ tăng lên. Nghiên cứu của chúng tôi không chỉ chứng minh điều đó mà còn chứng minh erythritol có khả năng làm tăng nguy cơ đột quỵ.”, đồng tác giả Auburn Berry cho hay. Các nhà nghiên cứu lưu ý rằng nghiên cứu của họ được thực hiện trên các tế bào trong đĩa thí nghiệm. Cần có thêm nghiên cứu trên người để xác nhận tác dụng thực tế. Tuy nhiên, giáo sư DeSouza khuyến cáo mọi người nên đọc kỹ nhãn thành phần để biết erythritol hay “rượu đường” và lưu ý đến lượng tiêu thụ, ngay cả trong các sản phẩm được quảng cáo là “không đường”. https://vov.vn/suc-khoe/canh-bao-nguy-co-dot-quy-nhoi-mau-co-tim-tu-loai-gia-vi-tuong-tot-cho-suc-khoe-post1216129.vov

Hình ảnh kinh hoàng: Người phụ nữ bị 70 con ong vò vẽ tấn công khi đang đi tập thể dục

Một phụ nữ 61 tuổi ở TP.HCM bất ngờ bị đàn ong vò vẽ tấn công khi đang đi tập thể dục gần nhà. Với hơn 70 vết đốt trên cơ thể, bà nhanh chóng rơi vào tình trạng sốc phản vệ độ 3, biến chứng suy gan, suy thận, suy hô hấp cấp và tiêu cơ vân, những tình trạng có thể cướp đi tính mạng chỉ trong thời gian ngắn nếu không được can thiệp kịp thời. Ngay sau khi tai nạn xảy ra, người nhà lập tức đưa bệnh nhân đến Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Nam Sài Gòn. Chỉ trong vòng 40 phút sau khi bị đốt, bà đã được chuyển vào khoa Hồi sức tích cực – Cấp cứu và bắt đầu quá trình điều trị khẩn cấp. Theo báo Dân trí, tại bệnh viện, các bác sĩ đã cho bệnh nhân điều trị bằng các biện pháp chuyên sâu như lọc máu liên tục, thở máy, hỗ trợ đa cơ quan, nâng đỡ huyết động và kiểm soát nhiễm trùng. Sau 10 ngày điều trị tích cực, người bệnh tỉnh táo, được rút ống nội khí quản, chuyển ra phòng thường và đã xuất viện. “May mắn là tôi được đưa đến viện và được điều trị kịp thời. Tôi thực sự biết ơn các bác sĩ, điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Nam Sài Gòn”, người bệnh xúc động chia sẻ. Theo BS.CKI Lại Thanh Tân, khoa Hồi sức tích cực – Cấp cứu, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Nam Sài Gòn, ong vò vẽ đốt không chỉ gây đau và sưng tấy đơn thuần như nhiều người lầm tưởng. Nọc độc của chúng chứa nhiều enzyme và độc tố mạnh, có thể gây phản ứng phản vệ, sốc nhiễm độc, tổn thương gan thận, rối loạn đông máu và suy đa cơ quan, đặc biệt ở những người có bệnh nền như tăng huyết áp, tiểu đường, tim mạch, suy giảm miễn dịch… Vết ong đốt khắp người bệnh nhân. Ảnh: Znews. Khi bị đốt nhiều vết cùng lúc, lượng độc tố trong cơ thể có thể đạt ngưỡng nguy hiểm. Với hệ thống cấp cứu – hồi sức hiện đại và đội ngũ bác sĩ giàu kinh nghiệm, ngoài trường hợp trên, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Nam Sài Gòn đã xử trí thành công nhiều trường hợp cấp cứu phức tạp, trong đó có các ca sốc phản vệ, nhiễm độc – nhiễm trùng nặng, suy đa cơ quan… Việc can thiệp kịp thời, đúng phác đồ và theo dõi sát đã giúp người bệnh thoát khỏi nguy kịch và phục hồi tốt. Các bác sĩ khuyến cáo, khi bị ong đốt, cần nhanh chóng di chuyển khỏi khu vực có ong; không gãi, không tự ý nặn vết đốt; loại bỏ nọc nếu còn sót lại; rửa sạch vùng da bị đốt bằng nước muối sinh lý hoặc dưới vòi nước, chườm lạnh. Nếu có biểu hiện khó thở, chóng mặt, buồn nôn hoặc sưng to tại vết đốt, cần đến ngay cơ sở y tế gần nhất để được xử trí kịp thời. https://gocnhinphaply.nguoiduatin.vn/hinh-anh-kinh-hoang-nguoi-phu-nu-bi-70-con-ong-vo-ve-tan-cong-khi-dang-di-tap-the-duc-20134.html

Suy thận nặng, 2 quả thận lúc nhúc hàng trăm viên sỏi: Bác sĩ tóm gọn bằng 6 chữ ‘chí mạng’

Khi hình ảnh chụp CT hiện lên màn hình, bác sĩ Mai Văn Lực (Khoa Phẫu thuật Thận – Tiết niệu và Nam học, Bệnh viện E) không giấu nổi sự ngỡ ngàng. Hai quả thận của bệnh nhân nam, 35 tuổi, gần như bị phủ kín bởi hàng trăm viên sỏi nhỏ li ti. “Sỏi chen chúc, dày đặc như những hạt bắp ngô ép chặt nhau”, bác sĩ Lực mô tả sau ca thăm khám ngày 9/7. Bệnh nhân là một kỹ sư công nghệ thông tin sống tại Phú Thọ. Anh có thói quen sinh hoạt thiếu lành mạnh: thường xuyên thức khuya, uống nước ngọt thay vì nước lọc và hầu như không vận động. Hai năm trước, người này đã từng được phát hiện có sỏi ở cả hai thận sau khi xuất hiện các triệu chứng như đau bụng, tiểu buốt. Tuy nhiên, anh chủ quan, không điều trị dứt điểm và tiếp tục duy trì lối sống cũ. Gần đây, khi tình trạng mệt mỏi kéo dài, anh đến bệnh viện kiểm tra và được chẩn đoán suy thận nặng do sỏi tích tụ quá nhiều. Tại cơ sở y tế tuyến dưới, các bác sĩ từ chối phẫu thuật vì tình trạng quá phức tạp, buộc anh phải chuyển đến Bệnh viện E. Theo bác sĩ Lực, chính lối sống “ngồi nhiều, uống ít, thức khuya” đã khiến hai quả thận của người đàn ông còn rất trẻ bị tàn phá nặng nề. “Ngồi nhiều khiến cặn bã khó đào thải, thức khuya phá vỡ chu kỳ lọc máu, còn việc uống nước ngọt thay cho nước lọc khiến nước tiểu đậm đặc – môi trường lý tưởng để sỏi kết tinh”, bác sĩ lý giải. Trong ca can thiệp sau đó, các bác sĩ đã tiến hành tán sỏi và lấy ra hàng trăm viên sỏi nhỏ li ti từ thận bệnh nhân. Trường hợp này được xem là hồi chuông cảnh báo cho giới văn phòng, đặc biệt là những người trẻ tuổi, về hậu quả âm thầm nhưng nguy hiểm của thói quen sinh hoạt thiếu khoa học kéo dài. Bác sĩ phẫu thuật cho bệnh nhân. Một ca bệnh ám ảnh khác Ca bệnh của nam kỹ sư công nghệ thông tin không phải là trường hợp hiếm gặp. Bác sĩ Mai Văn Lực từng tiếp nhận một ca bệnh gây ám ảnh: nữ sinh 18 tuổi với quả thận viêm nặng, niệu quản bị tắc do sỏi, mô thận gần như “hóa đá”. Cô gái nhập viện trong tình trạng đau dữ dội vùng thắt lưng kèm theo buồn nôn. Kết quả kiểm tra cho thấy thận bị tổn thương nghiêm trọng do dòng nước tiểu bị ứ trệ vì sỏi chặn ngang niệu quản. Trước đó, bệnh nhân hoàn toàn khỏe mạnh, không có tiền sử bệnh lý đáng kể. Tuy nhiên, theo lời kể của gia đình, cô có thói quen ăn mì tôm thay cơm suốt thời gian dài, gần như “nghiện” trà sữa, ít uống nước và hầu như không vận động. “Đây là một tổ hợp lối sống rất có hại cho thận, đặc biệt nguy hiểm nếu kéo dài ở người trẻ tuổi”, bác sĩ Lực cảnh báo. Những món ăn nhanh giàu natri, cùng lượng đường cao trong trà sữa kết hợp với việc thiếu nước khiến thận phải hoạt động quá tải để lọc chất thải, tạo điều kiện lý tưởng cho sỏi hình thành và gây tổn thương mô thận. Trường hợp của nữ sinh này là hồi chuông cảnh báo cho giới trẻ đang chạy theo lối sống tiện lợi, nhanh gọn mà bỏ qua sự bền bỉ và âm thầm của thận – cơ quan vốn chỉ “lên tiếng” khi đã tổn thương nghiêm trọng. “Mì tôm chứa hàm lượng muối, chất bảo quản và phụ gia cao tạo nên gánh nặng ‘khổng lồ’ cho thận. Lạm dụng trà sữa cũng có thể khiến thận phải hoạt động liên tục để lọc và đào thải, làm tăng áp lực lên thận do thức uống này chứa lượng đường cao, nhiều chất béo chuyển hóa và hương liệu”, bác sĩ giải thích. Sỏi thận không còn là “bệnh của tuổi trung niên” Ngày càng nhiều người trẻ được chẩn đoán mắc sỏi thận, một căn bệnh vốn được xem là phổ biến ở độ tuổi trung niên. Ghi nhận từ các bệnh viện tuyến đầu cho thấy, số ca phát hiện sỏi thận ở độ tuổi đôi mươi, thậm chí ở trẻ em, đang gia tăng rõ rệt. Đặc biệt đáng lo ngại là nhóm dân văn phòng, game thủ, sinh viên ôn thi – những người thường gắn chặt với bàn ghế, vận động ít, lại lạm dụng thức ăn nhanh và nước ngọt thay nước lọc. Những thói quen này vô tình trở thành “mảnh đất màu mỡ” cho sỏi thận hình thành. Theo khuyến cáo từ các chuyên gia tiết niệu, cơ thể người trưởng thành cần tối thiểu 2-3 lít nước mỗi ngày để giúp thận hoạt động hiệu quả. Tuy vậy, khảo sát tại các đô thị lớn cho thấy chỉ khoảng 1/3 người trẻ đạt mức tiêu chuẩn này. Việc thiếu nước kéo dài khiến nước tiểu trở nên đặc hơn, từ đó thúc đẩy sự kết tinh khoáng chất và tạo sỏi. Thêm vào đó, thói quen nhịn tiểu, nhất là ở dân văn phòng hoặc học sinh, sinh viên càng làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn và hình thành sỏi thận do nước tiểu bị ứ đọng trong thời gian dài. Không chỉ lối sống hiện đại gây hại, một loạt yếu tố sinh học và môi trường khác cũng đóng vai trò không nhỏ: từ rối loạn chuyển hóa canxi, thay đổi pH nước tiểu, bất thường cấu trúc đường tiết niệu cho đến yếu tố di truyền. Ở một số địa phương vùng sâu vùng xa, tình trạng

Điều gì xảy ra khi thường xuyên mất ngủ?

Mất ngủ, thiếu ngủ hay chất lượng giấc ngủ kém ảnh hưởng đến hầu hết các cơ quan trên cơ thể từ thần kinh, tim mạch đến gan, thận. Mất ngủ là tình trạng không thể ngủ suốt đêm, khó vào giấc, trằn trọc, dễ tỉnh giấc. Mọi người đều có nguy cơ mất ngủ nhưng người lớn tuổi, căng thẳng, sử dụng caffein muộn, mắc bệnh nền có nguy cơ cao hơn. Người bị mất ngủ xảy ra ít nhất ba lần một tuần trong hơn ba tháng có khả năng mất ngủ mạn tính. Nên đi khám để xác định nguyên nhân, điều trị kịp thời, tránh biến chứng có thể dẫn đến các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng. Hệ thần kinh trung ương Giấc ngủ ngon cần thiết để duy trì hoạt động bình thường của hệ thần kinh. Mất ngủ mạn tính có thể làm gián đoạn cách cơ thể gửi và xử lý thông tin khiến người bệnh thấy khó tập trung chú ý, không thể làm việc và học tập hiệu quả. Các tín hiệu mà cơ thể gửi đi bị chậm so với bình thường, làm giảm khả năng phối hợp và tăng nguy cơ tai nạn. Thiếu ngủ cũng ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng tinh thần và trạng thái cảm xúc. Người mất ngủ có xu hướng thiếu kiên nhẫn hơn, dễ thay đổi tâm trạng, ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định và khả năng sáng tạo. Tình trạng ngủ gật vào ban ngày do mất ngủ rất nguy hiểm, nhất là khi đang điều khiển giao thông, làm việc ngoài trời ở khu vực nguy hiểm. Theo thời gian, chứng mất ngủ mạn tính có thể dẫn đến rối loạn tâm trạng như trầm cảm hoặc lo âu. Hệ thống miễn dịch Khi ngủ, hệ thống miễn dịch sản xuất các chất bảo vệ, chống nhiễm trùng như kháng thể và cytokine. Hệ thống sử dụng các chất này để chống lại các tác nhân xâm nhập từ bên ngoài như vi khuẩn và virus. Một số cytokine có khả năng hỗ trợ hệ thống miễn dịch hoạt động hiệu quả hơn để bảo vệ cơ thể chống lại bệnh tật. Thiếu ngủ ngăn hệ thống miễn dịch xây dựng, từ đó khó khăn khi chống lại các tác nhân xâm nhập, thời gian phục hồi sau khi ốm chậm hơn. Chất lượng giấc ngủ kém còn là yếu tố làm tăng nguy cơ mắc các bệnh mạn tính như bệnh tim, tiểu đường. Hệ hô hấp Mối quan hệ giữa giấc ngủ và hệ hô hấp diễn ra theo cả hai hướng. Rối loạn hô hấp vào ban đêm như ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (OSA) có thể làm gián đoạn giấc ngủ, giảm chất lượng. Tình trạng thiếu ngủ, mất ngủ khiến nhiễm trùng đường hô hấp như cảm lạnh thông thường, cúm. Thiếu ngủ cũng có thể làm cho các bệnh về đường hô hấp hiện có như bệnh phổi mạn tính, hen suyễn trầm trọng hơn. Hệ tiêu hóa Giấc ngủ ảnh hưởng đến hoạt động của hai loại hormone leptin và ghrelin, kiểm soát cảm giác đói và no. Nếu không ngủ đủ giấc, não làm giảm leptin và tăng ghrelin kích thích sự thèm ăn. Thiếu ngủ cũng có thể khiến bạn cảm thấy quá mệt mỏi, lười vận động. Theo thời gian, giảm hoạt động thể chất có thể gây tăng cân do không đốt cháy đủ calo và không phát triển khối lượng cơ. Hệ nội tiết Quá trình sản xuất hormone diễn ra trong giấc ngủ. Mất ngủ mạn tính có thể ảnh hưởng đến các hormone testosterone kiểm soát ham muốn tình dục của nam giới. Những hormone này giúp cơ thể xây dựng khối lượng cơ và phục hồi tế bào và mô, bên cạnh các chức năng tăng trưởng khác. Để sản xuất testosterone, nam giới cần ít nhất ba giờ ngủ không bị gián đoạn. Thức giấc giữa đêm có thể ảnh hưởng đến việc sản xuất hormone này. Anh Chi (Theo WebMD, Healthline) https://vnexpress.net/dieu-gi-xay-ra-khi-thuong-xuyen-mat-ngu-4912450.html

Phẫu thuật tạo hình dị tật ngón tay tại Bệnh Viện Bắc Thăng Long

Trong thời gian qua, Khoa Chấn thương chỉnh hình Bệnh viện Bắc Thăng Long đã tiếp nhận và điều trị thành công nhiều trường hợp dị tật thừa ngón, dính ngón tay bẩm sinh cũng như các trường hợp dị tật bẩm sinh bất thường hệ vận động khác ở chi thể của trẻ em. Trẻ được điều trị cắt ngón thừa, tạo hình lại hình dáng và chức năng bình thường của bàn tay, chỉ sau 1 lần phẫu thuật. Đây là một dị tật dễ phát hiện, không phải là hiếm gặp, nên những kiến thức về dị tật, phương pháp điều trị, khi nào cần phẫu thuật cắt ngón thừa, tạo hình lại ngón, lựa chọn thời điểm phẫu thuật cần được các phụ huynh bệnh nhi quan tâm và có những hiểu biết cơ bản. Dị tật thừa ngón (polydactyly) còn được biết đến là dị tật bẩm sinh thừa ngón chân hay ngón tay do di truyền hay gặp, đặc trưng bởi việc có các ngón tay hoặc ngón chân phụ, với nhiều kiểu hình bất thường khác nhau. Dị tật này có thể là một phần của một hội chứng dị tật bẩm sinh kèm theo các dị tật khác hoặc là một dị tật xuất hiện đơn độc. Mặc dù dị tật không đe dọa đến tính mạng nhưng lại là dấu hiệu chỉ điểm của một số dị tật nghiêm trọng khác và gây giảm chất lượng cuộc sống. Các ngón thừa thường là một mô nhỏ, có xương mà không có khớp, rất hiếm khi có đủ các chức năng của một ngón tay bình thường. Hầu hết dị tật ngón được gây ra bởi sự khiếm khuyết di truyền trong gene dẫn đến sự khiếm khuyết xảy ra trong sự phát triển chi trước – sau.   Hình ảnh dính ngón tay trước khi mổ Hình ảnh dính ngón tay sau khi mổ PHÂN LOẠI: Được chia làm 3 loại: Trước trục (Preaxial polydactyly): ngón cái sinh đôi Trung tâm (central polydactyly): hiếm gặp, thừa các ngón ở giữa (ngón trỏ, giữa, nhẫn). Sau trục (postaxial polydactyly): ngón út sinh đôi. Trong đó, Type A: là các trường hợp ngón thừa phát triển gần như hoặc như ngón bình thường Type B: ngón thừa phát triển kém có thể chỉ là một nhú nhỏ hoặc thừa ngón nhỏ có cuống ĐIỀU TRỊ: 1. Nguyên tắc chung: cắt bỏ ngón thừa, giữ lại ngón có chức năng tốt hơn và bảo tồn tối đa, hài hòa cả giải phẫu, chức năng và thẩm mỹ. 2. Đánh giá trước mổ: Cần phải chụp X Quang bàn tay, bàn chân và thăm khám lâm sàng kỹ lưỡng để có thể phân loại ngón thừa, mức độ thiểu sản của mỗi ngón, độ vững của mỗi khớp, chức năng vận động của ngón… để lựa chọn phương pháp phẫu thuật. Đối với từng phân loại sẽ có phương pháp phẫu thuật phù hợp. Thông thường, sẽ định hướng điều trị theo phân loại: Type A: cần phải điều trị phẫu thuật cắt bỏ Type B: cân nhắc giữa phẫu thuật hoặc thắt gốc ngón (bằng chỉ khâu hoặc clip kẹp mạch) làm cho ngón bị hoại tử và sẽ tự rụng sau một thời gian. Và biến chứng hay gặp của những trường hợp này là hay để lại những nhú thịt thừa sau khi ngón thừa rụng gây mất thẩm mỹ đôi khi cần phải phẫu thuật để cắt bỏ. Với đội ngũ bác sĩ giàu kinh nghiệm, chuyên sâu trong phẫu thuật tạo hình chi thể – đặc biệt là xử lý các dị tật bàn tay, chúng tôi áp dụng kỹ thuật hiện đại, an toàn, ít xâm lấn, giúp phục hồi nhanh chóng và đảm bảo thẩm mỹ tối ưu. Hãy để đôi bàn tay nhỏ nhắn của trẻ được tự do khám phá thế giới một cách trọn vẹn nhất! 📍Đặt lịch ngay tại Khoa Chấn thương Chỉnh hình – Bệnh viện Bắc Thăng Long 📞 Hotline: https://benhvienbacthanglong.org.vn/ 🌟 Thẩm mỹ – An toàn – Tận tâm – Vì tương lai của bé yêu!

48 tuổi đã đột quỵ 3 lần: Tất cả đều do 1 loại đồ uống quen thuộc với nhiều người Việt

Sáng sớm, sau một đêm ngủ dậy, anh Lê Văn Ch. (48 tuổi, trú tại Hà Nội) bất ngờ hoa mắt, chóng mặt, đau đầu dữ dội rồi nôn ói. Người nhà lập tức đưa anh đến trung tâm y tế gần nhà. Nhận thấy dấu hiệu bất thường, các bác sĩ nhanh chóng chuyển anh đến Bệnh viện Thanh Nhàn. Tại Bệnh viện Thanh Nhàn, anh Ch. được chẩn đoán đột quỵ do xuất huyết não. Rất may anh Ch. được chuyển tới viện sớm và được can thiệp kịp thời. Theo anh Ch., đây là lần thứ ba anh phải nhập viện cấp cứu vì đột quỵ và cả ba lần đều có điểm chung: sau khi uống rượu. Lần đột quỵ đầu tiên của anh Ch. xảy ra cách đây 4 năm. Lần đó, anh cũng bị choáng váng, mất cảm giác sau khi uống rượu. Một năm sau đó, anh tiếp tục bị đột quỵ lần hai cũng trong hoàn cảnh tương tự. “Tôi uống rượu hàng ngày, mỗi ngày chừng nửa lít, hôm nào trời nóng thì uống thêm 1 – 2 cốc cho mát”, anh Ch. chia sẻ. Trải qua ba lần cận kề cái chết, anh Ch. bắt đầu suy nghĩ nghiêm túc về việc từ bỏ thói quen uống rượu: “Tôi sẽ cố gắng cai. Tôi muốn sống lâu hơn vì con cái tôi còn nhỏ”. Hiện, anh Ch. đã ở nhà phụ vợ bán hàng, tạm rời xa công việc nặng nhọc để giữ gìn sức khỏe. Anh Ch. đang được khám lại sau khi được can thiệp đột quỵ (ảnh N.M). Rượu bia làm tăng nguy cơ đột quỵ Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia tiêu thụ rượu bia hàng đầu thế giới. Mỗi người Việt trên 15 tuổi tiêu thụ trung bình 8,3 lít cồn nguyên chất mỗi năm – tương đương khoảng 170 lít bia. Việt Nam hiện đứng thứ 2 Đông Nam Á và thứ 3 châu Á về mức tiêu thụ rượu bia bình quân đầu người. Riêng về bia, Việt Nam nằm trong top 10 nước tiêu thụ nhiều nhất toàn cầu với hơn 3,8 triệu kilô lít/năm, chiếm khoảng 2,2% sản lượng thế giới. Bác sĩ Huỳnh Tấn Vũ, Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM (cơ sở 3) cho hay, nhiều nghiên cứu chỉ ra mối liên hệ chặt chẽ giữa tiêu thụ rượu bia và đột quỵ. Rượu có thể tác động trực tiếp lên não hoặc gián tiếp làm tăng các yếu tố nguy cơ như huyết áp, mỡ máu, đường huyết, tổn thương mạch máu và nội tạng. Đáng lưu ý, đột quỵ không còn là căn bệnh của người cao tuổi. Hiện nay, tỷ lệ người trẻ bị đột quỵ đang tăng lên, chiếm khoảng 10–15% tổng số ca. Một nghiên cứu cho thấy, 18,2% bệnh nhân đột quỵ dưới 45 tuổi có tiền sử uống rượu thường xuyên, bác sĩ Vũ thông tin. Thống kê cũng cho thấy, những người uống trung bình hơn 2 ly rượu mỗi ngày tăng nguy cơ đột quỵ lên tới 34% so với người không uống hoặc uống ít. Theo khuyến cáo của Bộ Y tế, mỗi người nên hạn chế tối đa rượu bia. Cụ thể, nam giới trưởng thành uống không quá 2 đơn vị cồn/ngày; Nữ giới trưởng thành uống không quá 1 đơn vị cồn/ngày. Một đơn vị cồn tương đương 30ml rượu mạnh, 100ml rượu vang hoặc 330ml bia. Để phòng ngừa đột quỵ, bác sĩ Vũ cho biết, bên cạnh kiểm soát bệnh nền như: tăng huyết áp, tiểu đường, rối loạn mỡ máu…, duy trì lối sống lành mạnh là yếu tố quan trọng. Theo đó, mọi người nên: – Ăn nhiều rau xanh, trái cây tươi, giảm muối và chất béo xấu. – Tăng vận động thể chất (ít nhất 30 phút/ngày, 5 ngày/tuần). – Tránh stress, giữ tinh thần ổn định. – Ngưng hút thuốc, hạn chế rượu bia. https://soha.vn/48-tuoi-da-dot-quy-3-lan-tat-ca-deu-do-1-loai-do-uong-quen-thuoc-voi-nhieu-nguoi-viet-198250708182812518.htm

Căn bệnh gây mù lòa không đau, không đỏ, không ngứa

Không đau đớn, không có biểu hiện rõ ràng, bệnh glaucoma âm thầm làm tổn thương dây thần kinh thị giác và có thể dẫn đến mù lòa. Glaucoma (hay còn gọi là cườm nước) là bệnh lý về mắt gây tổn thương dây thần kinh thị giác. Khi dây thần kinh này bị hư hại, thị lực sẽ dần suy giảm và nếu không được phát hiện, điều trị kịp thời, bệnh có thể dẫn đến mù lòa. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), glaucoma là nguyên nhân gây mù lòa phổ biến thứ hai thế giới, chỉ sau đục thủy tinh thể và là nguyên nhân phổ biến nhất gây mù lòa không hồi phục. Tính đến năm 2020, căn bệnh này đã ảnh hưởng tới gần 80 triệu người 40-80 tuổi. Tổn thương do cườm thường diễn ra âm thầm, không gây đau đớn hay dấu hiệu rõ ràng ban đầu. Nhiều người chỉ phát hiện ra bệnh khi thị lực đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Vì sao bạn có thể mắc glaucoma? Theo Viện Hàn lâm Nhãn khoa Mỹ (AAO), bên trong mắt luôn sản sinh một lượng dịch trong suốt gọi là dịch thể nước, giúp nuôi dưỡng các mô và duy trì hình dạng mắt. Bình thường, lượng dịch này sẽ được thoát ra ngoài qua một “góc thoát” giữa giác mạc và mống mắt, giúp duy trì áp lực mắt (nhãn áp) ở mức ổn định. Tuy nhiên, nếu hệ thống thoát dịch hoạt động không hiệu quả hoặc bị tắc nghẽn, dịch bị ứ đọng, khiến nhãn áp tăng cao. Áp lực này dồn lên dây thần kinh thị giác, từng sợi thần kinh nhỏ dần sẽ bị phá hủy và người bệnh bắt đầu xuất hiện các điểm mù trong tầm nhìn. Khi phần lớn sợi thần kinh bị tổn thương, thị lực sẽ mất đi vĩnh viễn. Các dạng glaucoma thường gặp Thông thường, người bệnh phải đối mặt với 5 dạng cườm nước chính: Glaucoma góc mở: Là dạng phổ biến nhất. Bệnh tiến triển âm thầm, không gây đau, không có triệu chứng rõ ràng ở giai đoạn đầu. Tầm nhìn bên (ngoại vi) bắt đầu giảm, nhưng người bệnh khó nhận ra cho đến khi bệnh đã khá nặng. Glaucoma góc đóng (góc hẹp): Xảy ra khi mống mắt trượt về phía trước, làm bít tắc góc thoát dịch. Điều này khiến nhãn áp tăng nhanh, gây cơn đau dữ dội, buồn nôn, đỏ mắt, nhìn mờ, thấy quầng sáng quanh đèn. Đây là tình trạng khẩn cấp và cần được xử trí ngay để tránh mù lòa. Glaucoma áp lực bình thường: Nhãn áp không cao nhưng dây thần kinh thị giác vẫn bị tổn thương, có thể do giảm tưới máu hoặc các yếu tố nhạy cảm khác. Glaucoma sắc tố: Các hạt sắc tố bong ra từ mống mắt và tích tụ tại góc thoát dịch, cản trở quá trình dẫn lưu dịch. Người bệnh có thể thấy mờ mắt, nhìn quầng sáng, nhất là sau vận động mạnh. Glaucoma ở trẻ em: Một số trẻ có thể mắc bệnh bẩm sinh hoặc trong những năm đầu đời. Triệu chứng bao gồm mắt mờ đục, chảy nước mắt dù không khóc, nhạy sáng, hay chớp mắt, kèm cận thị tiến triển nhanh. Dấu hiệu nhận biết Nhiều trường hợp glaucoma không biểu hiện bất thường trong thời gian đầu. Tuy nhiên, theo Mayo Clinic, bạn cần chú ý nếu xuất hiện các dấu hiệu sau: Thị lực mờ dần, đặc biệt ở vùng nhìn bên Nhìn thấy quầng sáng hoặc vòng màu quanh ánh đèn Đau nhức mắt, đau đầu kéo dài Mắt đỏ, cảm giác nặng hoặc căng trong mắt Buồn nôn, nôn (trong cơn cấp) Nếu các triệu chứng xuất hiện đột ngột, đặc biệt là đau mắt dữ dội kèm nhìn mờ, cần đến bệnh viện ngay vì đây có thể là dấu hiệu của cơn glaucoma cấp tính, cần được cấp cứu kịp thời để cứu thị lực. Những ai dễ mắc glaucoma? Nguy cơ mắc cườm nước tăng lên theo tuổi, đặc biệt ở những người từ 40 tuổi trở lên. Nếu trong gia đình từng có người bị cườm mắt, bạn cũng dễ bị ảnh hưởng do yếu tố di truyền. Ngoài ra, những người mắc các tật khúc xạ nặng như cận thị hoặc viễn thị, từng chấn thương mắt hay đã trải qua phẫu thuật mắt cũng thuộc nhóm nguy cơ. Người làm dụng thuốc nhỏ mắt chứa corticoid cũng có nguy cơ bị cườm mắt. Ảnh: Adobe Stock. Cuốn sách “Siêu tổ chức con người” của tác giả Rodney Dietert đem tới cho bạn đọc những kiến thức hữu ích để bảo vệ hàng rào đề kháng tự nhiên của cơ thể và xây dựng lối sống lành mạnh. Việc sử dụng thuốc corticoid kéo dài, đặc biệt là dạng nhỏ mắt, có thể ảnh hưởng đến áp lực nội nhãn và góp phần làm tăng khả năng mắc bệnh. Glaucoma cũng dễ xuất hiện hơn ở những người có bệnh lý mạn tính như tiểu đường, cao huyết áp, đau nửa đầu. Glaucoma có chữa khỏi không? Tổn thương do cườm nước gây ra không thể hồi phục, nhưng nếu phát hiện sớm và điều trị đúng cách, bệnh có thể kiểm soát được và làm chậm quá trình mất thị lực. Các phương pháp điều trị gồm dùng thuốc nhỏ mắt, laser và phẫu thuật. Dù việc điều trị có thể cải thiện được tình trạng bệnh, tuy nhiên, cách tốt nhất vẫn là ngăn ngừa nguy cơ mắc bệnh ngay từ đầu: Khám mắt định kỳ theo độ tuổi hoặc khuyến cáo riêng nếu bạn thuộc nhóm nguy cơ cao Hiểu về tiền sử bệnh lý trong gia đình, đặc biệt nếu người thân từng bị cườm nước Bảo vệ mắt khi chơi thể thao hoặc làm việc trong môi trường nguy hiểm

Đặt Lịch Khám

    Đặt Lịch Khám