
Ngày 03/7/2000 Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội đã ban hành quyết định số 67/QĐ-UB về việc đổi tên “Trung tâm y tế dự phòng than Khu vực Nội Địa” thành “Bệnh viện Bắc Thăng Long” Từ đây Bệnh viện đã trực thuộc Sở Y tế Hà Nội và hoạt động theo đúng ngành dọc của mình. Trụ sở đóng tại: Tổ 18, thị trấn Đông Anh, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.
Bệnh viện Bắc Thăng Long ngày nay với quy mô 420 giường bệnh, 28 khoa, phòng chức năng và 2 bộ phận…

Phó giám đốc Bệnh viện

Phó giám đốc Bệnh viện

Phó giám đốc Bệnh viện

Dù máy móc hiện đại chỉ mất vài giây để chụp X-quang, cơ quan Bảo hiểm xã hội vẫn yêu cầu quy trình phải kéo dài đủ 6 phút mới thanh toán, khiến nhiều bệnh viện bị xuất toán chi phí. Tại hội nghị triển khai công tác khám chữa bệnh năm 2026 ngày 2/2, nhiều bệnh viện phản ánh tình trạng bị cơ quan Bảo hiểm xã hội (BHXH) từ chối thanh toán (xuất toán) chi phí chẩn đoán hình ảnh vì “thời gian thực hiện nhanh hơn định mức”. Cục trưởng Quản lý khám chữa bệnh Hà Anh Đức cho biết quy trình này do Cục xây dựng trước đây nhưng khi áp dụng thực tế lại nảy sinh vấn đề. “Một ca chụp X-quang phải đủ 6 phút, siêu âm phải đủ 30 phút, nhanh hơn thời gian này bảo hiểm y tế không thanh toán. Cục ‘đẻ’ ra quy trình thế đấy, giờ phải làm thế nào cho tốt”, ông Đức đặt vấn đề. Làm rõ nguyên nhân tranh cãi, ông Nguyễn Trọng Khoa, Phó cục trưởng Cục Quản lý Khám chữa bệnh, cho biết mốc thời gian 6 phút hay 30 phút thực chất là định mức kinh tế – kỹ thuật để xây dựng giá dịch vụ y tế, dựa trên nền tảng công nghệ cũ trước đây. Tuy nhiên, vướng mắc nảy sinh khi cơ quan bảo hiểm sử dụng định mức trung bình này làm “thước đo cứng” để giám định. Cụ thể, nếu bệnh viện thực hiện ca chụp nhanh hơn 6 phút – điều rất bình thường với các dòng máy kỹ thuật số hiện đại – hệ thống sẽ cảnh báo sai quy trình và từ chối thanh toán. “Không có lý gì chụp X-quang 6 phút lại chỉ tính thời gian trên máy”, ông Khoa phản biện. Thực tế, quy trình một ca chụp không chỉ là vài giây máy phát tia, mà bao gồm toàn bộ chuỗi thao tác, từ lúc tiếp nhận bệnh nhân, chuẩn bị tư thế, thực hiện kỹ thuật, cho đến khi xử lý hình ảnh, đọc và trả kết quả. Lãnh đạo Cục Quản lý Khám chữa bệnh nhấn mạnh việc áp dụng quy tắc giám định này là không đúng bản chất chuyên môn. Thời gian thực hiện phụ thuộc vào tay nghề bác sĩ và độ khó của từng ca bệnh. Ca dễ chỉ một phút là xác định được, nhưng ca khó thì 15-20 phút mới xong một ca siêu âm, vì vậy “không thể cứng nhắc bắt buộc tất cả phải giống nhau”. Để tháo gỡ tình trạng “bác sĩ ngồi chờ đủ giờ”, Bộ Y tế đã họp với Hội Điện quang và Y học hạt nhân, đồng thời khảo sát thực tế toàn quốc. Cục Quản lý Khám chữa bệnh đang dự thảo văn bản gửi Bộ Tài chính và BHXH Việt Nam đề nghị xem xét lại quy tắc giám định này. Quan điểm của cơ quan chuyên môn là thời gian định mức chỉ nên dùng làm căn cứ tính giá (định mức kinh tế), không phải điều kiện thanh toán. Bộ Y tế đề xuất điều chỉnh theo hướng đưa ra khoảng thời gian trung bình với biên độ dao động nới rộng để phù hợp thực tiễn. Việc giám định cần tập trung vào tính hợp lý của chỉ định và hiệu quả điều trị thay vì bắt bẻ thời gian kỹ thuật. “Việc giám định cần tập trung vào chỉ định có đúng yêu cầu không, có lãng phí không, thay vì bắt bẻ về thời gian kỹ thuật”, ông Khoa nêu quan điểm. Cũng tại hội nghị, vấn đề nợ đọng thanh toán bảo hiểm y tế được nhiều đơn vị quan tâm. Ông Hoàng Trung Tuấn, Phó vụ trưởng Vụ Bảo hiểm Y tế, cho biết tổng số tiền vướng mắc chưa được thanh toán giữa cơ sở khám chữa bệnh và cơ quan bảo hiểm hiện lên tới gần 23.000 tỷ đồng. Trong đó, hơn 10.000 tỷ đồng là các khoản tồn đọng từ năm 2023 trở về trước đang được Bộ Y tế trình Chính phủ xử lý. Riêng năm 2024, số tiền vượt dự kiến chi vào khoảng hơn 8.000 tỷ đồng. Bộ Y tế đề nghị các địa phương gấp rút rà soát để giải quyết dứt điểm trong đợt này. https://vnexpress.net/chup-x-quang-chi-vai-giay-vi-sao-phai-du-6-phut-moi-duoc-thanh-toan-5013281.html

Cục Quản lý Khám chữa bệnh – Bộ Y tế hoả tốc đề nghị các cơ sở khám, chữa bệnh tăng cường thực hiện, kiểm tra, giám sát thực hiện kiểm soát nhiễm khuẩn tại các cơ sở khám, chữa bệnh, thực hiện cách ly nghiêm ngặt tất cả các trường hợp nghi ngờ hoặc xác định mắc virus Nipah tại cơ sở điều trị. Bệnh do virus Nipah là bệnh truyền nhiễm nhóm A, có tỉ lệ tử vong được ghi nhận dao động từ 40-75%, hiện chưa có vắc xin và thuốc điều trị đặc hiệu. Cục quản lý Khám chữa bệnh – Bộ Y tế tối 27/1 đã có văn bản hoả tốc gửi các Bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế; Y tế các Bộ, ngành; Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc chủ động phòng chống bệnh do virus Nipah. Bệnh do virus Nipah là bệnh truyền nhiễm nhóm A, có tỉ lệ tử vong được ghi nhận dao động từ 40-75%, hiện chưa có vắc xin và thuốc điều trị đặc hiệu. Theo Cục Quản lý Khám chữa bệnh, virus lây truyền chủ yếu từ động vật sang người, hoặc tiếp xúc với vật phẩm, thực phẩm bị nhiễm virus và cũng có thể lây truyền từ người sang người (qua tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết, dịch bài tiết của bệnh nhân); thời gian ủ bệnh trong khoảng 4-14 ngày, người nhiễm virus có thể có các triệu chứng: đau đầu, đau cơ, nôn mửa và đau họng, sau đó có thể xuất hiện chóng mặt, buồn ngủ, rối loạn ý thức và các dấu hiệu thần kinh cho thấy viêm não cấp tính. Theo hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm, từ ngày 27/12/2025 – 26/1/2026, Ấn Độ ghi nhận 5 trường hợp nghi ngờ mắc bệnh do virus Nipah, trong đó có 2 trường hợp được xét nghiệm khẳng định, tại một bệnh viện thuộc bang Tây Bengal. Trước nguy cơ bệnh do virus Nipah xâm nhập vào Việt Nam, thực hiện chỉ đạo của lãnh đạo Bộ Y tế, để chủ động phòng chống bệnh do virus Nipah, Cục Quản lý Khám, chữa bệnh đề nghị các cơ sở khám bệnh chữa bệnh trực thuộc Bộ Y tế, Y tế các Bộ, ngành và Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trực thuộc thực hiện các nội dung, cụ thể: Tăng cường công tác phòng, chống dịch bệnh, thực hiện các biện pháp phòng hộ cá nhân đối với nhân viên y tế và người tiếp xúc gần với các trường hợp nghi ngờ hoặc xác định mắc bệnh trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, đặc biệt lưu ý các trường hợp mới đến nước đã hoặc đang có dịch trong vòng 14 ngày. TIN LIÊN QUAN Tăng cường thực hiện, kiểm tra, giám sát thực hiện kiểm soát nhiễm khuẩn tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, thực hiện cách ly nghiêm ngặt tất cả các trường hợp nghi ngờ hoặc xác định mắc virus Nipah tại cơ sở điều trị. Thường xuyên theo dõi, cập nhật thông tin về tình hình dịch bệnh trên thế giới, truyền thông về tình hình dịch bệnh để người dân không hoang mang lo lắng và thực hiện tốt các biện pháp phòng bệnh. Phát hiện sớm các trường hợp nghi ngờ mắc bệnh để cách ly, chẩn đoán, điều trị và kiểm soát. Để chủ động, phòng chống dịch bệnh do virus Nipah, Bộ Y tế đã khuyến cáo người dân thực hiện tốt các biện pháp sau: 1. Hạn chế đến khu vực có dịch bệnh do virus Nipah nếu không thực sự cần thiết. 2. Tự theo dõi sức khỏe, trong vòng 14 ngày kể từ khi về từ vùng dịch, nếu có các triệu chứng như: đau đầu, đau cơ, nôn mửa và đau họng, chóng mặt, buồn ngủ, lú lẫn, co giật cần liên hệ ngay với cơ sở y tế gần nhất, hạn chế tiếp xúc với người khác, thông báo rõ tiền sử dịch tễ cho nhân viên y tế. 3. Đảm bảo vệ sinh thực phẩm: thực hiện “Ăn chín, uống sôi”, rửa sạch và gọt vỏ trái cây trước khi ăn, không ăn, uống các loại trái cây có dấu hiệu bị động vật (dơi, chim) cắn hoặc gặm nhấm; tránh uống nước nhựa cây (như nhựa cây thốt nốt, nhựa dừa sống hoặc chưa qua chế biến). 4. Không tiếp xúc gần với động vật có khả năng lây truyền cao như là dơi ăn quả; thường xuyên rửa tay bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn sau khi giết mổ, tiếp xúc với động vật. 5. Hạn chế tiếp xúc trực tiếp với người bệnh, vật phẩm ô nhiễm từ người bệnh; cần sử dụng khẩu trang, găng tay và đồ bảo hộ cá nhân khi chăm sóc, điều trị người nghi ngờ, mắc bệnh, sau đó rửa tay bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn. https://moh.gov.vn/thong-tin-chi-dao-dieu-hanh/-/asset_publisher/DOHhlnDN87WZ/content/bo-y-te-hoa-toc-nhac-cac-co-so-kham-chua-benh-chu-ong-phong-chong-benh-do-virus-nipah?inheritRedirect=false&redirect=https%3A%2F%2Fmoh.gov.vn%3A443%2Fthong-tin-chi-dao-dieu-hanh%3Fp_p_id%3D101_INSTANCE_DOHhlnDN87WZ%26p_p_lifecycle%3D0%26p_p_state%3Dnormal%26p_p_mode%3Dview%26p_p_col_id%3Drow-3-column-3%26p_p_col_count%3D2 Đọc thêm: [Infographic] – 5 điều cần lưu ý để phòng bệnh do virus Nipah Bộ Y tế: Việt Nam chưa ghi nhận trường hợp mắc bệnh do virus Nipah Chuyên gia khuyến cáo chủ động phòng tránh dịch bệnh do virus Nipah

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã thành công tốt đẹp và bế mạc trong không khí trang trọng, trách nhiệm và tràn đầy niềm tin và hy vọng. Đại hội không chỉ khép lại một nhiệm kỳ với nhiều dấu ấn quan trọng, mà quan trọng hơn, đã mở ra một kỷ nguyên phát triển mới của đất nước – thời kỳ được dẫn dắt bởi tầm nhìn chiến lược dài hạn, khát vọng vươn lên mạnh mẽ và quyết tâm nâng cao năng lực quản trị quốc gia, nâng cao hình ảnh, vị thế Việt Nam trong thời đại mới. Theo định hướng lớn mà Đại hội XIV đề ra, phát triển đất nước trong giai đoạn tới phải dựa trên tự chủ chiến lược, đổi mới mô hình tăng trưởng, phát huy mạnh mẽ khoa học- công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đồng thời hoàn thiện thể chế phát triển, nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thực thi. Đây không chỉ là những mục tiêu phát triển, mà là những lựa chọn chiến lược có tính nền tảng, định hình tương lai đất nước trong trung và dài hạn. Đại hội của tầm nhìn chiến lược và lựa chọn phát triển đúng Một điểm nổi bật của Đại hội XIV là việc xác lập tầm nhìn phát triển dài hạn, gắn kết chặt chẽ các mục tiêu của giai đoạn 2026- 2030 với tầm nhìn đến năm 2045. Đại hội nhấn mạnh yêu cầu xây dựng mô hình tăng trưởng mới, chuyển mạnh từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu, từ dựa nhiều vào khai thác tài nguyên và lao động giản đơn sang dựa vào tri thức, công nghệ, năng suất, chất lượng và hiệu quả. Đại hội xác định rõ khoa học- công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực chủ yếu của tăng trưởng, đồng thời khẳng định vai trò quan trọng của kinh tế tư nhân trong việc huy động và phát huy các nguồn lực xã hội cho phát triển. Cùng với đó là yêu cầu thực hiện đồng bộ các chuyển đổi lớn: chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong bối cảnh thế giới tiếp tục biến động nhanh, cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt và tái cấu trúc chuỗi giá trị toàn cầu diễn ra sâu rộng, Đại hội XIV đã chủ động đặt Việt Nam vào quỹ đạo phát triển tự chủ, bền vững và có khả năng thích ứng cao. Có thể khẳng định, Đại hội XIV đã lựa chọn con đường phát triển đúng đắn cho tương lai đất nước, hướng đến 2 mục tiêu quan trọng: 100 năm thành lập Đảng và 100 thành lập nước. Đại hội mở ra một giai đoạn cải cách mạnh mẽ về thể chế và tổ chức thực thi Không né tránh những vấn đề đặt ra từ thực tiễn, Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện thể chế, đổi mới tổ chức bộ máy và nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi. Theo tinh thần Đại hội, thể chế không chỉ là khuôn khổ pháp luật, mà là yếu tố quyết định chất lượng vận hành của nền kinh tế và của toàn bộ hệ thống quản trị quốc gia. Đại hội yêu cầu xác định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ, phân cấp, phân quyền, phân công và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức từ Trung ương đến địa phương; bảo đảm bộ máy vận hành thông suốt, đồng bộ, nhịp nhàng; đồng thời nâng cao chất lượng giám sát, phản biện và trách nhiệm giải trình. Tinh thần cải cách được thể hiện rõ ở yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy kiến tạo phát triển và phục vụ, lấy hiệu quả thực tế, sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo. Điều đó cho thấy, trong giai đoạn phát triển mới, cải cách thể chế không còn là yêu cầu mang tính dài hạn, mà đã trở thành nhiệm vụ hành động cấp bách. Đại hội củng cố niềm tin xã hội – nguồn lực phát triển quan trọng nhất Thành công của Đại hội XIV còn được thể hiện ở sự đồng thuận cao trong Đảng, sự quan tâm rộng rãi và kỳ vọng lớn của nhân dân. Đại hội tiếp tục khẳng định tư tưởng “Dân là gốc”, coi người dân vừa là trung tâm, vừa là chủ thể của sự phát triển. Niềm tin xã hội được củng cố trên ba nền tảng quan trọng: đường lối phát triển rõ ràng, nhất quán và có tầm nhìn dài hạn; quyết tâm chính trị mạnh mẽ trong đổi mới và cải cách; và trách nhiệm tổ chức thực hiện được đặt lên vị trí trung tâm. Đại hội nhấn mạnh, phát triển không chỉ nhằm đạt các mục tiêu tăng trưởng, mà quan trọng hơn là nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội và củng cố sự gắn kết xã hội. Khi niềm tin được củng cố, xã hội sẽ hình thành sức mạnh cộng hưởng, khơi dậy khát vọng cống hiến và tinh thần sáng tạo trong toàn dân. Đây chính là nguồn lực nội sinh bền vững và lâu dài nhất cho sự phát triển của đất nước. Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu tại phiên bế mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Từ tinh thần Đại hội đến hành động quốc gia Đại hội XIV là điểm khởi đầu cho một giai đoạn hành động mới. Đại hội nhấn mạnh yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực tổ

Ngành Y tế quyết tâm xây dựng hệ thống y tế hiện đại, công bằng, hiệu quả, hướng tới bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân, để mọi người dân được sống lâu, sống khỏe, sống lành mạnh. Nhiều mục tiêu vượt bậc Trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân hướng về Đại hội lần thứ XIV của Đảng, ngành Y tế cũng đang nỗ lực với nhiều mục tiêu vượt bậc, hướng tới nền y tế hiện đại, lấy người bệnh làm trung tâm. Về định hướng của ngành Y tế trong giai đoạn mới, Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan cho biết: Năm 2026 là năm đầu của nhiệm kỳ mới, có ý nghĩa quan trọng tạo nền tảng thực hiện các mục tiêu đến năm 2030. Nhiệm kỳ 2026-2030 cũng mở ra một tầm nhìn mới, một kỳ vọng lớn lao đối với sự phát triển của đất nước nói chung và ngành y tế nói riêng. Cả hệ thống chính trị đang bước vào kỳ nguyên phát triển, đòi hỏi ngành y tế phải bứt phá, chủ động và phải quyết tâm thay đổi, ngành Y tế phải khẳng định vai trò trung tâm trong bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, đưa y tế Việt Nam phát triển theo hướng hiện đại, công bằng. Để thực hiện các mục tiêu trong thời gian tới, ngành Y tế tập trung triển khai đồng bộ các nhiệm vụ về xây dựng và hoàn thiện thể chế, kiện toàn tổ chức bộ máy, cải cách hành chính, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, tăng cường y tế dự phòng, bảo đảm cung ứng thuốc, vaccine, đổi mới cơ chế tài chính y tế và mở rộng hợp tác quốc tế… Theo Bộ trưởng Đào Hồng Lan, bước sang giai đoạn 2026-2030, ngành Y tế tiếp tục đổi mới toàn diện theo các định hướng lớn của Đảng và Nhà nước, trọng tâm là Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị và Chỉ thị số 52-CT/TW của Ban Bí thư. Mục tiêu tổng quát là xây dựng hệ thống y tế hiện đại, công bằng, hiệu quả, hướng tới bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân, để mọi người dân được sống lâu, sống khỏe, sống lành mạnh. Ngành Y tế phấn đấu đến năm 2030, tuổi thọ trung bình của người dân tăng lên khoảng 75,5 tuổi; kiểm soát tốt các bệnh không lây nhiễm; duy trì tỷ lệ tiêm chủng cao; cơ bản chấm dứt AIDS, lao và loại trừ sốt rét; bảo đảm an ninh y tế trong mọi tình huống. Bên cạnh đó, các định hướng lớn của ngành như: Hoàn thiện thể chế pháp luật y tế; sắp xếp hệ thống y tế tinh gọn, hiệu quả; nâng cao năng lực y tế cơ sở và y tế dự phòng; phát triển nguồn nhân lực y tế chất lượng cao; bảo đảm tự chủ thuốc, vắc xin và trang thiết bị y tế; đẩy mạnh chuyển đổi số và đổi mới tài chính y tế hướng tới bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân… tạo bước chuyển mạnh mẽ trong nâng cao sức khỏe nhân dân, góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước trong giai đoạn mới. Thực hiện hiệu quả Nghị quyết 72 Chia sẻ bên lề Đại hội lần thứ XIV của Đảng, Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan cho rằng: Thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, cơ chế, chính sách quan trọng nhằm thúc đẩy phát triển ngành y tế. Trong đó, Nghị quyết số 72-NQ/TW do Bộ Chính trị ban hành vừa qua là văn bản định hướng mang tính đột phá, tạo cơ sở cho sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe Nhân dân; trên cơ sở lấy sức khỏe người dân là vốn quý nhất và là trọng tâm cho sự phục vụ. Nghị quyết 72 đã tháo gỡ nhiều “điểm nghẽn” trong lĩnh vực y tế mà thời gian dài vừa qua chưa được giải quyết một cách căn cơ. Trong đó, Nghị quyết đã định hướng thay vì tập trung chủ yếu vào khám bệnh, chữa bệnh; chuyển sang chăm sóc sức khỏe toàn diện; nâng cao vai trò, tầm quan trọng của công tác phòng bệnh; chăm sóc sức khỏe của người dân từ sớm, từ xa… Công tác chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe của nhân dân sẽ gắn chặt với quản lý, chăm sóc sức khỏe toàn diện theo vòng đời. Đến nay, sau ba tháng triển khai Nghị quyết số 72-NQ/TW, dưới sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt của Chính phủ và sự phối hợp chặt chẽ của các Bộ, ngành, việc giải quyết các “điểm nghẽn” trong lĩnh vực y tế đã có những chuyển biến bước đầu. Đối với Bộ Y tế, theo Bộ trưởng Đào Hồng Lan, thời gian tới, Bộ sẽ tiếp tục rà soát, hoàn thiện các quy định, cơ chế nhằm tháo gỡ các “điểm nghẽn”, bảo đảm triển khai đồng bộ các giải pháp đã nêu trong Nghị quyết 72. Bộ Y tế đã đăng ký chương trình xây dựng luật giai đoạn 5 năm tới và các năm tiếp theo; trong đó, nâng cao chất lượng xây dựng thể chế được xác định là một nhiệm vụ trọng tâm, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn và khắc phục những khoảng trống trong quá trình tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân. Theo đó, tại kỳ họp thứ XV của Quốc hội vừa qua, Bộ Y tế đã tham mưu nhiều nhiều nội dung như: Xây dựng Nghị quyết của Quốc hội về các giải pháp đặc thù, đột phá trong lĩnh vực chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân; trình Quốc hội thông qua Luật Phòng

Tên cơ sở hướng dẫn thực hành khám bệnh, chữa bệnh: Bệnh viện Bắc Thăng Long Địa chỉ: Tổ 18 xã Thư Lâm, TP Hà Nội Xem chi tiết tại đây

Ngày 24/01, Bệnh viện Bắc Thăng Long đã tổ chức chương trình khám sức khoẻ định kỳ cho cán bộ xã Thư Lâm, mục đích nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe ban đầu, phát hiện sớm và phòng ngừa các bệnh lý thường gặp. Việc khám sức khoẻ định kỳ cho cán bộ còn là cơ sở để đánh giá, phân loại sức khỏe cán bộ theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế. Nội dung khám bao gồm: khám lâm sàng tổng quát (Nội, Ngoại, Sản, Mắt, Tai mũi họng, Răng hàm mặt…); cận lâm sàng: xét nghiệm, siêu âm…; tư vấn sức khỏe, tư vấn dinh dưỡng, vận động. Hoạt động không chỉ góp phần chăm sóc sức khỏe thể chất mà còn nâng cao nhận thức về phòng bệnh, tự theo dõi và bảo vệ sức khỏe cho đội ngũ cán bộ xã. Dưới đây là một số hình ảnh hoạt động: Phòng CTXH

Xem chi tiết Thông báo 78 tại đây

Ngày 19/01/2026, Giám đốc bệnh viện Bắc Thăng Long đã ký Quyết định số 18/QĐ-BVBTL về việc công nhận kết quả tuyển dụng viên chức năm 2025 Kỳ thi tuyển dụng viên chức năm 2025 là một phần trong kế hoạch phát triển nhân lực giai đoạn mới của Bệnh viện Bắc Thăng Long, hướng tới mục tiêu xây dựng đội ngũ y tế chuyên nghiệp, tận tâm, vững chuyên môn, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của người dân. Công tác tổ chức thi tuyển được chuẩn bị chu đáo từ cơ sở vật chất, trang thiết bị đến quy trình coi thi và chấm thi. Hội đồng tuyển dụng đã huy động đội ngũ cán bộ có kinh nghiệm, phối hợp cùng các khoa/phòng chức năng để đảm bảo kỳ thi diễn ra nghiêm túc, đúng quy định, không để xảy ra sai sót. Sau 1 tuần làm việc khẩn trương, nghiêm túc, công tâm và trách nhiệm. Hội đồng tuyển dụng đã lựa chọn được những người có năng lực, chuyên môn, phẩm chất tốt và tinh thần trách nhiệm cao, sẵn sàng cống hiến lâu dài cho bệnh viện và sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân. Xem chi tiết Quyết định 18 tại đây

Chính phủ vừa chính thức ban hành Nghị định số 50/2026/NĐ-CP, mở ra cơ chế ưu đãi chưa từng có: Giảm sâu tiền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân khi chuyển mục đích từ đất vườn, ao, đất nông nghiệp sang đất ở. Đây được xem là “chìa khóa” tháo gỡ điểm nghẽn tài chính, giúp người dân dễ dàng hợp thức hóa quyền sử dụng đất. Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 50/2026 quy định chi tiết Nghị quyết số 254/2025 của Quốc hội. Điểm nhấn quan trọng nhất của Nghị định này là các quy định “cởi trói” về tài chính đất đai, đặc biệt là cách tính tiền sử dụng đất đối với đất vườn, ao gắn liền với nhà ở. Chính phủ chính thức ban hành Nghị định hướng dẫn giảm tiền sử dụng đất cho người dân khi chuyển mục đích sử dụng đất. Theo quy định mới tại Nghị định 50/2026, các hộ gia đình, cá nhân khi thực hiện chuyển mục đích sử dụng đất từ đất vườn, ao, đất nông nghiệp (có nguồn gốc gắn liền với đất ở) sang đất ở sẽ được hưởng mức ưu đãi đặc biệt. Cụ thể, công thức tính tiền sử dụng đất mới được áp dụng như sau: Giảm 70% tiền sử dụng đất đối với diện tích nằm trong hạn mức giao đất ở. Giảm 50% tiền sử dụng đất đối với diện tích vượt hạn mức (nhưng không quá 1 lần hạn mức giao đất ở tại địa phương). Đối với phần diện tích vượt quá mức trên (vượt quá 1 lần hạn mức), người dân sẽ phải đóng 100% chênh lệch giữa giá đất ở và giá đất nông nghiệp, không được hưởng chính sách giảm. Giá đất để tính tiền sử dụng đất là giá tại Bảng giá đất do UBND cấp tỉnh ban hành, áp dụng tại thời điểm người dân nộp đủ hồ sơ hợp lệ. Để đảm bảo công bằng và tránh trục lợi chính sách, Nghị định 50/2026 quy định rõ nguyên tắc “một lần cho một hộ gia đình/cá nhân”. Người dân được quyền tự lựa chọn một thửa đất (trong trường hợp sở hữu nhiều thửa đất, kể cả ở các tỉnh/thành phố khác nhau) để áp dụng mức giảm sâu này. Tại đơn đề nghị chuyển mục đích sử dụng đất, chủ sở hữu phải cam kết về việc chưa từng hưởng ưu đãi và chịu hoàn toàn trách nhiệm về cam kết đó. Từ lần chuyển mục đích thứ hai trở đi (trên cùng thửa đất hoặc thửa khác), tiền sử dụng đất sẽ được tính bằng 100% chênh lệch giữa tiền sử dụng đất theo giá đất ở và giá đất nông nghiệp tại thời điểm có quyết định cho phép chuyển mục đích. Cảnh báo: Nếu cơ quan chức năng phát hiện người dân đã hưởng ưu đãi nhưng vẫn gian dối để xin áp dụng lần nữa, hồ sơ sẽ được chuyển sang cơ quan thuế. Khi đó, người dân không chỉ bị truy thu đủ 100% tiền chênh lệch mà còn phải nộp thêm khoản tiền chậm nộp tính từ thời điểm có quyết định chuyển mục đích sử dụng đất. Nghị định cũng hướng dẫn chi tiết các tình huống pháp lý phức tạp thường gặp trong thực tế. Đối với trường hợp tách hộ: Hộ gia đình mới hình thành do tách hộ theo quy định pháp luật vẫn được tính là một đối tượng độc lập để hưởng chính sách ưu đãi này. Trường hợp đất đồng sở hữu (nhiều hộ/cá nhân chung quyền): Nếu đã tách thửa riêng, mỗi hộ/cá nhân được tính diện tích trong hạn mức theo từng thửa đất đã có sổ hồng riêng. Nếu không tách thửa, hạn mức giao đất ở chỉ được tính cho một người đại diện của nhóm đồng sở hữu, không được cộng dồn hạn mức của tất cả các thành viên. Đáng chú ý, việc xác định số lần chuyển mục đích, hạn mức giao đất và lựa chọn thửa đất để áp dụng ưu đãi này được tính mốc thời gian từ ngày 01/8/2024. Bên cạnh tin vui cho người dân, Nghị định 50/2026 cũng quy định rõ cơ chế tài chính cho các nhà đầu tư dự án. Theo đó, nếu nhà đầu tư tự nguyện ứng trước kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư (theo phương án đã duyệt), số tiền này sẽ được khấu trừ vào tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp. Việc khấu trừ áp dụng cho toàn bộ dự án hoặc theo từng quyết định giao đất (đối với dự án giao đất nhiều lần theo tiến độ). Tuy nhiên, Nghị định lưu ý khoản tiền ứng trước này sẽ không được khấu trừ cho khoảng thời gian sử dụng đất tăng thêm do được gia hạn hoặc điều chỉnh thời gian sử dụng đất. Nghị định số 50/2026 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 31/01/2026. https://vnbusiness.vn/chinh-thuc-giam-toi-70-tien-su-dung-dat-khi-chuyen-doi-dat-vuon-ao-sang-dat-o.html

Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Thông tư 59/2025/TT-BKHCN quy định về bảo đảm an toàn bức xạ và ứng phó sự cố bức xạ và hạt nhân, trong đó quy định về bảo đảm an toàn bức xạ trong y tế. Yêu cầu chung về bảo đảm an toàn đối với thiết bị bức xạ, thiết bị sử dụng trong y học hạt nhân Thông tư nêu rõ các yêu cầu chung về bảo đảm an toàn đối với thiết bị bức xạ, thiết bị sử dụng trong y học hạt nhân: Thiết bị bức xạ sử dụng cho chẩn đoán, điều trị bệnh và thiết bị được sử dụng trong y học hạt nhân phải có chứng chỉ chất lượng thể hiện việc đáp ứng các yêu cầu về bảo đảm an toàn theo tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. Trường hợp không có tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia thì áp dụng tiêu chuẩn quốc tế tương đương của Ủy ban Kỹ thuật điện quốc tế (IEC), Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO). Có tài liệu kèm theo thiết bị, bao gồm tài liệu về thông số kỹ thuật của thiết bị, hướng dẫn vận hành và bảo trì, hướng dẫn an toàn. Tài liệu hướng dẫn vận hành, hướng dẫn an toàn phải được dịch ra tiếng Việt. Chỉ dẫn vận hành, ký hiệu viết tắt và giá trị vận hành trên bảng điều khiển của thiết bị bức xạ phải bằng tiếng Việt hoặc bằng ngôn ngữ phù hợp với ngôn ngữ mà người vận hành máy sử dụng. Thiết bị bức xạ phải có cơ cấu kiểm soát chùm tia bức xạ, bảo đảm chỉ thị rõ ràng và tin cậy trạng thái chùm tia đang “ngắt” hay “mở”. Thiết bị bức xạ phải có cơ cấu để khu trú chùm tia cho mục đích kiểm soát chùm tia chỉ vào vùng cơ thể người bệnh cần chẩn đoán hoặc điều trị. Trường bức xạ phát ra trong vùng để chẩn đoán hay điều trị trên người bệnh phải đồng đều; mức độ không đồng đều của trường bức xạ phải được nhà cung cấp chỉ rõ trong tài liệu kỹ thuật của thiết bị. Yêu cầu an toàn đối với thiết bị X-quang chẩn đoán dùng trong y tế Theo Thông tư, thiết bị X-quang chẩn đoán dùng trong y tế ngoài việc thực hiện các yêu cầu chung về bảo đảm an toàn đối với thiết bị bức xạ, thiết bị sử dụng trong y học hạt nhân còn phải bảo đảm các yêu cầu sau: Mức bức xạ rò của đầu bóng phát tia X không vượt quá 1 mGy/giờ tại khoảng cách 1m từ vỏ đầu bóng phát tia X lấy trung bình trên diện tích không vượt quá 100 cm2 cho mọi chế độ làm việc của thiết bị được nhà sản xuất khuyến cáo; giá trị lọc cố định của hệ đầu bóng phát X-quang trong đơn vị milimét nhôm tương đương (mm Al) phải ghi rõ trên vỏ hộp chứa bóng. Có hệ kiểm tra kích thước chùm tia bằng nguồn sáng, trừ thiết bị X- quang chụp răng sử dụng phim đặt sau huyệt ổ răng và thiết bị X-quang chụp vú; các thông số điện áp phát (kV), dòng bóng phát (mA), thời gian phát tia (s) hoặc hàng số phát tia (mAs) phải được hiển thị trên tủ điều khiển khi đặt chế độ làm việc và khi chụp. Đối với thiết bị X-quang có chế độ chụp, việc phát tia phải được chấm dứt sau khi đạt được giá trị đặt trước như: thời gian hoặc giá trị mAs hoặc giá trị liều chiếu xạ. Đối với thiết bị X-quang có chế độ chiếu, chụp phải có bộ kiểm soát chế độ phát tia tự động (AEC) hoặc công tắc điều khiển phát tia dạng bấm và giữ, bảo đảm thiết bị chỉ phát tia nếu công tắc được bấm, giữ chặt và ngừng phát tia khi thả công tắc. Thiết bị X-quang di động phải có cáp nối đủ dài để bảo đảm khoảng cách giữa người vận hành thiết bị và bóng phát tối thiểu 2 mét. Đối với thiết bị bức xạ khác, khoảng cách này tối thiểu là 3m. Thiết bị X-quang tăng sáng truyền hình dùng trong can thiệp phải có các tấm che chắn cao su chì lắp tại bàn người bệnh để che chắn các tia bức xạ ảnh hưởng đến nhân viên và hệ che chắn treo trên trần để sử dụng cho mục đích bảo vệ mắt và tuyến giáp của nhân viên khi theo dõi người bệnh. Các tấm che chắn cao su chì phải bảo đảm có chiều dày che chắn không nhỏ hơn 0,5 milimét chì tương đương. Ngoài ra, Thông tư còn quy định các yêu cầu an toàn đối với thiết bị xạ trị; yêu cầu an toàn đối với nguồn phóng xạ kín và thuốc phóng xạ; yêu cầu an toàn đối với thiết bị đo bức xạ, thiết bị và dụng cụ bảo vệ an toàn bức xạ… Xem chi tiết Thông tư tại đây https://baochinhphu.vn/quy-dinh-bao-dam-an-toan-buc-xa-trong-y-te-102260122105314144.htm

Theo Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng, truyền thông chính sách cần được coi là quy trình bắt buộc trong xây dựng và thi hành pháp luật, thực hiện sớm, bài bản và đồng bộ, nhằm nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận xã hội và bảo đảm hiệu lực thực thi pháp luật. Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng chủ trì Phiên họp của Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật Trung ương – Ảnh: Báo Chính phủ Sáng 15.1, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng, Ủy viên Trung ương Đảng, chủ trì Phiên họp của Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật Trung ương đánh giá kết quả triển khai nhiệm vụ năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026. Phiên họp có sự tham dự của đại diện các bộ, cơ quan ngang bộ cùng các cơ quan báo chí chủ lực như Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam. Đổi mới mạnh mẽ phổ biến, giáo dục pháp luật trong giai đoạn mới Theo Bộ Tư pháp, năm 2025, Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật Trung ương và Bộ Tư pháp – Cơ quan thường trực của Hội đồng – đã chủ động ban hành theo thẩm quyền hoặc tham mưu trình Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Hội đồng ban hành 48 văn bản để triển khai các nhiệm vụ. Đồng thời, đôn đốc, chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương kịp thời tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) đối với các luật, nghị quyết được Quốc hội thông qua tại các kỳ họp thứ 8, 9, 10 và kỳ họp bất thường thứ 9. Trong năm 2025, cả nước đã tổ chức hơn 216.000 hoạt động PBGDPL trực tiếp, thu hút trên 23 triệu lượt người tham dự; tổ chức gần 5.000 cuộc thi tìm hiểu pháp luật với hơn 2 triệu lượt người tham gia. Nhiều bộ, ngành, địa phương triển khai tích cực như Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Tài chính và các tỉnh: Tuyên Quang, Đồng Nai, Tây Ninh, Vĩnh Long, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Thanh Hóa… Cơ quan Thường trực Hội đồng đã tổng hợp, phân loại hàng trăm mô hình PBGDPL hiệu quả, đồng thời chỉ đạo nhân rộng, đặc biệt là các mô hình ứng dụng công nghệ số. Trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, Bộ Tư pháp đã phối hợp các bộ, ngành nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung Nghị định số 55/2019/NĐ-CP; phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức hội thảo nhận diện các điểm nghẽn trong lĩnh vực đất đai; tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Đồng thời, Bộ Tư pháp đã trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình “Hỗ trợ pháp lý liên ngành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh giai đoạn 2026–2030”. Cơ quan Thường trực Hội đồng cũng đã tổ chức các đoàn công tác làm việc với các cơ quan báo chí, truyền thông chủ lực để nắm bắt tình hình triển khai công tác truyền thông chính sách, PBGDPL. Nhân rộng mô hình hiệu quả, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số Các cơ quan báo chí trung ương đã chủ động tham gia sâu vào truyền thông chính sách. Đài Truyền hình Việt Nam xây dựng chuyên mục “Tiêu điểm chính sách” về các chính sách có tác động lớn đến xã hội, được người dân và doanh nghiệp ghi nhận, đánh giá cao. Nhiều bộ, ngành, cơ quan trung ương như Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Y tế, Bộ Tư pháp cùng các cơ quan báo chí chủ lực đã lồng ghép các chuyên mục, chuyên trang, dòng sự kiện về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả truyền thông chính sách. Thứ trưởng Bộ Tư pháp khẳng định, năm 2025, Hội đồng các cấp đã triển khai nhiệm vụ kịp thời, đa dạng về hình thức, chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số. Kết quả hoạt động của Hội đồng góp phần nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành về vai trò của công tác PBGDPL, trợ giúp pháp lý; bảo đảm quyền được thông tin pháp luật của người dân và doanh nghiệp. Đại diện Bộ Công an cho biết, Bộ đã triển khai nhiều mô hình PBGDPL thiết thực như phối hợp tuyên truyền pháp luật cho phạm nhân tại các trại giam; tổ chức các cuộc thi viết, cấp phát hàng nghìn đầu sách pháp luật, tủ sách pháp luật. Đồng thời, đổi mới hình thức tuyên truyền pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa, gắn nội dung pháp luật với đời sống thực tiễn. Truyền thông chính sách phải đồng bộ, bài bản Phát biểu kết luận phiên họp, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ghi nhận và đánh giá cao những nỗ lực, kết quả đạt được của Hội đồng trong năm 2025, góp phần nâng cao hiệu quả công tác PBGDPL, trợ giúp pháp lý và hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Tuy nhiên, Phó Thủ tướng cũng chỉ rõ một số tồn tại, hạn chế như tiến độ thực hiện một số nhiệm vụ còn chậm, phối hợp liên ngành chưa chặt chẽ; truyền thông chính sách chưa thực sự hiệu quả, việc bố trí và sử dụng kinh phí còn vướng mắc. Nhấn mạnh nhiệm vụ năm 2026, Phó Thủ tướng

Trong bức tranh phát triển kinh tế – xã hội hiện nay, thanh niên luôn được xác định là lực lượng lao động nòng cốt, giữ vai trò quan trọng trong tăng trưởng và phát triển dài hạn của đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh bộ phận thanh niên có việc làm ổn định, được đào tạo bài bản và tham gia đầy đủ các chính sách an sinh xã hội, vẫn tồn tại một nhóm không nhỏ rơi vào tình trạng “3 không”: không có việc làm, không tham gia học tập và đào tạo. Đây là nhóm đối tượng đang đứng trước nhiều rủi ro và trở thành khoảng trống đáng lo ngại trong hệ thống an sinh xã hội. Theo số liệu thống kê được tổng hợp từ báo cáo của Cục Thống kê (Tổng cục Thống kê – Bộ Tài chính) về tình hình lao động, việc làm quý IV và cả năm 2025, chỉ tính riêng trong quý IV/2025, cả nước có khoảng 1,4 triệu thanh niên không có việc làm, không tham gia học tập và đào tạo, chiếm 10,2% tổng số thanh niên cả nước. Những con số này phản ánh rõ thực trạng một bộ phận người trẻ đang gặp khó khăn trong tiếp cận việc làm bền vững, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với công tác định hướng nghề nghiệp, đào tạo kỹ năng và tạo việc làm cho lao động trẻ trong bối cảnh thị trường lao động đang chịu tác động mạnh mẽ của chuyển đổi số và phát triển khoa học – công nghệ. Thực tế cho thấy, thanh niên “3 không” chủ yếu làm việc trong khu vực phi chính thức, lao động tự do, việc làm thời vụ hoặc ngắn hạn. Thu nhập của nhóm này thường thấp, thiếu ổn định và dễ bị tổn thương trước các cú sốc kinh tế – xã hội. Việc không có hợp đồng lao động đồng nghĩa với việc không được bảo vệ bởi pháp luật lao động, không được tham gia BHXH bắt buộc, không có bảo hiểm thất nghiệp và không có lương hưu khi hết tuổi lao động. Những rủi ro này khiến cuộc sống của người trẻ luôn tiềm ẩn bất ổn, nhất là khi gặp phải các biến cố về sức khỏe hoặc mất nguồn thu nhập. Chia sẻ về thực trạng này, anh Lê Tuấn Hùng, đại diện Công ty Phát triển nhân sự Hoàng Hà (Hà Nội), cho rằng nhiều bạn trẻ cần nhìn nhận lại kỳ vọng nghề nghiệp của bản thân, có cái nhìn thực tế hơn về thị trường lao động và sẵn sàng bắt đầu từ những công việc phù hợp với năng lực hiện có. Theo anh Hùng, việc chấp nhận làm việc, rèn luyện kỷ luật và thái độ nghề nghiệp từ những vị trí ban đầu sẽ tạo nền tảng quan trọng để người trẻ từng bước nâng cao tay nghề, gia tăng giá trị bản thân và mở rộng cơ hội việc làm trong tương lai. Cùng với đó, người trẻ cần chủ động học tập, trang bị thêm kỹ năng mới, mạnh dạn bước ra khỏi vùng an toàn và thích nghi với yêu cầu của thị trường lao động hiện đại. Trong bối cảnh nhiều ngành nghề truyền thống bị thu hẹp, việc tiếp cận kỹ năng số, ngoại ngữ và các kỹ năng mềm trở thành yếu tố then chốt giúp thanh niên nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng tham gia vào khu vực việc làm chính thức. Không chỉ đối mặt với rủi ro về kinh tế, nhóm thanh niên “3 không” còn chịu áp lực lớn về tâm lý. Việc thiếu một “tấm lưới” an sinh khiến nhiều người trẻ sống trong trạng thái lo lắng, bất an, e ngại rủi ro, thậm chí trì hoãn những quyết định quan trọng của cuộc đời như lập gia đình, sinh con hay đầu tư học tập nâng cao kỹ năng. Khoảng trống an sinh vì thế không chỉ là câu chuyện của chính sách, mà còn tác động trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực và sự phát triển bền vững của xã hội trong dài hạn. Thực tế cũng cho thấy, một bộ phận thanh niên hiện nay vẫn còn tâm lý coi trọng thu nhập trước mắt, xem việc tham gia BHXH, BHYT là một khoản chi phí thay vì là sự đầu tư cho tương lai. Khi còn trẻ, khỏe mạnh, nhiều người ít quan tâm đến rủi ro ốm đau, tai nạn hay tuổi già không có nguồn thu nhập ổn định. Chính tâm lý chủ quan này khiến tỷ lệ tham gia BHXH tự nguyện và BHYT hộ gia đình trong nhóm thanh niên “3 không” còn ở mức thấp, làm gia tăng nguy cơ mất an sinh khi gặp biến cố. Trong bối cảnh đó, BHXH và BHYT được xác định là hai trụ cột quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội, góp phần bảo vệ người lao động nói chung và thanh niên nói riêng trước những rủi ro của cuộc sống và thị trường lao động. BHYT giúp người trẻ tiếp cận dịch vụ y tế kịp thời, giảm gánh nặng chi phí khám chữa bệnh, đặc biệt trong những tình huống phát sinh đột ngột. BHXH tự nguyện tạo nền tảng an sinh lâu dài, giúp người lao động có nguồn thu nhập ổn định khi hết tuổi lao động, giảm nguy cơ rơi vào nghèo đói khi về già. Những năm qua, việc tuân thủ Luật BHXH, Luật BHYT trong các cơ quan, doanh nghiệp ngày càng được nâng cao, tạo điều kiện để lao động trẻ tham gia BHXH, BHYT từ sớm và đúng quy định. Tuy nhiên, để thu hẹp khoảng trống an sinh đối với nhóm thanh niên “3 không”, cần có sự vào cuộc đồng bộ của cả

Chỉ trong chưa đầy 30 phút, ê-kíp Bệnh viện Từ Dũ và Nhi Đồng 1 (TP.HCM) đã can thiệp thông tim bào thai thành công, lập dấu mốc ca thực hiện nhanh nhất Việt Nam. Lúc 10h ngày 30/12, ê-kíp bác sĩ chuyên khoa Sản – Can thiệp bào thai – Tim mạch can thiệp của Bệnh viện Từ Dũ phối hợp cùng Bệnh viện Nhi đồng 1 đã thực hiện thành công ca can thiệp thông tim bào thai cho một thai nhi mắc tim bẩm sinh phức tạp. Với thời gian thực hiện dưới 30 phút, đây được xem là ca thông tim bào thai nhanh nhất từ trước đến nay tại Việt Nam, đánh dấu bước tiến nổi bật của y học bào thai trong nước. Thai nhi được chẩn đoán hẹp van động mạch phổi nặng kèm thiểu sản thất phải tiến triển, một dạng tim bẩm sinh phức tạp, có nguy cơ cao diễn tiến thành tim một thất sau sinh nếu không được can thiệp kịp thời. Thai phụ là chị N.T.T.T. (26 tuổi, ngụ TP.HCM), mang thai lần hai, thai kỳ tự nhiên. Chồng của thai phụ là người Malaysia, luôn đồng hành và phối hợp chặt chẽ cùng gia đình và đội ngũ y tế trong suốt quá trình theo dõi, hội chẩn và quyết định can thiệp. Theo hồ sơ theo dõi, ở tam cá nguyệt thứ nhất, các lần khám thai chưa ghi nhận bất thường. Xét nghiệm sàng lọc trước sinh NIPT cho kết quả nguy cơ thấp. Tuy nhiên, đến khoảng tuần thai 22-24, qua siêu âm tim thai chuyên sâu, các bác sĩ phát hiện bất thường tim bẩm sinh gồm hẹp van động mạch phổi nặng kèm hở van ba lá. Thai phụ sau đó được chuyển đến theo dõi và hội chẩn tại Bệnh viện Từ Dũ và Bệnh viện Nhi đồng 1. Kết quả chọc ối phân tích nhiễm sắc thể cho thấy thai nhi có bộ nhiễm sắc thể bình thường, tạo cơ sở quan trọng để các bác sĩ cân nhắc chỉ định can thiệp. Trong quá trình theo dõi tiếp theo, bệnh lý tim thai tiến triển nhanh, thất phải ngày càng thiểu sản cả về hình thái lẫn chức năng, làm gia tăng nguy cơ phải điều trị theo lộ trình tim một thất sau sinh. Sau nhiều buổi hội chẩn liên viện, các bác sĩ thống nhất chỉ định can thiệp thông tim bào thai, nhằm cải thiện dòng máu qua van động mạch phổi, tạo điều kiện cho thất phải tiếp tục phát triển trong tử cung. Mục tiêu là mở rộng cơ hội bảo tồn chiến lược tim hai thất hoặc 1,5 thất sau sinh, tránh cho trẻ phải đi theo lộ trình điều trị tim một thất phức tạp và kéo dài. Thực tế can thiệp gặp không ít thách thức. Tại thời điểm làm thủ thuật, thai nhi ở tư thế ngôi đầu, nghiêng trái, bánh nhau mặt trước, làm gia tăng mức độ khó. Đặc biệt, cánh tay thai nhi vắt ngang trước ngực, che khuất hoàn toàn đường vào buồng tim. Trước tình huống này, ê-kíp đã linh hoạt thực hiện một thủ thuật hỗ trợ nhỏ để di chuyển chi thai, nhanh chóng tạo điều kiện tiếp cận tim thai an toàn. Sau khi tối ưu tư thế, quá trình xuyên kim qua thành bụng mẹ – tử cung – lồng ngực thai nhi và bơm bóng nong van động mạch phổi được thực hiện thuận lợi. Ca can thiệp thành công ngay lần xuyên kim đầu tiên, giúp rút ngắn tối đa thời gian thủ thuật, hạn chế nguy cơ cho cả mẹ và thai nhi. Vợ chồng sản phụ hạnh phúc vì con ổn định sau phẫu thuật. Ảnh: Nguyễn Thuận. Trao đổi với báo chí sáng 31/12, bác sĩ chuyên khoa II Trần Ngọc Hải, Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ, cho biết ca can thiệp đã được chuẩn bị rất kỹ lưỡng với tổng cộng 5 ê-kíp, mỗi ê-kíp từ 3 đến 5 người, nâng tổng số nhân lực tham gia lên khoảng 20-25 người. “Trước đây, có những ca rất nặng phải làm kéo dài nhiều giờ, thậm chí phải can thiệp hai lần. Có trường hợp lần đầu mất 4 tiếng, lần thứ hai mất thêm 2 tiếng. Còn với ca này, chúng tôi thực hiện trong dưới 30 phút”, bác sĩ Hải chia sẻ. Theo lãnh đạo Bệnh viện Từ Dũ, Bộ Y tế xếp kỹ thuật thông tim bào thai vào danh mục phẫu thuật đặc biệt, đồng thời đánh giá đây là dấu mốc của một bước tiến rất lớn của y học Việt Nam. Bởi đây là kỹ thuật rất mới, rất hiếm và chỉ có rất ít trung tâm trên thế giới thực hiện được. Bác sĩ Hải thông tin mỗi ca can thiệp cần khoảng 50 thiết bị y tế, gần 25 nhân viên y tế, đồng thời phải chuẩn bị song song hai phòng can thiệp với đầy đủ hệ thống. Chi phí vì vậy cao hơn gần gấp đôi so với can thiệp tim mạch thông thường ở người lớn, nhưng vẫn nằm trong khung giá nhà nước quy định và được bảo hiểm y tế chi trả phần lớn. https://znews.vn/ca-thong-tim-xuyen-qua-bao-thai-nhanh-nhat-viet-nam-post1615623.html

GS. Đặng Văn Ngữ là “cha đẻ” của thuốc kháng sinh Penicillin ở Việt Nam, đồng thời cũng là người có công lớn trong việc đẩy lùi bệnh sốt rét, giúp cứu sống hàng vạn bộ đội, thanh niên xung phong trong thời kỳ kháng chiến. Nhân kỷ niệm 70 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với con trai của Giáo sư – NSND Đặng Nhật Minh để nghe ông kể về cuộc đời của một nhà khoa học tận tụy, một người cha bình dị nhưng để lại một nhân cách lớn cho đời và cho con cháu noi theo. Dấu ấn của những công trình y học GS. Đặng Văn Ngữ sinh năm 1910 trong một gia đình nhà nho ở làng An Cựu (Thừa Thiên Huế). Thuở nhỏ, ông được gia đình cho theo học tiểu học ở Vinh, trung học Huế, sau đó học tiếp tại Hà Nội. Năm 20 tuổi, ông đỗ tú tài và nhận được học bổng theo học tại Trường Y khoa Đông Dương (tiền thân của Trường Đại học Y Dược Hà Nội). Năm 1937, sau 8 năm miệt mài đèn sách, ông bảo vệ thành công luận án áp-xe gan và tốt nghiệp Bác sĩ Y khoa. Với thành tích học tập xuất sắc, ông trở thành người Việt Nam đầu tiên được giữ lại trường làm trợ lý cho GS. Galliard – Chủ nhiệm Bộ môn Ký sinh trùng kiêm Hiệu trưởng Trường Y khoa Đông Dương lúc đó. Khi đang làm trợ giảng thì BS. Đặng Văn Ngữ được cử sang nghiên cứu tại Trường Đại học Y khoa Tokyo (Nhật Bản) trong khuôn khổ trao đổi nghiên cứu sinh giữa hai nước Pháp – Nhật như một đại diện xuất sắc của nền y học Pháp tại Đông Dương. Trong thời gian tu nghiệp ở Nhật, ông tìm ra giống nấm sản xuất Penicillin và công bố 4 công trình khoa học có giá trị. GS. Đặng Văn Ngữ (giữa) đang thuyết trình với Bác Hồ nhân dịp Bác thăm Trường Y – Dược và Khoa Ký sinh trùng. Cùng lúc đó ở miền Bắc, giai đoạn 1949-1950, phong trào kháng chiến chống Pháp phát triển mạnh mẽ, GS. Đặng Văn Ngữ lúc bấy giờ vẫn đang làm việc ở Nhật Bản đã xin về nước để tham gia kháng chiến theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tại Nhật, GS. Đặng Văn Ngữ là Chủ tịch Hội người Việt yêu nước, nhiều lần dẫn đầu đoàn biểu tình của Việt kiều tại Tokyo phản đối thực dân Pháp trở lại xâm chiếm Việt Nam. Vì thế, trước vận mệnh sống còn của Tổ quốc, một trí thức yêu nước như ông không thể đứng ngoài cuộc. Hành trang mang theo ngoài ít vật dụng cá nhân là một ống nấm Souche Penicillium (giống Penicillium) để rồi sau này làm nên cuộc “cách mạng” trong việc điều chế Penicillin kết tinh (bột) và “nước lọc” Penicillin. Vì sao lại gọi là “nước lọc” Penicillin? Mặc dù GS. Đặng Văn Ngữ đã điều chế thành công Penicillin kết tinh (bột) nhưng vấn đề nằm ở chỗ làm thế nào để có thể sản xuất được thật nhiều Penicillin đáp ứng nhu cầu kháng khuẩn của các thương bệnh binh ngoài mặt trận? Làm sao để bất kỳ một cơ sở y tế nào cũng có thể sản xuất được Penicillin, phổ biến nó một cách rộng rãi, thông dụng nhất? Bởi sản xuất Penicillin dạng bột là một công việc đòi hỏi thời gian lâu dài, do vậy, nó không thể thỏa mãn được nhu cầu cấp thiết của quân đội và nhân dân. “Cần một thứ thuốc dễ thực hiện để có thể nhanh chóng chữa lành các vết thương” là điều GS. Đặng Văn Ngữ luôn trăn trở. Và sau nhiều ngày nghiên cứu, GS. Đặng Văn Ngữ và các cộng sự của trường Y đều nhận ra rằng “nước lọc” Penicillin có tác dụng và hiệu lực hơn cả Penicillin kết tinh nếu dùng nó để chữa trị tại chỗ các vết thương nhiễm trùng. Cách thức sản xuất là: lấy nước thân cây ngô có chứa glucose được nấu lên rồi cấy nấm bằng giống của phòng thí nghiệm tạo ra “nước lọc” Penicillin đắp lên vết thương và nó có tác dụng chữa lành, chống nhiễm trùng rất hữu hiệu. GS.Đặng Văn Ngữ và gia đình. Về nước, ông nhận nhiệm vụ lên chiến khu Việt Bắc. Tại đây, ông được gặp Hồ Chủ tịch. Người đã động viên, khích lệ và có ảnh hưởng lớn đến tinh thần yêu nước, nhân cách sống của ông trong suốt cuộc đời nghiên cứu khoa học. Những năm 1950, trong điều kiện nghiên cứu hết sức thô sơ, khó khăn, thiếu thốn cả về nhân lực lẫn vật lực, một phòng labo dã chiến đã được ra đời tại Chiến khu Việt Bắc. Với quyết tâm lớn nhất là phải tìm và sản xuất được kháng sinh như ở các viện mà ông từng làm việc ở Nhật, ông đã sáng tạo bằng cách vận dụng những nguyên liệu dễ kiếm như thân cây ngô, sắn và cả lương khô để điều chế môi trường nuôi cấy nấm, giúp điều chế Penicillin dạng bột và “nước lọc” Penicillin. Trong đó, việc sáng chế ra “nước lọc” Penicillin là một sáng kiến mang tính đột phá với nhiều ưu điểm nổi trội, dùng để chữa trị tại chỗ các vết thương phẫu thuật nhiễm trùng rất hiệu quả. Ngoài ra, “nước lọc” Penicillin còn đáp ứng yêu cầu của cuộc kháng chiến, đó là với sự hướng dẫn của Giáo sư, bất kỳ một cơ sở y tế nào cũng có thể sản xuất được. Việc sản xuất được “nước lọc” Penicillin một cách rộng rãi có ý nghĩa vô cùng đặc biệt, góp phần đắc

Một bước tiến đầy hứa hẹn trong điều trị ung thư tuyến tiền liệt vừa được công bố, mở ra hy vọng mới cho hàng triệu nam giới trên toàn cầu – đặc biệt là những người bị tái phát sau phẫu thuật hoặc xạ trị. Kết quả từ một thử nghiệm lâm sàng giai đoạn III cho thấy sự kết hợp giữa hai loại thuốc đã được Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) chấp thuận, enzalutamide và leuprolide, có thể giảm gần 40% nguy cơ tử vong ở bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt tiến triển tại chỗ. Ung thư tuyến tiền liệt – căn bệnh phổ biến ở nam giới Ung thư tuyến tiền liệt là một trong những loại ung thư thường gặp nhất ở nam giới trên toàn thế giới. Phẫu thuật và xạ trị hiện là hai phương pháp điều trị chính giúp nhiều bệnh nhân có thể khỏi bệnh hoàn toàn. Tuy nhiên, khoảng một phần ba số bệnh nhân vẫn bị tái phát ung thư, thường được phát hiện qua sự gia tăng nồng độ kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt (PSA) – một dấu ấn sinh học cho thấy tế bào ung thư đang hoạt động trở lại, ngay cả khi bệnh chưa biểu hiện triệu chứng. Bệnh nhân có thời gian PSA tăng gấp đôi trong 9 tháng hoặc ngắn hơn được xem là nhóm nguy cơ cao, có khả năng ung thư sẽ di căn đến các cơ quan khác, đặc biệt là xương. Trong khi đó, các lựa chọn điều trị cho nhóm bệnh nhân này hiện vẫn còn hạn chế, khiến việc kiểm soát bệnh hiệu quả trở thành một thách thức lớn đối với y học. Một loại thuốc phối hợp mới làm giảm 40% nguy cơ tử vong do ung thư tuyến tiền liệt. Thử nghiệm EMBARK giai đoạn III – bước ngoặt trong điều trị Những phát hiện mới đến từ thử nghiệm EMBARK giai đoạn III, được công bố mới đây trên Tạp chí Y học New England (The New England Journal of Medicine). Nghiên cứu được tài trợ bởi Pfizer và Astellas Pharma, tuyển chọn hơn 1.000 bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt tái phát nguy cơ cao tại 244 trung tâm ở 17 quốc gia. Các bệnh nhân được chia ngẫu nhiên thành ba nhóm điều trị: Leuprolide đơn trị Enzalutamide đơn trị Phối hợp enzalutamide và leuprolide Hai cơ chế khác biệt – hiệu quả cộng hưởng Enzalutamide là thuốc chẹn thụ thể androgen, giúp ngăn tế bào ung thư sử dụng hormone nam (testosterone) để phát triển. Leuprolide là liệu pháp hormone có tác dụng ức chế sản xuất testosterone trong cơ thể. Trước đây, sự kết hợp giữa hai loại thuốc này đã được FDA phê duyệt cho điều trị ung thư tuyến tiền liệt di căn. Tuy nhiên, nghiên cứu EMBARK đặt ra câu hỏi: Liệu dùng phối hợp này sớm hơn, trước khi bệnh di căn, có thể kéo dài tuổi thọ cho người bệnh hay không. Kết quả nổi bật: Giảm gần 40% nguy cơ tử vong Sau 8 năm theo dõi, kết quả cho thấy: Nhóm điều trị phối hợp (enzalutamide + leuprolide) có tỷ lệ sống sót chung là 78,9%. Nhóm chỉ dùng leuprolide có tỷ lệ sống sót 69,5%. Điều này tương đương với mức giảm nguy cơ tử vong gần 40%. Nhóm chỉ dùng enzalutamide đơn độc có tỷ lệ sống 73%, không khác biệt đáng kể so với nhóm leuprolide đơn trị. Các nhà nghiên cứu kết luận rằng liệu pháp phối hợp không chỉ giúp làm chậm tiến triển bệnh như các thử nghiệm trước đây đã chỉ ra, mà còn kéo dài đáng kể tuổi thọ của bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt tái phát nguy cơ cao. Tính an toàn và dung nạp Nhìn chung, các phản ứng phụ trong thử nghiệm phù hợp với những gì đã được ghi nhận ở các nghiên cứu trước. Các tác dụng không mong muốn thường gặp bao gồm mệt mỏi, bốc hỏa, giảm ham muốn tình dục và đau khớp. Dù vậy, tỷ lệ bệnh nhân phải ngừng điều trị do tác dụng phụ là thấp và không có biến cố nghiêm trọng mới được ghi nhận. Một hạn chế được các tác giả nêu rõ là thử nghiệm không sử dụng kỹ thuật chụp PET PSMA – phương pháp hình ảnh tiên tiến có thể phát hiện các ổ di căn nhỏ mà các kỹ thuật truyền thống bỏ sót. Điều này đồng nghĩa với khả năng một số bệnh nhân có thể đã có di căn chưa được phát hiện, ảnh hưởng đến cách phân nhóm và đánh giá kết quả. Tuy nhiên, chính yếu tố này cũng củng cố giả thuyết rằng liệu pháp kết hợp có thể hiệu quả ngay cả ở giai đoạn rất sớm của bệnh, khi tế bào ung thư chưa lan rộng rõ ràng trên hình ảnh học. Kỳ vọng mới trong điều trị ung thư tuyến tiền liệt Những kết quả của thử nghiệm EMBARK mang lại cơ sở vững chắc để thay đổi cách tiếp cận điều trị ung thư tuyến tiền liệt tái phát nguy cơ cao. Sự phối hợp giữa enzalutamide và leuprolide cho thấy hiệu quả rõ rệt trong việc kéo dài thời gian sống và giảm tỷ lệ tử vong, mở ra một hướng đi mới đầy triển vọng cho bệnh nhân. Nếu được ứng dụng rộng rãi, phác đồ này có thể trở thành tiêu chuẩn điều trị mới, giúp hàng nghìn nam giới trên thế giới có cơ hội sống lâu hơn và khỏe mạnh hơn trong cuộc chiến chống lại căn bệnh ung thư phổ biến này. https://suckhoedoisong.vn/thuoc-phoi-hop-moi-giup-giam-40-nguy-co-tu-vong-do-ung-thu-tuyen-tien-liet-169251022163310915.htm

Các bác sĩ cảnh báo đừng bỏ qua các triệu chứng như tê yếu cánh tay, nói khó đột ngột xuất hiện rồi biến mất rất nhanh. Đó có thể là dấu hiệu sớm của đột quỵ. Các triệu chứng giống như đột quỵ nhưng không kéo dài báo hiệu cơn thiếu máu cục bộ thoáng qua (TIA) còn gọi là đột quỵ nhỏ. Biểu hiện của tình trạng trên tương tự như đột quỵ thông thường – khuôn mặt chảy xệ, cánh tay yếu và nói ngọng nghịu. “Điểm khác biệt duy nhất của đột quỵ nhỏ là không dẫn đến tổn thương thần kinh ngay lập tức”, Tiến sĩ Ahmed Itrat, Giám đốc y khoa Đột quỵ tại Cleveland Clinic Akron General (Mỹ) cho hay. Nhưng bệnh nhân thường có nguy cơ đột quỵ toàn phát trong những ngày hoặc những tuần sau đó. Tiến sĩ Brandon Giglio, Trưởng khoa Thần kinh mạch máu tại Bệnh viện NYU Langone (Mỹ), nói với Huffington Post: “Ở nhiều trường hợp, đây thực sự là điềm báo một người sẽ bị đột quỵ trong vòng 7, 30, 90 ngày tới, thậm chí chỉ trong 48 giờ”. Nghệ sĩ guitar huyền thoại của Queen là Brian May gần đây bị đột quỵ nhỏ khiến ông tạm thời mất khả năng kiểm soát cánh tay trái của mình. Các bác sĩ khuyên ông nên nghỉ ngơi sau sự cố sức khỏe. “Tôi không được ra ngoài, lái xe, lên máy bay, tôi không được phép làm nhịp tim tăng quá cao”, Brian May chia sẻ trong một tin nhắn video gửi đến người hâm mộ. Các triệu chứng của đột quỵ nhỏ Theo Dịch vụ Y tế Quốc gia Anh, đột quỵ nhỏ có thể xảy ra khi nguồn cung cấp máu lên não bị gián đoạn tạm thời. Các triệu chứng chính của tình trạng này giống đột quỵ toàn phần có thể được ghi nhớ bằng cụm từ BEFAST (nhanh chóng): Balance (Cân bằng): Mất thăng bằng. Eyesight (Thị lực): Thay đổi về thị lực như mờ mắt hoặc nhìn đôi Face (Khuôn mặt): Một bên mặt sụp xuống, người bệnh có thể không cười được Arms (Cánh tay): Một cánh tay bị yếu hoặc tê, không thể nâng lên được Speech (Lời nói): Líu lưỡi hoặc nói lắp bắp, không hiểu lời người khác Time (Thời gian): Những người xung quanh nên gọi cấp cứu cho bệnh nhân ngay lập tức. Dấu hiệu của đột quỵ và cách xử trí. Ảnh: Apprhs Đột quỵ nhỏ kéo dài bao lâu? Theo Tiến sĩ Joshua Willey, chuyên gia về thần kinh học tại Đại học Columbia (Mỹ), đột quỵ nhỏ có thể kéo dài trong khoảng 5-10 phút, đôi khi chỉ xuất hiện trong 30-60 giây. Tiến sĩ Itrat đánh giá: “Mặc dù các cơn thiếu máu cục bộ chỉ thoáng qua nhưng khi một người có triệu chứng, không có cách nào để dự đoán liệu tình trạng đó có thuyên giảm hay sẽ kéo dài và dẫn đến khuyết tật”. Bởi vậy, bạn không nên coi nhẹ một phút đau cánh tay hoặc mờ mắt bởi cảm giác này có thể báo hiệu hậu quả nghiêm trọng hơn trong nhiều ngày hoặc nhiều tháng sau. https://vietnamnet.vn/dau-hieu-canh-bao-dot-quy-truoc-ca-thang-2318994.html

Các bác sĩ Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu (Bệnh viện Bạch Mai) vừa ghi nhận một trường hợp bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn muộn được điều trị bằng thuốc TKIs thế hệ I từ năm 2017 đến nay với thời gian ổn định bệnh kéo dài tới 6 năm. Hình ảnh cắt lớp vi tính theo dõi trong quá trình điều trị, tổn thương xơ hóa tại vị trí u cũ (mũi tên xanh) và giãn khu trú các nhánh phế quản liền kề (mũi tên vàng). Hiệu quả của thuốc điều trị đích với ung thư phổi Bệnh nhân nữ, 72 tuổi, nhập viện tháng 6/2017 do đau ngực trái âm ỉ kéo dài, sụt cân khoảng 8kg trong vòng 6 tháng. Đáng chú ý, bệnh nhân không ho, không khó thở trong suốt thời gian này. Thời điểm nhập viện, bệnh nhân tỉnh táo, không sốt, huyết động ổn định. Thăm khám tim phổi chưa ghi nhận dấu hiệu bất thường rõ ràng. Các xét nghiệm công thức máu, sinh hóa máu trong giới hạn bình thường, chỉ điểm khối u CEA và Cyfra 21-1 không tăng. Điện tâm đồ và siêu âm tim không phát hiện dấu hiệu thiếu máu cơ tim. Kết quả chụp cắt lớp vi tính (CT) lồng ngực cho thấy khối u thùy trên phổi trái kích thước 20x15mm, bờ tua gai, xâm lấn rãnh liên thùy, kèm theo nhiều nốt mờ rải rác hai phổi, kích thước 5-10mm, phù hợp với tổn thương thứ phát, cùng hạch rốn phổi trái kích thước 10mm. Sinh thiết xuyên thành ngực tổn thương phổi trái cho kết quả mô bệnh học là ung thư biểu mô tuyến. Xét nghiệm đột biến gene phát hiện đột biến EGFR dạng xóa đoạn exon 19. Các thăm dò bổ sung bằng PET/CT và cộng hưởng từ não không phát hiện thêm tổn thương di căn ngoài phổi. Bệnh nhân được chẩn đoán ung thư phổi trái không tế bào nhỏ dạng biểu mô tuyến, giai đoạn T4N1M1 (di căn phổi), có đột biến EGFR. Sau hội chẩn chuyên môn, bệnh nhân được chỉ định điều trị bằng thuốc erlotinib liều 150mg/ngày đường uống. Sau 6 tháng điều trị, triệu chứng đau ngực giảm rõ rệt, bệnh nhân dung nạp thuốc tốt. Tác dụng phụ chủ yếu là ban da dạng chấm và mụn ở vùng đầu, vùng sinh dục – những biểu hiện thường gặp của thuốc và được đánh giá là dấu hiệu dự báo đáp ứng điều trị tốt. Kết quả chụp CT kiểm tra cho thấy khối u đáp ứng điều trị, chuyển thành tổn thương xơ hóa, giảm ngấm thuốc sau tiêm. Bệnh nhân tiếp tục được theo dõi và điều trị duy trì bằng erlotinib. Đến thời điểm đánh giá lại vào tháng 5/2023, sau 6 năm điều trị liên tục, bệnh nhân vẫn trong tình trạng ổn định: Không đau ngực, không khó thở, các chỉ điểm khối u CEA và Cyfra 21-1 duy trì trong giới hạn bình thường. Kết quả chụp CT ngực-bụng và cộng hưởng từ sọ não không ghi nhận thêm tổn thương mới. Tại vị trí u cũ, tổn thương xơ hóa gây co kéo rãnh liên thùy và giãn khu trú các nhánh phế quản lân cận, song không ảnh hưởng đến chức năng hô hấp và không gây triệu chứng lâm sàng. Theo các bác sĩ, đây là trường hợp đáp ứng kéo dài hiếm gặp với thuốc điều trị đích thế hệ I, cho thấy vai trò bền vững của nhóm thuốc này trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ có đột biến EGFR, ngay cả ở giai đoạn muộn. Các liệu pháp miễn dịch đang phát huy tác dụng trong điều trị các bệnh ung thư Tại Việt Nam, ung thư phổi phổ biến sau ung thư vú và ung thư gan, hàng năm phát hiện khoảng gần 25 nghìn ca mắc mới ung thư phổi, trong đó có khoảng hơn 22 ngàn ca tử vong mỗi năm. Ung thư phổi thường gặp ở người lớn tuổi từ 55 tuổi trở lên, độ tuổi trung bình mắc bệnh là 70 tuổi, tỷ lệ mắc bệnh và tử vong ở nam giới nhiều hơn nữ giới. Ung thư phổi đang để lại gánh nặng bệnh tật cho người bệnh và ngành y vì đại đa số các trường hợp ung thư phổi được phát hiện đã ở giai đoạn muộn. Nếu bệnh nhân được phát hiện sớm thì tỷ lệ sống thêm từ 5 năm trở lên lên tới hơn 90%. Tuy nhiên việc sàng lọc, phát hiện, chẩn đoán và điều trị còn không ít thách thức. Những năm gần đây, điều trị ung thư phổi giai đoạn muộn đã có nhiều bước tiến quan trọng với sự ra đời của các liệu pháp miễn dịch và điều trị đích nhắm vào các đột biến gene như EGFR, ALK, ROS1… Liệu pháp miễn dịch là phương pháp mới, ít tác dụng phụ, hiệu quả cao, kéo dài thời gian sống và nâng cao chất lượng sống cho người bệnh ung thư phổi không tế bào nhỏ, ung thư dạ dày…Liệu pháp miễn dịch giúp tăng cường hệ thống miễn dịch, giúp hệ thống miễn dịch truy vết, tiêu diệt các tế bào ung thư. Các thuốc điều trị đích ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong ung thư phổi ở cả giai đoạn sớm và giai đoạn muộn, góp phần kéo dài thời gian sống cũng như cải thiện đáng kể chất lượng cuộc sống cho người bệnh. Các thuốc ức chế tyrosine kinase (TKIs) thế hệ I, dù đã được đưa vào sử dụng từ năm 2005, đến nay vẫn giữ vai trò nhất định trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ. https://moh.gov.vn/hoat-dong-cua-dia-phuong/-/asset_publisher/gHbla8vOQDuS/content/thuoc-ieu-tri-ich-giup-benh-nhan-ung-thu-phoi-giai-oan-muon-on-inh-benh-suot-6-nam?inheritRedirect=false&redirect=https%3A%2F%2Fmoh.gov.vn%3A443%2Fhoat-dong-cua-dia-phuong%3Fp_p_id%3D101_INSTANCE_gHbla8vOQDuS%26p_p_lifecycle%3D0%26p_p_state%3Dnormal%26p_p_mode%3Dview%26p_p_col_id%3Drow-3-column-3%26p_p_col_pos%3D1%26p_p_col_count%3D2

Bác sĩ Trương Hữu Khanh, chuyên gia về bệnh truyền nhiễm, đánh giá virus Nipah lây qua tiếp xúc dịch tiết động vật hoặc người bệnh, không lây lan mạnh qua đường hô hấp nên khó bùng phát diện rộng. Bác sĩ Khanh, Phó Chủ tịch Hội Truyền nhiễm TP HCM, nguyên trưởng khoa Nhiễm – Thần kinh Bệnh viện Nhi đồng 1, đưa ra nhận định trên ngày 27/1, trước bối cảnh dư luận hoang mang về ổ dịch Nipah mới tại bang Tây Bengal (Ấn Độ). Tính từ cuối năm 2025 đến ngày 26/1, khu vực này phát hiện 5 trường hợp nghi ngờ, trong đó hai nhân viên y tế có kết quả dương tính. Dù giới chức y tế sở tại xác định đây là ổ dịch nhỏ, chưa lây lan rộng, thông tin vẫn gây xao động tâm lý người dân nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Trước lo ngại này, bác sĩ Khanh cho rằng việc đánh đồng mức độ nguy hiểm giữa Nipah và Covid-19 là khập khiễng. SARS-CoV-2 gây Covid-19 là chủng virus mới, lây lan cực nhanh qua giọt bắn hô hấp và liên tục đột biến. Trong khi đó, Nipah là dòng virus “cổ điển”, cơ chế xâm nhập hoàn toàn khác biệt. “Khả năng mầm bệnh Nipah lây trực tiếp từ người sang người qua không khí để tạo thành đại dịch gần như bằng không”, bác sĩ Khanh nói. Lý giải về chùm ca bệnh tại Ấn Độ, chuyên gia cho rằng nguồn lây xuất phát từ hoàn cảnh tiếp xúc đặc biệt. Kết quả điều tra dịch tễ sơ bộ trùng khớp với nhận định này khi nữ điều dưỡng nhiễm bệnh đầu tiên tại Bệnh viện Narayana Multispeciality từng uống mật chà là tươi nghi nhiễm dịch tiết của dơi. Người này sau đó lây cho đồng nghiệp qua tiếp xúc gần trong quá trình chăm sóc mà thiếu biện pháp bảo hộ chuẩn. Theo bác sĩ Khanh, vật chủ chính của virus là loài dơi ăn quả. Mầm bệnh tồn tại trong nước bọt, nước tiểu của loài này. Con người nhiễm bệnh chủ yếu do chạm trực tiếp vào dịch tiết hoặc ăn trái cây dơi cắn dở. Nếu không có tiếp xúc rất gần hoặc tiêu thụ thực phẩm nhiễm khuẩn, nguy cơ virus vượt biên giới bùng phát tại Việt Nam rất thấp. Các đợt dịch Nipah trong lịch sử đều khu trú ở phạm vi hẹp và tự chấm dứt khi cơ quan chức năng kiểm soát tốt nguồn lây động vật. Đồng quan điểm, PGS.TS Lê Quốc Hùng, Trưởng Khoa Bệnh Nhiệt đới, Bệnh viện Chợ Rẫy, đánh giá tính chất lây nhiễm của Nipah rất hạn chế, khác hoàn toàn các bệnh lý đường hô hấp cấp tính. Tuy nhiên, ông lưu ý Nipah vẫn là bệnh nguy hiểm đối với cá nhân mắc phải do tấn công trực tiếp vào não. Bệnh cảnh chính là viêm não với các triệu chứng sốt cao, đau đầu, co giật, diễn tiến nhanh tới hôn mê. Tỷ lệ tử vong của bệnh rất cao, có thể trên 50% do thế giới chưa tìm ra thuốc đặc trị hay vaccine phòng ngừa. Các biện pháp y tế hiện tại chỉ dừng lại ở điều trị triệu chứng và hồi sức tích cực. Sáng 27/1, trước diễn biến dịch tại nước bạn, Bộ Y tế yêu cầu các đơn vị kiểm dịch biên giới và y tế dự phòng tăng cường giám sát tại cửa khẩu và cộng đồng. Đến nay, Việt Nam chưa ghi nhận ca mắc Nipah nào. Thế giới phát hiện virus này lần đầu năm 1999 tại Malaysia và Singapore, khiến hơn 100 người tử vong, buộc tiêu hủy hàng triệu con lợn. Kể từ đó, dịch xuất hiện định kỳ tại Nam Á, chủ yếu ở Bangladesh và Ấn Độ. Để phòng bệnh, các chuyên gia khuyến cáo người dân thực hiện “ăn chín, uống sôi”. Đặc biệt, tuyệt đối không ăn các loại trái cây có dấu hiệu bị cắn dở, vết răng động vật hoặc trái cây rụng không rõ nguyên nhân. Khi du lịch đến các vùng có dịch, cần hạn chế tiếp xúc với động vật hoang dã, đặc biệt là dơi. https://vnexpress.net/bac-si-truong-huu-khanh-virus-nipah-kho-gay-dai-dich-nhu-covid-19-5010670.html

Viêm phổi là bệnh thường gặp và là một trong những nguyên nhân chính gây tử vong ở trẻ em. Trẻ càng nhỏ tỷ lệ tử vong do viêm phổi càng cao. Mùa đông, các bệnh cảm lạnh cũng gia tăng làm cho virus, vi khuẩn nhân cơ hội xâm nhập mũi họng và xuống phổi gây viêm phổi. Trẻ mắc viêm phổi có biểu hiện gì? Khi mắc viêm phổi, trẻ sẽ có các biểu hiện: Giai đoạn sớm: có thể chỉ có sốt nhẹ, ho húng hắng, chảy nước mắt và nước mũi, khò khè, ăn kém, bỏ bú, quấy khóc… Giai đoạn sau: trẻ không được điều trị đúng và theo dõi sát có thể diễn biến nặng hơn với biểu hiện sốt cao, ho tăng lên, có đờm, khó thở, thở nhanh, rút lõm lồng ngực, bỏ bú hoặc bú kém, tím môi, tím đầu chi … Trẻ mắc viêm phổi nặng có triệu chứng: trẻ ho hoặc khó thở và có ít nhất một trong các triệu chứng chính là: co rút lồng ngực, phập phồng cánh mũi; thở rên (ở trẻ dưới 2 tháng)… Trẻ mắc viêm phổi rất nặng sẽ có các biểu hiện: trẻ có ho hoặc khó thở cộng với ít nhất một trong các triệu chứng chính là: tím tái, co giật, lơ mơ hoặc hôn mê; không uống được hoặc bỏ bú hoặc nôn ra tất cả mọi thứ; suy hô hấp nặng với biểu hiện đầu gật gù theo nhịp thở và co kéo cơ hô hấp phụ. Ngoài ra, có thể có thêm một số triệu chứng khác gồm: thở nhanh, phập phồng cánh mũi, thở rên, co rút lồng ngực. Lưu ý: Để xác định trẻ có thở nhanh hay không bằng cách đếm nhịp thở của trẻ trong đủ 1 phút. Trẻ được coi là thở nhanh nếu: Trẻ < 2 tháng tuổi, nhịp thở > 60 lần/phút. Trẻ 2 – 11 tháng tuổi, nhịp thở > 50 lần/phút. Trẻ 12 – 60 tháng tuổi, nhịp thở > 40 lần/phút. Cha mẹ không tự ý cho con uống kháng sinh Khi trẻ mắc viêm phổi, cha mẹ cần cho trẻ đi khám và điều trị theo chỉ dẫn của bác sĩ. Cha mẹ tuyệt đối không tự ý mua thuốc kháng sinh, thuốc giảm ho điều trị cho con tại nhà. Thuốc kháng sinh sẽ không có tác dụng trong trường hợp trẻ bị viêm phổi do virus. Ho là phản xạ tốt để tống xuất chất đờm ra khỏi đường thở, làm thông thoáng đường thở nên không cho trẻ uống thuốc giảm ho khi chưa có chỉ định của bác sĩ. Cách phòng bệnh viêm phổi cho trẻ trong mùa lạnh Mùa đông các bệnh cảm lạnh cũng gia tăng làm cho virus, vi khuẩn nhân cơ hội xâm nhập mũi họng và xuống phổi gây viêm phổi. Muốn phòng bệnh viêm phổi cho trẻ em cần thực hiện các biện pháp như sau: Giữ ấm đường thở: Khi thời tiết trở lạnh, cha mẹ cần lưu ý giữ ấm cho trẻ bằng cách cho trẻ ăn mặc đủ ấm phù hợp với mức độ lạnh bên ngoài: mặc thêm áo ấm, nón len, mang thêm bao tay, tất, khăn, đeo khẩu trang khi ra đường, đội mũi kín tai, sử dụng nước ấm,… Bổ sung đủ dinh dưỡng cho trẻ: Trẻ em cần được ăn uống đầy đủ các chất dinh dưỡng để tăng cường miễn dịch, nhất là những trẻ còn trong độ tuổi bú mẹ. Với các trẻ biếng ăn, cha mẹ nhất thiết nên bổ sung từ các nguồn thực phẩm bổ sung, các công thức thuốc bổ tổng hợp và các chế phẩm thảo dược chuẩn hóa có tác dụng chống biếng ăn cho trẻ. Cho trẻ uống đủ nước, trẻ nhỏ cho bú nhiều lần trong ngày. Không hút thuốc, đun nấu trong phòng có trẻ nhỏ. Cách ly trẻ với người bị bệnh để tránh lây lan thành dịch. Nơi ở đủ ánh sáng, lưu thông không khí tốt. Thường xuyên lau nền nhà, tay nắm cửa và bề mặt các đồ vật trong nhà bằng các chất tẩy rửa thông thường, như xà phòng và các dung dịch khử khuẩn. Đưa trẻ đi tiêm phòng đầy đủ, đúng lịch các vắc-xin như bạch hầu – ho gà – uốn ván, Hemophilus influenzae typ B (Hib), phế cầu, cúm… Phát hiện sớm các biểu hiện sớm của bệnh viêm đường hô hấp nói chung như: ho, sốt, chảy nước mũi, khó thở… và các rối loạn khác như tiêu chảy, ăn kém, chậm tăng cân… để chăm sóc và điều trị kịp thời. Hàng ngày vệ sinh răng miệng cho trẻ sạch sẽ ngày 2 lần sáng khi ngủ dậy và buổi tối trước khi đi ngủ, sau mỗi bữa ăn cho uống nước súc miệng, tránh để khuẩn đọng lại bằng cách chải răng, lau răng miệng cho trẻ nhỏ.

Khi đến Viện Sức khỏe tâm thần khám, cô gái trẻ khiến bác sĩ ngỡ ngàng khi cô đem theo một túi xách lớn, nặng trĩu chứa bình khí N₂O (khí cười), vì sợ xuất hiện cơn thèm bất chợt không thể kiểm soát. Chia sẻ tại buổi tọa đàm “Bóng cười – nước mắt sau những cuộc vui”, diễn ra chiều 12/1 tại Viện Sức khỏe tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai, bác sĩ Lê Thị Phương Thảo, Đơn nguyên Sử dụng chất và Y học Hành vi, cho biết mới đây, bác sĩ đã khám cho một bệnh nhân nữ bị nghiện “khí cười” N₂O. Bác sĩ Thảo cho biết, cô gái trẻ bước vào phòng khám, với một chiếc túi xách lớn, và lấy ra một bình khí N₂O trong sự ngỡ ngàng của bác sĩ. “Cô gái giải thích, cô bị nghiện khí N₂O, bị bố mẹ phát hiện bắt đi khám và cai nghiện, nhưng khi đi khám, sợ lên cơn thèm bất chợt không thể kiểm soát nên cô phải lén vác bình khí đi theo”, bác sĩ Thảo thông tin. Nữ bệnh nhân cho biết, lần đầu tiên cô hít bóng cười (bóng bơm khí N₂O) là khi học cấp 2, do bạn bè rủ hít. Lúc ấy, cô nghĩ chỉ thử cho biết và không hít thường xuyên. Tuy nhiên, lên cấp 3, khi đi chơi với bạn bè nhiều hơn, cô tiếp xúc, hút bóng cười thường xuyên hơn. Dần dần, cô có cảm giác bị lệ thuộc, thèm hút bóng cười nên không cần bạn bè rủ, cô cũng tự mua bóng về hít tại nhà. Bác sĩ Thảo cho biết, nữ bệnh nhân mỗi ngày hít 20-30 quả bóng cười. Khi tình trạng nghiện nặng hơn, cô không dùng bóng cười nữa mà trực tiếp mua khí N₂O về hít. Cô gái thường xuyên mang bình khí N₂O nhỏ bên người, kể cả khi đi làm để lên cơn thèm là hít. Thời điểm bố mẹ phát hiện và bắt đi khám, cô gái đã sử dụng bóng cười đến 6-7 năm, đồng thời có các biểu hiện tê bì chân tay, trầm cảm, lo âu. Bác sĩ Thảo cho biết, bóng cười (còn gọi là funky ball) là một quả bóng được bơm đầy khí N₂O (khí cười). N₂O (Dinitơ oxit hay nitrous oxide) hay còn gọi là khí cười là một trong những hợp chất vô cơ không màu, vị ngọt nhẹ. Chất này vào cơ thể, dạng khí, sẽ chiếm chỗ oxy làm thiếu oxy, ức chế thần kinh trung ương gây ra nhiều cảm giác phê, hoang tưởng. N₂O là nhóm chất gây nghiện, thuộc nhóm gây ảo giác có xu hướng tăng liều, người dùng có thể bị phụ thuộc, nghiện, ảo giác tương tự heroin. “Dùng bóng cười lâu ngày với số lượng lớn có thể làm tổn thương não bộ; tê bì tay chân; yếu liệt, đi không vững; tổn thương tủy sống không hồi phục; giảm trí nhớ, chậm chạp, kém tập trung… Thậm chí, việc lạm dụng bóng cười có thể gây ngừng tim đột ngột hoặc ngạt thở cấp tính do thiếu oxy dẫn đến tử vong”, bác sĩ Thảo cảnh báo. Bác sĩ Thảo cũng cho biết, độc tính của khí cười tăng theo liều lượng và thời gian sử dụng, liều cao thường gây nguy hiểm tức thì nhưng liều thấp dùng kéo dài vẫn có thể gây tổn thương nặng. Việc hít bóng cười lâu ngày sẽ dẫn đến số lượng ngày càng tăng, có những người dùng tới 30-40 quả mỗi lần. “Việc dùng trên 10 quả bóng cười mỗi lần và dùng nhiều lần có thể gây độc tính mạnh đối với bộ não, có khả năng gây tổn thương cấp tính và mạn tính đến cơ thể”, bác sĩ Thảo cho biết. Trước đó, Bệnh viện Bãi Cháy đã tiếp nhận điều trị cho một bệnh nhân 15 tuổi bị tổn thương tủy cổ, tê yếu tay chân do ngộ độc khí N₂O sau thời gian sử dụng bóng cười dài ngày. Bệnh nhi đến viện trong tình trạng tê bì hai tay, hai chân yếu dần, đi lại khó khăn kèm theo sụt cân nhiều. Trước đó, người bệnh đã sử dụng bóng cười liên tục trong vòng 10 ngày, mỗi ngày khoảng 10 quả. Kết quả chụp cộng hưởng từ cột sống cổ có hình ảnh tổn thương sừng sau tủy cổ. Bệnh nhân được chẩn đoán bệnh rễ thần kinh tủy sống cổ, theo dõi do ngộ độc khí cười N₂O. Bác sĩ Thảo khuyến cáo người trẻ cần cảnh giác với bóng cười, tuyệt đối không “thử cho biết” bởi thực tế nhiều người đã bị nghiện sau khi thử, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe. https://dantri.com.vn/suc-khoe/co-gai-xach-theo-binh-khi-cuoi-di-cai-nghien-20260112213551189.htm

THƯ MỜI CUNG CẤP BÁO GIÁ DỊCH VỤ CHO THUÊ PHẦN MỀM CHỮ KÝ SỐ PHỤC VỤ BỆNH ÁN ĐIỆNTỬ Chi tiết: xem tại đây!

CUNG CẤP PIPET (BAO GỒM THIẾT BỊ ĐÃ ĐƯỢC KIỂM ĐỊNH) Chi tiết: xem tại đây!

YÊU CẦU CUNG CẤP CẤU HÌNH, THÔNG SỐ KỸ THUẬT VÀ BÁO GIÁ HỆ THỐNG MÁY CHỤP CỘNG HƯỞNG TỪ ≥ 1,5 TESLA Chi tiết: xem tại đây!

DỊCH VỤ SỬA CHỮA NGUỒN SÁNG XENON CỦA HỆ THỐNG PHẪU THUẬT NỘI SOI TIẾT NIỆU KARLSTORT Chi tiết: xem tại đây!
Để đặt lịch khám vui lòng liên hệ hotline:
Thời gian làm việc:
T2-CN: 7h30 – 11h30 & 13h00 – 17h00
Tổ 18 - Xã Thư Lâm - Thành phố Hà Nội
(84) 889 615 815
Fax: (84-24).3883.2727
Email: bvbtl@hanoi.gov.vn
Coppyright ©2023. All Right Reserved.