
Ngày 03/7/2000 Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội đã ban hành quyết định số 67/QĐ-UB về việc đổi tên “Trung tâm y tế dự phòng than Khu vực Nội Địa” thành “Bệnh viện Bắc Thăng Long” Từ đây Bệnh viện đã trực thuộc Sở Y tế Hà Nội và hoạt động theo đúng ngành dọc của mình. Trụ sở đóng tại: Tổ 18, thị trấn Đông Anh, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.
Bệnh viện Bắc Thăng Long ngày nay với quy mô 420 giường bệnh, 28 khoa, phòng chức năng và 2 bộ phận…

Phó giám đốc Bệnh viện

Phó giám đốc Bệnh viện

Phó giám đốc Bệnh viện

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã thành công tốt đẹp và bế mạc trong không khí trang trọng, trách nhiệm và tràn đầy niềm tin và hy vọng. Đại hội không chỉ khép lại một nhiệm kỳ với nhiều dấu ấn quan trọng, mà quan trọng hơn, đã mở ra một kỷ nguyên phát triển mới của đất nước – thời kỳ được dẫn dắt bởi tầm nhìn chiến lược dài hạn, khát vọng vươn lên mạnh mẽ và quyết tâm nâng cao năng lực quản trị quốc gia, nâng cao hình ảnh, vị thế Việt Nam trong thời đại mới. Theo định hướng lớn mà Đại hội XIV đề ra, phát triển đất nước trong giai đoạn tới phải dựa trên tự chủ chiến lược, đổi mới mô hình tăng trưởng, phát huy mạnh mẽ khoa học- công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đồng thời hoàn thiện thể chế phát triển, nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thực thi. Đây không chỉ là những mục tiêu phát triển, mà là những lựa chọn chiến lược có tính nền tảng, định hình tương lai đất nước trong trung và dài hạn. Đại hội của tầm nhìn chiến lược và lựa chọn phát triển đúng Một điểm nổi bật của Đại hội XIV là việc xác lập tầm nhìn phát triển dài hạn, gắn kết chặt chẽ các mục tiêu của giai đoạn 2026- 2030 với tầm nhìn đến năm 2045. Đại hội nhấn mạnh yêu cầu xây dựng mô hình tăng trưởng mới, chuyển mạnh từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu, từ dựa nhiều vào khai thác tài nguyên và lao động giản đơn sang dựa vào tri thức, công nghệ, năng suất, chất lượng và hiệu quả. Đại hội xác định rõ khoa học- công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực chủ yếu của tăng trưởng, đồng thời khẳng định vai trò quan trọng của kinh tế tư nhân trong việc huy động và phát huy các nguồn lực xã hội cho phát triển. Cùng với đó là yêu cầu thực hiện đồng bộ các chuyển đổi lớn: chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong bối cảnh thế giới tiếp tục biến động nhanh, cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt và tái cấu trúc chuỗi giá trị toàn cầu diễn ra sâu rộng, Đại hội XIV đã chủ động đặt Việt Nam vào quỹ đạo phát triển tự chủ, bền vững và có khả năng thích ứng cao. Có thể khẳng định, Đại hội XIV đã lựa chọn con đường phát triển đúng đắn cho tương lai đất nước, hướng đến 2 mục tiêu quan trọng: 100 năm thành lập Đảng và 100 thành lập nước. Đại hội mở ra một giai đoạn cải cách mạnh mẽ về thể chế và tổ chức thực thi Không né tránh những vấn đề đặt ra từ thực tiễn, Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện thể chế, đổi mới tổ chức bộ máy và nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi. Theo tinh thần Đại hội, thể chế không chỉ là khuôn khổ pháp luật, mà là yếu tố quyết định chất lượng vận hành của nền kinh tế và của toàn bộ hệ thống quản trị quốc gia. Đại hội yêu cầu xác định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ, phân cấp, phân quyền, phân công và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức từ Trung ương đến địa phương; bảo đảm bộ máy vận hành thông suốt, đồng bộ, nhịp nhàng; đồng thời nâng cao chất lượng giám sát, phản biện và trách nhiệm giải trình. Tinh thần cải cách được thể hiện rõ ở yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy kiến tạo phát triển và phục vụ, lấy hiệu quả thực tế, sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo. Điều đó cho thấy, trong giai đoạn phát triển mới, cải cách thể chế không còn là yêu cầu mang tính dài hạn, mà đã trở thành nhiệm vụ hành động cấp bách. Đại hội củng cố niềm tin xã hội – nguồn lực phát triển quan trọng nhất Thành công của Đại hội XIV còn được thể hiện ở sự đồng thuận cao trong Đảng, sự quan tâm rộng rãi và kỳ vọng lớn của nhân dân. Đại hội tiếp tục khẳng định tư tưởng “Dân là gốc”, coi người dân vừa là trung tâm, vừa là chủ thể của sự phát triển. Niềm tin xã hội được củng cố trên ba nền tảng quan trọng: đường lối phát triển rõ ràng, nhất quán và có tầm nhìn dài hạn; quyết tâm chính trị mạnh mẽ trong đổi mới và cải cách; và trách nhiệm tổ chức thực hiện được đặt lên vị trí trung tâm. Đại hội nhấn mạnh, phát triển không chỉ nhằm đạt các mục tiêu tăng trưởng, mà quan trọng hơn là nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội và củng cố sự gắn kết xã hội. Khi niềm tin được củng cố, xã hội sẽ hình thành sức mạnh cộng hưởng, khơi dậy khát vọng cống hiến và tinh thần sáng tạo trong toàn dân. Đây chính là nguồn lực nội sinh bền vững và lâu dài nhất cho sự phát triển của đất nước. Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu tại phiên bế mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Từ tinh thần Đại hội đến hành động quốc gia Đại hội XIV là điểm khởi đầu cho một giai đoạn hành động mới. Đại hội nhấn mạnh yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực tổ chức thực hiện, bảo đảm nói đi đôi

Ngành Y tế quyết tâm xây dựng hệ thống y tế hiện đại, công bằng, hiệu quả, hướng tới bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân, để mọi người dân được sống lâu, sống khỏe, sống lành mạnh. Nhiều mục tiêu vượt bậc Trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân hướng về Đại hội lần thứ XIV của Đảng, ngành Y tế cũng đang nỗ lực với nhiều mục tiêu vượt bậc, hướng tới nền y tế hiện đại, lấy người bệnh làm trung tâm. Về định hướng của ngành Y tế trong giai đoạn mới, Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan cho biết: Năm 2026 là năm đầu của nhiệm kỳ mới, có ý nghĩa quan trọng tạo nền tảng thực hiện các mục tiêu đến năm 2030. Nhiệm kỳ 2026-2030 cũng mở ra một tầm nhìn mới, một kỳ vọng lớn lao đối với sự phát triển của đất nước nói chung và ngành y tế nói riêng. Cả hệ thống chính trị đang bước vào kỳ nguyên phát triển, đòi hỏi ngành y tế phải bứt phá, chủ động và phải quyết tâm thay đổi, ngành Y tế phải khẳng định vai trò trung tâm trong bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, đưa y tế Việt Nam phát triển theo hướng hiện đại, công bằng. Để thực hiện các mục tiêu trong thời gian tới, ngành Y tế tập trung triển khai đồng bộ các nhiệm vụ về xây dựng và hoàn thiện thể chế, kiện toàn tổ chức bộ máy, cải cách hành chính, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, tăng cường y tế dự phòng, bảo đảm cung ứng thuốc, vaccine, đổi mới cơ chế tài chính y tế và mở rộng hợp tác quốc tế… Theo Bộ trưởng Đào Hồng Lan, bước sang giai đoạn 2026-2030, ngành Y tế tiếp tục đổi mới toàn diện theo các định hướng lớn của Đảng và Nhà nước, trọng tâm là Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị và Chỉ thị số 52-CT/TW của Ban Bí thư. Mục tiêu tổng quát là xây dựng hệ thống y tế hiện đại, công bằng, hiệu quả, hướng tới bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân, để mọi người dân được sống lâu, sống khỏe, sống lành mạnh. Ngành Y tế phấn đấu đến năm 2030, tuổi thọ trung bình của người dân tăng lên khoảng 75,5 tuổi; kiểm soát tốt các bệnh không lây nhiễm; duy trì tỷ lệ tiêm chủng cao; cơ bản chấm dứt AIDS, lao và loại trừ sốt rét; bảo đảm an ninh y tế trong mọi tình huống. Bên cạnh đó, các định hướng lớn của ngành như: Hoàn thiện thể chế pháp luật y tế; sắp xếp hệ thống y tế tinh gọn, hiệu quả; nâng cao năng lực y tế cơ sở và y tế dự phòng; phát triển nguồn nhân lực y tế chất lượng cao; bảo đảm tự chủ thuốc, vắc xin và trang thiết bị y tế; đẩy mạnh chuyển đổi số và đổi mới tài chính y tế hướng tới bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân… tạo bước chuyển mạnh mẽ trong nâng cao sức khỏe nhân dân, góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước trong giai đoạn mới. Thực hiện hiệu quả Nghị quyết 72 Chia sẻ bên lề Đại hội lần thứ XIV của Đảng, Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan cho rằng: Thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, cơ chế, chính sách quan trọng nhằm thúc đẩy phát triển ngành y tế. Trong đó, Nghị quyết số 72-NQ/TW do Bộ Chính trị ban hành vừa qua là văn bản định hướng mang tính đột phá, tạo cơ sở cho sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe Nhân dân; trên cơ sở lấy sức khỏe người dân là vốn quý nhất và là trọng tâm cho sự phục vụ. Nghị quyết 72 đã tháo gỡ nhiều “điểm nghẽn” trong lĩnh vực y tế mà thời gian dài vừa qua chưa được giải quyết một cách căn cơ. Trong đó, Nghị quyết đã định hướng thay vì tập trung chủ yếu vào khám bệnh, chữa bệnh; chuyển sang chăm sóc sức khỏe toàn diện; nâng cao vai trò, tầm quan trọng của công tác phòng bệnh; chăm sóc sức khỏe của người dân từ sớm, từ xa… Công tác chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe của nhân dân sẽ gắn chặt với quản lý, chăm sóc sức khỏe toàn diện theo vòng đời. Đến nay, sau ba tháng triển khai Nghị quyết số 72-NQ/TW, dưới sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt của Chính phủ và sự phối hợp chặt chẽ của các Bộ, ngành, việc giải quyết các “điểm nghẽn” trong lĩnh vực y tế đã có những chuyển biến bước đầu. Đối với Bộ Y tế, theo Bộ trưởng Đào Hồng Lan, thời gian tới, Bộ sẽ tiếp tục rà soát, hoàn thiện các quy định, cơ chế nhằm tháo gỡ các “điểm nghẽn”, bảo đảm triển khai đồng bộ các giải pháp đã nêu trong Nghị quyết 72. Bộ Y tế đã đăng ký chương trình xây dựng luật giai đoạn 5 năm tới và các năm tiếp theo; trong đó, nâng cao chất lượng xây dựng thể chế được xác định là một nhiệm vụ trọng tâm, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn và khắc phục những khoảng trống trong quá trình tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân. Theo đó, tại kỳ họp thứ XV của Quốc hội vừa qua, Bộ Y tế đã tham mưu nhiều nhiều nội dung như: Xây dựng Nghị quyết của Quốc hội về các giải pháp đặc thù, đột phá trong lĩnh vực chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân; trình Quốc hội thông qua Luật Phòng

Phó Chủ tịch UBND Thành phố Trương Việt Dũng vừa ký ban hành Công văn số 256/UBND-NC ngày 19/01/2026 về việc triển khai chiến dịch 90 ngày rà soát, chuẩn hóa, làm sạch dữ liệu và cập nhật dữ liệu sức khỏe người dân trên Hệ thống Hồ sơ sức khỏe điện tử Thành phố. Thời gian thực hiện chiến dịch từ ngày 15/1 đến hết ngày 15/4. Theo nội dung Công văn, để chuẩn hóa, đồng bộ và nâng cao chất lượng dữ liệu hành chính, dữ liệu sức khỏe của người dân trên toàn Thành phố; đảm bảo thông tin chính xác, đầy đủ, kịp thời và liên thông từ tuyến xã đến Thành phố và từ Thành phố đến Trung ương. UBND Thành phố giao Sở Y tế là đầu mối hướng dẫn các Trạm Y tế thực hiện việc rà soát, cập nhật thông tin lên Hệ thống. Thành lập các đoàn để giám sát tiến độ nhập liệu, tỷ lệ hồ sơ hợp lệ, mức độ cập nhật thông tin sức khỏe cơ bản, tỷ lệ hồ sơ trùng lặp, mức độ khai thác dữ liệu phục vụ báo cáo… Chỉ đạo Trung tâm Kiểm soát bệnh tật: Phối hợp với các đơn vị y tế, đơn vị cung ứng dịch vụ phần mềm thực hiện kết nối, đồng bộ dữ liệu từ các phần mềm tiêm chủng, HIV, Methadone, quản lý bệnh mạn tính,… và các hệ thống liên quan; Các Bệnh viện phối hợp với các đơn vị cung cấp phần mềm liên thông kết nối đầy đủ dữ liệu theo quy định (gồm cả dữ liệu khám sức khỏe định kỳ, khám dịch vụ, khám chữa bệnh bằng bảo hiểm y tế). Bên cạnh đó, thực hiện nhập đầy đủ các trường thông tin: Chiều cao, cân nặng, huyết áp, nhóm máu ABO… trên phần mềm quản lý thông tin KCB, đảm bảo các dữ liệu này luôn được cập nhật mới liên tục. Hướng dẫn, theo dõi và đồng bộ dữ liệu từ các hệ thống chuyên ngành (tiêm chủng, HIV, dinh dưỡng, bệnh mạn tính…). UBND Thành phố giao Sở Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo các cơ sở giáo dục, trường học phối hợp với ngành y tế trong việc cập nhật, bổ sung thông tin sức khỏe học sinh, sinh viên vào HSSK/SSKĐT; phối hợp tổ chức các hoạt động truyền thông, tuyên truyền về chiến dịch trong hệ thống trường học. Công an Thành phố chỉ đạo Công an cấp xã phối hợp với Tổ công nghệ số cộng đồng, Tổ triển khai Đề án 06/CP thôn, tổ dân phố, trạm y tế các xã/phường hỗ trợ chuẩn hóa thông tin người dân tại địa bàn thu thập, cập nhật thông tin người dân để tạo lập cơ sở dữ liệu hồ sơ sức khỏe điện tử và hướng dẫn người dân cài đặt và sử dụng Sổ sức khỏe điện tử trên ứng dụng VNeID. Bảo hiểm xã hội Thành phố chủ trì tham mưu UBND Thành phố báo cáo Bảo hiểm xã hội Việt Nam cung cấp thông tin đối tượng tham gia Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm xã hội của người dân trên địa bàn Thành phố cho thành phố Hà Nội làm cơ sở khởi tạo nguồn dữ liệu đối tượng hình thành cơ sở dữ liệu Hồ sơ sức khỏe điện tử. Chỉ đạo Bảo hiểm xã hội các khu vực phối hợp, hỗ trợ Trạm Y tế tại địa bàn trong công tác thu thập, cập nhật thông tin người dân tham gia Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm xã hội để khởi tạo thông tin ban đầu người dân trên phần mềm Hồ sơ sức khỏe điện tử. Đồng thời, UBND Thành phố yêu cầu UBND các xã/phường chỉ đạo các Trạm Y tế triển khai, thực hiện: Rà soát, chuẩn hóa dữ liệu; Rà soát các HSSK/SSKĐT còn thiếu hoặc trùng lặp; Lập bổ sung các Hồ sơ sức khỏe đối với trường hợp chưa được khởi tạo; Đối chiếu, loại bỏ hồ sơ trùng lặp, bổ sung, chuẩn hóa thông tin cá nhân trong HSSK/SSKĐT; Cập nhật thông tin sức khỏe cơ bản và bệnh tật; Làm giàu thông tin, dữ liệu Hồ sơ sức khỏe – Bổ sung các trường thông tin theo các chương trình y tế Thời gian thực hiện chiến dịch từ ngày 15/1/2026 đến hết ngày 15/4/2026. https://daibieunhandan.vn/ha-noi-trien-khai-chien-dich-90-ngay-ra-soat-chuan-hoa-lam-sach-du-lieu-suc-khoe-nguoi-dan-10404669.html

Với phương châm: “Đoàn kết – Dân chủ – Kỷ cương – Đột phá – Phát triển”, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng chính thức diễn ra tại Thủ đô Hà Nội từ hôm nay (19/1) đến ngày 25/1/2026. Chủ đề Đại hội là: “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030; tự cường, tự tin tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”. Tham dự Đại hội có 1.586 đại biểu, đại diện cho hơn 5,6 triệu đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Đại hội lần thứ XIV sẽ thảo luận, thông qua các văn kiện quan trọng: Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam; Báo cáo tổng kết 15 năm thi hành Điều lệ Đảng (2011 – 2025) và đề xuất, định hướng bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng; Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII. Dưới sự chỉ đạo quyết liệt của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, trực tiếp là Tổng Bí thư Tô Lâm, công tác chuẩn bị Đại hội đã hoàn thành với tinh thần đổi mới, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình hưởng ứng. Những ngày này, trên khắp các nẻo đường, từ thành thị đến nông thôn đều rực rỡ cờ hoa, chào mừng Đại hội Đảng lần thứ XIV của Đảng. Không khí phấn khởi, hân hoan hướng về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đang hiển hiện sôi nổi, tưng bừng tại nhiều tuyến đường, phố trên cả nước. Người dân đang đặt niềm tin lớn vào những quyết sách quan trọng của Đại hội, xa hơn nữa là những chặng đường phát triển mới của đất nước… Quá trình xây dựng Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã trở thành một cuộc sinh hoạt chính trị – trí tuệ rộng lớn, dân chủ và trách nhiệm. Hàng triệu ý kiến của cán bộ, đảng viên, trí thức, chuyên gia và các tầng lớp nhân dân trong và ngoài nước đã được lắng nghe, chắt lọc, tiếp thu với tinh thần cầu thị cao nhất. Chỉ trong một tháng lấy ý kiến toàn dân đã có hơn 4,5 triệu lượt người góp ý kiến với hơn 14 triệu ý kiến cụ thể gửi đến Tiểu ban Văn kiện. Từ nền tảng ấy, Văn kiện Đại hội XIV kết tinh sự thống nhất sâu sắc giữa ý Đảng và lòng Dân. Công tác chuẩn bị văn kiện đã thực hiện một bước cải cách quan trọng: Tích hợp 3 báo cáo (Báo cáo Chính trị, Báo cáo Kinh tế – xã hội, Báo cáo Xây dựng Đảng) thành một Báo cáo chính trị, thống nhất và đồng bộ. Đặc biệt, lần đầu tiên Chương trình hành động được đặt ngay trong cấu trúc của Văn kiện, như sự cam kết rằng tư duy sẽ đi liền với hành động, mục tiêu sẽ đi kèm với phương thức thực hiện. Đến thời điểm này, công tác tổ chức phục vụ Đại hội XIV của Đảng đã cơ bản hoàn thành. Công tác hậu cần được chuẩn bị chu đáo; công tác bảo đảm an ninh, an toàn đã được triển khai quyết liệt, toàn diện. Công tác thông tin tuyên truyền về Đại hội XIV của Đảng được triển khai từ sớm, có kế hoạch tổ chức thực hiện cụ thể, bài bản, góp phần củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đại hội; tạo sự thống nhất cao trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội. Khoảng 600 nhà báo trong nước và gần 80 nhà báo quốc tế theo dõi, đưa tin về Đại hội. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng là dấu mốc của niềm tin và khát vọng; nội lực dân tộc và đồng thuận của nhân dân. Với bản lĩnh được tôi luyện qua nhiều gian khó, tin tưởng Đảng sẽ dẫn dắt đất nước tự tin tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc, vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. https://vov.vn/chinh-tri/dai-hoi-xiv-cua-dang-dien-ra-tu-hom-nay-191-tai-thu-do-ha-noi-post1262344.vov Đọc thêm: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng: Dấu mốc lịch sử, mở ra kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Gửi trọn niềm tin

Ngày 24/01, Bệnh viện Bắc Thăng Long đã tổ chức chương trình khám sức khoẻ định kỳ cho cán bộ xã Thư Lâm, mục đích nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe ban đầu, phát hiện sớm và phòng ngừa các bệnh lý thường gặp. Việc khám sức khoẻ định kỳ cho cán bộ còn là cơ sở để đánh giá, phân loại sức khỏe cán bộ theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế. Nội dung khám bao gồm: khám lâm sàng tổng quát (Nội, Ngoại, Sản, Mắt, Tai mũi họng, Răng hàm mặt…); cận lâm sàng: xét nghiệm, siêu âm…; tư vấn sức khỏe, tư vấn dinh dưỡng, vận động. Hoạt động không chỉ góp phần chăm sóc sức khỏe thể chất mà còn nâng cao nhận thức về phòng bệnh, tự theo dõi và bảo vệ sức khỏe cho đội ngũ cán bộ xã. Dưới đây là một số hình ảnh hoạt động: Phòng CTXH

Xem chi tiết Thông báo 78 tại đây

Ngày 19/01/2026, Giám đốc bệnh viện Bắc Thăng Long đã ký Quyết định số 18/QĐ-BVBTL về việc công nhận kết quả tuyển dụng viên chức năm 2025 Kỳ thi tuyển dụng viên chức năm 2025 là một phần trong kế hoạch phát triển nhân lực giai đoạn mới của Bệnh viện Bắc Thăng Long, hướng tới mục tiêu xây dựng đội ngũ y tế chuyên nghiệp, tận tâm, vững chuyên môn, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của người dân. Công tác tổ chức thi tuyển được chuẩn bị chu đáo từ cơ sở vật chất, trang thiết bị đến quy trình coi thi và chấm thi. Hội đồng tuyển dụng đã huy động đội ngũ cán bộ có kinh nghiệm, phối hợp cùng các khoa/phòng chức năng để đảm bảo kỳ thi diễn ra nghiêm túc, đúng quy định, không để xảy ra sai sót. Sau 1 tuần làm việc khẩn trương, nghiêm túc, công tâm và trách nhiệm. Hội đồng tuyển dụng đã lựa chọn được những người có năng lực, chuyên môn, phẩm chất tốt và tinh thần trách nhiệm cao, sẵn sàng cống hiến lâu dài cho bệnh viện và sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân. Xem chi tiết Quyết định 18 tại đây

Ngày 26/11/2025, UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Kế hoạch số 316/KH-UBND về việc thực hiện đợt cao điểm “90 ngày cụ thể hóa và tuyên truyền, phổ biến các Nghị quyết của HĐND thành phố Hà Nội về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số”. Qua đó nhằm “kích hoạt” 6 nghị quyết quan trọng về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đưa những quyết sách này nhanh chóng đi vào cuộc sống. Kế hoạch nhằm phát động phong trào thi đua sôi nổi, hưởng ứng tham gia cụ thể hoá Nghị quyết một cách chủ động, tích cực của các cơ quan, đơn vị; các tổ chức, doanh nghiệp và các viện, trường; Nâng cao nhận thức của xã hội về vị trí, vai trò của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; khơi dậy tinh thần đổi mới sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, khuyến khích khởi nghiệp sáng tạo, khởi nghiệp trong toàn dân với mọi thành phần kinh tế từ đó góp phần hình thành và hoàn thiện hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp của thành phố. Lan toả những tinh thần mới, động lực mới Hiện nay, Hà Nội là địa phương có lực lượng nhân lực khoa học và công nghệ lớn nhất cả nước, với khoảng 80.000 người hoạt động trong lĩnh vực này. Trên địa bàn Thủ đô tập trung hàng nghìn giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ, cùng nhiều nhà khoa học đầu ngành uy tín trong và ngoài nước, hoạt động trên hầu hết lĩnh vực: Khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, công nghệ, y tế, kinh tế và giáo dục. Đây là lực lượng đi đầu trong nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nâng tầm trí tuệ và năng lực cạnh tranh của Thủ đô. Những năm gần đây, Hà Nội liên tục dẫn đầu cả nước về Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) và là địa phương thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực công nghệ cao lớn nhất Việt Nam trong ba năm liên tiếp. Thành phố đã bố trí khoảng 4% chi ngân sách, tương đương hơn 9.000 tỷ đồng năm 2026, cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số – mức cao nhất cả nước. Những con số này cho thấy Hà Nội đã nhận diện rõ vai trò trung tâm của khoa học, công nghệ, trong đó con người chính là yếu tố quyết định để nguồn lực đầu tư này phát huy tối đa hiệu quả. Gắn tuyên truyền với nhiệm vụ chuyên môn Thực hiện chỉ đạo của Sở Y tế Hà Nội tại Công văn số 455/SYT-QLBHYTCNTT về việc tăng cường triển khai thực hiện Kế hoạch số 316/KH-UBND của UBND Thành phố Hà Nội. Bệnh viện Bắc Thăng Long đã tổ chức tuyên truyền, phổ biến sâu rộng các nội dung liên quan đến khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong toàn đơn vị. Đây là nhiệm vụ quan trọng nhằm cụ thể hóa chủ trương của Thành phố trong việc triển khai thực hiện Nghị quyết của HĐND thành phố Hà Nội về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, viên chức, người lao động trong ngành y tế. Chuyển đổi số y tế có thể coi là trọng tâm công tác của ngành y tế, đang được nhà nước ưu tiên đẩy mạnh và đầu tư nguồn lực. Chuyển đổi số y tế là quá trình ứng dụng công nghệ, truyền thông vào các hoạt động trong ngành y tế một cách tổng thể và toàn diện. Từ đó, tối ưu hóa việc quản lý, lưu trữ thông tin cũng như cải thiện và nâng cao chất lượng dịch vụ và trải nghiệm của người dùng. Chuyển đổi số ngành y tế được thực hiện thông qua việc ứng dụng các hệ thống thông tin và công nghệ như: hệ thống hồ sơ điện tử, hệ thống quản lý bệnh viện/bệnh nhân hay các ứng dụng di động và công nghệ tiên tiến như Big data, IoT, AI, Robot, điện toán đám mây, công nghệ thực tế ảo,… Chuyển đổi số y tế đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe và tối ưu hóa quy trình thủ tục thăm, khám, chữa bệnh của người dân và cả nhân viên y tế. Bệnh viện Bắc Thăng Long đang từng bước hoàn thiện để triển khai Hồ sơ bệnh án điện tử. Hồ sơ bệnh án điện tử là bước đột phá quan trọng về ứng dụng công nghệ thông tin để số hóa ngành y tế, được coi là phiên bản số của hồ sơ bệnh án. Hồ sơ bệnh án điện tử có nhiều ưu điểm vượt trội so với bệnh án giấy truyền thống: các quy trình được số hóa toàn bộ, không cần dùng giấy tờ, sổ sách; dữ liệu được ghi chép, hiển thị và lưu trữ bằng phương tiện điện tử, có cơ sở pháp lý và chức năng tương đương hồ sơ bệnh án giấy; mọi thông tin sức khỏe của người bệnh, thông tin tiền sử của người bệnh khi đã đến điều trị tại bệnh viện được lưu giữ đầy đủ, góp phần rút ngắn thời gian khám và điều trị bệnh. Tất cả đều bảo đảm an toàn, bảo mật; bác sĩ có thể truy cập bệnh án của người bệnh một cách nhanh nhất, đầy đủ nhất và

Theo Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng, truyền thông chính sách cần được coi là quy trình bắt buộc trong xây dựng và thi hành pháp luật, thực hiện sớm, bài bản và đồng bộ, nhằm nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận xã hội và bảo đảm hiệu lực thực thi pháp luật. Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng chủ trì Phiên họp của Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật Trung ương – Ảnh: Báo Chính phủ Sáng 15.1, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng, Ủy viên Trung ương Đảng, chủ trì Phiên họp của Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật Trung ương đánh giá kết quả triển khai nhiệm vụ năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026. Phiên họp có sự tham dự của đại diện các bộ, cơ quan ngang bộ cùng các cơ quan báo chí chủ lực như Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam. Đổi mới mạnh mẽ phổ biến, giáo dục pháp luật trong giai đoạn mới Theo Bộ Tư pháp, năm 2025, Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật Trung ương và Bộ Tư pháp – Cơ quan thường trực của Hội đồng – đã chủ động ban hành theo thẩm quyền hoặc tham mưu trình Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Hội đồng ban hành 48 văn bản để triển khai các nhiệm vụ. Đồng thời, đôn đốc, chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương kịp thời tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) đối với các luật, nghị quyết được Quốc hội thông qua tại các kỳ họp thứ 8, 9, 10 và kỳ họp bất thường thứ 9. Trong năm 2025, cả nước đã tổ chức hơn 216.000 hoạt động PBGDPL trực tiếp, thu hút trên 23 triệu lượt người tham dự; tổ chức gần 5.000 cuộc thi tìm hiểu pháp luật với hơn 2 triệu lượt người tham gia. Nhiều bộ, ngành, địa phương triển khai tích cực như Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Tài chính và các tỉnh: Tuyên Quang, Đồng Nai, Tây Ninh, Vĩnh Long, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Thanh Hóa… Cơ quan Thường trực Hội đồng đã tổng hợp, phân loại hàng trăm mô hình PBGDPL hiệu quả, đồng thời chỉ đạo nhân rộng, đặc biệt là các mô hình ứng dụng công nghệ số. Trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, Bộ Tư pháp đã phối hợp các bộ, ngành nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung Nghị định số 55/2019/NĐ-CP; phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức hội thảo nhận diện các điểm nghẽn trong lĩnh vực đất đai; tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Đồng thời, Bộ Tư pháp đã trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình “Hỗ trợ pháp lý liên ngành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh giai đoạn 2026–2030”. Cơ quan Thường trực Hội đồng cũng đã tổ chức các đoàn công tác làm việc với các cơ quan báo chí, truyền thông chủ lực để nắm bắt tình hình triển khai công tác truyền thông chính sách, PBGDPL. Nhân rộng mô hình hiệu quả, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số Các cơ quan báo chí trung ương đã chủ động tham gia sâu vào truyền thông chính sách. Đài Truyền hình Việt Nam xây dựng chuyên mục “Tiêu điểm chính sách” về các chính sách có tác động lớn đến xã hội, được người dân và doanh nghiệp ghi nhận, đánh giá cao. Nhiều bộ, ngành, cơ quan trung ương như Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Y tế, Bộ Tư pháp cùng các cơ quan báo chí chủ lực đã lồng ghép các chuyên mục, chuyên trang, dòng sự kiện về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả truyền thông chính sách. Thứ trưởng Bộ Tư pháp khẳng định, năm 2025, Hội đồng các cấp đã triển khai nhiệm vụ kịp thời, đa dạng về hình thức, chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số. Kết quả hoạt động của Hội đồng góp phần nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành về vai trò của công tác PBGDPL, trợ giúp pháp lý; bảo đảm quyền được thông tin pháp luật của người dân và doanh nghiệp. Đại diện Bộ Công an cho biết, Bộ đã triển khai nhiều mô hình PBGDPL thiết thực như phối hợp tuyên truyền pháp luật cho phạm nhân tại các trại giam; tổ chức các cuộc thi viết, cấp phát hàng nghìn đầu sách pháp luật, tủ sách pháp luật. Đồng thời, đổi mới hình thức tuyên truyền pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa, gắn nội dung pháp luật với đời sống thực tiễn. Truyền thông chính sách phải đồng bộ, bài bản Phát biểu kết luận phiên họp, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ghi nhận và đánh giá cao những nỗ lực, kết quả đạt được của Hội đồng trong năm 2025, góp phần nâng cao hiệu quả công tác PBGDPL, trợ giúp pháp lý và hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Tuy nhiên, Phó Thủ tướng cũng chỉ rõ một số tồn tại, hạn chế như tiến độ thực hiện một số nhiệm vụ còn chậm, phối hợp liên ngành chưa chặt chẽ; truyền thông chính sách chưa thực sự hiệu quả, việc bố trí và sử dụng kinh phí còn vướng mắc. Nhấn mạnh nhiệm vụ năm 2026, Phó Thủ tướng yêu cầu truyền thông chính sách phải được

Trong bức tranh phát triển kinh tế – xã hội hiện nay, thanh niên luôn được xác định là lực lượng lao động nòng cốt, giữ vai trò quan trọng trong tăng trưởng và phát triển dài hạn của đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh bộ phận thanh niên có việc làm ổn định, được đào tạo bài bản và tham gia đầy đủ các chính sách an sinh xã hội, vẫn tồn tại một nhóm không nhỏ rơi vào tình trạng “3 không”: không có việc làm, không tham gia học tập và đào tạo. Đây là nhóm đối tượng đang đứng trước nhiều rủi ro và trở thành khoảng trống đáng lo ngại trong hệ thống an sinh xã hội. Theo số liệu thống kê được tổng hợp từ báo cáo của Cục Thống kê (Tổng cục Thống kê – Bộ Tài chính) về tình hình lao động, việc làm quý IV và cả năm 2025, chỉ tính riêng trong quý IV/2025, cả nước có khoảng 1,4 triệu thanh niên không có việc làm, không tham gia học tập và đào tạo, chiếm 10,2% tổng số thanh niên cả nước. Những con số này phản ánh rõ thực trạng một bộ phận người trẻ đang gặp khó khăn trong tiếp cận việc làm bền vững, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với công tác định hướng nghề nghiệp, đào tạo kỹ năng và tạo việc làm cho lao động trẻ trong bối cảnh thị trường lao động đang chịu tác động mạnh mẽ của chuyển đổi số và phát triển khoa học – công nghệ. Thực tế cho thấy, thanh niên “3 không” chủ yếu làm việc trong khu vực phi chính thức, lao động tự do, việc làm thời vụ hoặc ngắn hạn. Thu nhập của nhóm này thường thấp, thiếu ổn định và dễ bị tổn thương trước các cú sốc kinh tế – xã hội. Việc không có hợp đồng lao động đồng nghĩa với việc không được bảo vệ bởi pháp luật lao động, không được tham gia BHXH bắt buộc, không có bảo hiểm thất nghiệp và không có lương hưu khi hết tuổi lao động. Những rủi ro này khiến cuộc sống của người trẻ luôn tiềm ẩn bất ổn, nhất là khi gặp phải các biến cố về sức khỏe hoặc mất nguồn thu nhập. Chia sẻ về thực trạng này, anh Lê Tuấn Hùng, đại diện Công ty Phát triển nhân sự Hoàng Hà (Hà Nội), cho rằng nhiều bạn trẻ cần nhìn nhận lại kỳ vọng nghề nghiệp của bản thân, có cái nhìn thực tế hơn về thị trường lao động và sẵn sàng bắt đầu từ những công việc phù hợp với năng lực hiện có. Theo anh Hùng, việc chấp nhận làm việc, rèn luyện kỷ luật và thái độ nghề nghiệp từ những vị trí ban đầu sẽ tạo nền tảng quan trọng để người trẻ từng bước nâng cao tay nghề, gia tăng giá trị bản thân và mở rộng cơ hội việc làm trong tương lai. Cùng với đó, người trẻ cần chủ động học tập, trang bị thêm kỹ năng mới, mạnh dạn bước ra khỏi vùng an toàn và thích nghi với yêu cầu của thị trường lao động hiện đại. Trong bối cảnh nhiều ngành nghề truyền thống bị thu hẹp, việc tiếp cận kỹ năng số, ngoại ngữ và các kỹ năng mềm trở thành yếu tố then chốt giúp thanh niên nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng tham gia vào khu vực việc làm chính thức. Không chỉ đối mặt với rủi ro về kinh tế, nhóm thanh niên “3 không” còn chịu áp lực lớn về tâm lý. Việc thiếu một “tấm lưới” an sinh khiến nhiều người trẻ sống trong trạng thái lo lắng, bất an, e ngại rủi ro, thậm chí trì hoãn những quyết định quan trọng của cuộc đời như lập gia đình, sinh con hay đầu tư học tập nâng cao kỹ năng. Khoảng trống an sinh vì thế không chỉ là câu chuyện của chính sách, mà còn tác động trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực và sự phát triển bền vững của xã hội trong dài hạn. Thực tế cũng cho thấy, một bộ phận thanh niên hiện nay vẫn còn tâm lý coi trọng thu nhập trước mắt, xem việc tham gia BHXH, BHYT là một khoản chi phí thay vì là sự đầu tư cho tương lai. Khi còn trẻ, khỏe mạnh, nhiều người ít quan tâm đến rủi ro ốm đau, tai nạn hay tuổi già không có nguồn thu nhập ổn định. Chính tâm lý chủ quan này khiến tỷ lệ tham gia BHXH tự nguyện và BHYT hộ gia đình trong nhóm thanh niên “3 không” còn ở mức thấp, làm gia tăng nguy cơ mất an sinh khi gặp biến cố. Trong bối cảnh đó, BHXH và BHYT được xác định là hai trụ cột quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội, góp phần bảo vệ người lao động nói chung và thanh niên nói riêng trước những rủi ro của cuộc sống và thị trường lao động. BHYT giúp người trẻ tiếp cận dịch vụ y tế kịp thời, giảm gánh nặng chi phí khám chữa bệnh, đặc biệt trong những tình huống phát sinh đột ngột. BHXH tự nguyện tạo nền tảng an sinh lâu dài, giúp người lao động có nguồn thu nhập ổn định khi hết tuổi lao động, giảm nguy cơ rơi vào nghèo đói khi về già. Những năm qua, việc tuân thủ Luật BHXH, Luật BHYT trong các cơ quan, doanh nghiệp ngày càng được nâng cao, tạo điều kiện để lao động trẻ tham gia BHXH, BHYT từ sớm và đúng quy định. Tuy nhiên, để thu hẹp khoảng trống an sinh đối với nhóm thanh niên “3 không”, cần có sự vào cuộc đồng bộ của cả

Trong quá trình giải quyết vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng cũng sẽ đánh giá đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị can. Những ngày qua, vụ việc Công an TP Hải Phòng triệt phá đường dây tiêu thụ thịt lợn nhiễm bệnh, “phù phép” thành các sản phẩm thịt đóng hộp xảy ra tại Công ty CP Đồ hộp Hạ Long, thu giữ 130 tấn thịt lợn trong đó có 120 tấn thịt nhiễm bệnh dịch tả lợn châu Phi khiến nhiều người không khỏi hoang mang, bức xúc. Dưới các bài viết của Dân trí, nhiều người mong muốn cơ quan chức năng xét xử mức án nghiêm khắc nhất đối với 9 đối tượng đã bị khởi tố trong đường dây. Vậy dưới góc độ pháp lý, khung hình phạt có thể áp dụng đối với tội danh trong vụ việc này ra sao? Theo Điều 317 Bộ luật Hình sự 2015, người thực hiện một trong các hành vi sau sẽ bị xử lý hình sự về tội Vi phạm quy định về an toàn thực phẩm: Thứ nhất, sử dụng các loại chất mà biết là cấm sử dụng hoặc ngoài danh mục được sử dụng trong sản xuất thực phẩm mà sản phẩm trị giá từ 10 triệu đồng trở lên hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý hình sự về hành vi này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; Thứ hai, sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc bị tiêu hủy để chế biến thực phẩm hoặc cung cấp, bán thực phẩm mà biết là có nguồn gốc từ nhóm động vật nêu trên mà sản phẩm trị giá từ 10 triệu đồng trở lên hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý hình sự về hành vi này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; Thứ ba, sử dụng các loại chất mà biết là chưa được phép sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành tại Việt Nam trong sản xuất thực phẩm mà sản phẩm trị giá từ 100 triệu đồng trở lên hoặc từ 50 triệu đồng trở lên nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý hình sự về hành vi này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; Thứ tư, nhập khẩu, cung cấp hoặc bán thực phẩm mà biết là có sử dụng các loại chất cấm sử dụng hoặc ngoài danh mục được phép sử dụng trị giá từ 10 triệu đồng trở lên; thu lợi bất chính từ 5 triệu đồng trở lên; đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc đã bị kết án về hành vi này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; Thứ năm, nhập khẩu, cung cấp hoặc bán thực phẩm mà biết là có sử dụng các chất chưa được phép sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành tại Việt Nam trị giá từ 100 triệu đồng trở lên; thu lợi bất chính từ 50 triệu đồng trở lên; thực phẩm trị giá từ 50 triệu đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính từ 20 triệu đồng trở lên nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc kết án về hành vi này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; Thứ sáu, thực hiện một trong các hành vi nêu trên hoặc chế biến, cung cấp, bán thực phẩm mà biết là không bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật, quy định về an toàn thực phẩm gây ngộ độc, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của từ 5 người trở lên hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác từ 31% trở lên. Tùy thuộc các yếu tố như mức độ thiệt hại về tài sản, sức khỏe, tính mạng con người, tổng giá trị thực phẩm không đảm bảo hay số tiền thu lợi bất chính, người phạm tội có thể bị áp dụng các tình tiết định khung theo quy định tại Điều 317 Bộ luật Hình sự 2015. Đối với các tình tiết quy định tại khoản 4 Điều này, việc xử lý hình sự sẽ được áp dụng nếu hành vi thuộc các tình tiết định khung như làm chết 3 người trở lên; gây ngộ độc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của 201 người trở lên; thực phẩm có giá trị 500 triệu đồng trở lên; thu lợi bất chính 300 triệu đồng trở lên hay thực phẩm có sử dụng nguyên liệu là động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy trị giá 500 triệu đồng trở lên. Khung hình phạt có thể áp dụng theo khoản này là phạt tù 12-20 năm. Như vậy, với việc Công an TP Hải Phòng khởi tố bị can về tội Vi phạm quy định về an toàn thực phẩm theo khoản 4, Điều 317 Bộ luật Hình sự 2015, người phạm tội có thể bị truy tố với khung hình phạt là 12-20 năm tù. Ngoài ra, theo Điều 54 Bộ luật Hình sự 2015, trong quá trình giải quyết Vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng cũng sẽ đánh giá đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị can. Nếu bị can có từ 2 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, căn cứ Điều 54 Bộ luật Hình sự 2015, cơ quan tiến hành tố tụng có thể áp dụng mức phạt thấp hơn so với mức phạt về tội danh bị xử lý theo quy định của pháp luật. https://dantri.com.vn/ban-doc/goc-nhin-phap-ly-vu-phu-phep-lon-benh-thanh-do-hop-20260109174006506.htm

Bộ Y tế vừa ban hành Thông tư 60/2025/TT-BYT quy định về bệnh nghề nghiệp được hưởng BHXH và hướng dẫn chẩn đoán, giám định mức suy giảm khả năng lao động do bệnh nghề nghiệp. Nhóm bệnh STT Tên bệnh nghề nghiệp I. Bệnh bụi phổi – đường hô hấp 1 Bệnh bụi phổi silic nghề nghiệp 2 Bệnh bụi phổi amiăng nghề nghiệp 3 Bệnh bụi phổi bông nghề nghiệp 4 Bệnh bụi phổi talc nghề nghiệp 5 Bệnh bụi phổi than nghề nghiệp 6 Bệnh viêm phế quản mạn tính nghề nghiệp 7 Bệnh hen nghề nghiệp II. Bệnh nhiễm độc hóa chất, kim loại nặng 8 Bệnh nhiễm độc chì nghề nghiệp 9 Bệnh nhiễm độc nghề nghiệp do benzen và đồng đẳng 10 Bệnh nhiễm độc thủy ngân nghề nghiệp 11 Bệnh nhiễm độc mangan nghề nghiệp 12 Bệnh nhiễm độc 2,4,6-Trinitrotoluen (TNT) nghề nghiệp 13 Bệnh nhiễm độc arsenic nghề nghiệp 14 Bệnh nhiễm độc hóa chất bảo vệ thực vật nghề nghiệp (nhóm phosphor hữu cơ và carbamat) 15 Bệnh nhiễm độc nicotin nghề nghiệp 16 Bệnh nhiễm độc carbon monoxide nghề nghiệp 17 Bệnh nhiễm độc cadmi nghề nghiệp III. Bệnh do yếu tố vật lý 18 Bệnh điếc nghề nghiệp do tiếng ồn 19 Bệnh giảm áp nghề nghiệp 20 Bệnh nghề nghiệp do rung toàn thân 21 Bệnh nghề nghiệp do rung cục bộ 22 Bệnh phóng xạ nghề nghiệp 23 Bệnh đục thể thủy tinh nghề nghiệp IV. Bệnh da nghề nghiệp 24 Bệnh nốt dầu nghề nghiệp 25 Bệnh sạm da nghề nghiệp 26 Bệnh viêm da tiếp xúc nghề nghiệp do crôm 27 Bệnh da nghề nghiệp do tiếp xúc môi trường ẩm ướt, lạnh kéo dài 28 Bệnh da nghề nghiệp do tiếp xúc với cao su tự nhiên và hóa chất phụ gia cao su V. Bệnh truyền nhiễm liên quan nghề nghiệp 29 Bệnh Leptospira nghề nghiệp 30 Bệnh viêm gan vi rút B nghề nghiệp 31 Bệnh lao nghề nghiệp 32 Nhiễm HIV do tai nạn rủi ro nghề nghiệp 33 Bệnh viêm gan vi rút C nghề nghiệp VI. Bệnh ung thư, bệnh đặc biệt 34 Bệnh ung thư trung biểu mô nghề nghiệp 35 Bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona (COVID-19) nghề nghiệp Thông tư là căn cứ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm quyền lợi cho người lao động bị ảnh hưởng sức khỏe do điều kiện lao động, đồng thời thay thế các quy định trước đây đã không còn phù hợp. 35 bệnh nghề nghiệp được hưởng BHXH Theo Điều 3 Thông tư 60/2025/TT-BYT, Danh mục bệnh nghề nghiệp được hưởng BHXH gồm 35 bệnh, chia thành 6 nhóm chính. Nhóm bệnh bụi phổi – đường hô hấp gồm 7 bệnh như: bụi phổi silic, bụi phổi amiăng, bụi phổi than, viêm phế quản mạn tính nghề nghiệp, hen nghề nghiệp… Nhóm bệnh nhiễm độc hóa chất, kim loại nặng gồm 10 bệnh, trong đó có nhiễm độc chì, benzen, thủy ngân, mangan, arsenic, cadmi, carbon monoxide… Nhóm bệnh do yếu tố vật lý gồm 6 bệnh như điếc nghề nghiệp do tiếng ồn, bệnh giảm áp, bệnh do rung toàn thân, rung cục bộ, phóng xạ nghề nghiệp, đục thể thủy tinh nghề nghiệp. Nhóm bệnh da nghề nghiệp gồm 5 bệnh liên quan đến tiếp xúc hóa chất, môi trường ẩm ướt, lạnh kéo dài hoặc cao su tự nhiên. Nhóm bệnh truyền nhiễm liên quan nghề nghiệp gồm 5 bệnh như lao nghề nghiệp, viêm gan B, viêm gan C nghề nghiệp, nhiễm HIV do tai nạn rủi ro nghề nghiệp. Nhóm bệnh ung thư, bệnh đặc biệt gồm ung thư trung biểu mô nghề nghiệp và COVID-19 nghề nghiệp. Nguyên tắc chẩn đoán, điều trị và giám định Thông tư 60/2025/TT-BYT quy định, người lao động sau khi được chẩn đoán mắc bệnh nghề nghiệp phải hạn chế tiếp xúc với yếu tố gây bệnh, được điều trị theo hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế; các bệnh nhiễm độc nghề nghiệp phải được thải độc, giải độc kịp thời. Người sử dụng lao động có trách nhiệm giới thiệu người lao động đi khám giám định y khoa để xác định mức suy giảm khả năng lao động, làm căn cứ hưởng chế độ BHXH; đồng thời bảo đảm việc điều trị, điều dưỡng, phục hồi chức năng theo quy định. Một số bệnh nghề nghiệp không có khả năng điều trị ổn định và các trường hợp ung thư liên quan nghề nghiệp phải chuyển giám định ngay để bảo đảm quyền lợi cho người lao động. Căn cứ bổ sung bệnh nghề nghiệp vào danh mục Theo Thông tư, việc bổ sung bệnh nghề nghiệp được hưởng BHXH dựa trên các tiêu chí như: Xác định được mối liên hệ giữa yếu tố có hại trong lao động với bệnh cụ thể; Tỉ lệ mắc bệnh ở nhóm lao động tiếp xúc cao hơn nhóm không tiếp xúc; Bệnh đã được quốc tế công nhận là bệnh nghề nghiệp, dù chưa đủ điều kiện nghiên cứu tại Việt Nam. Đáng chú ý, nhiều bệnh có thể xuất hiện sau nhiều năm tiếp xúc, kể cả khi người lao động đã nghỉ hưu hoặc chuyển sang công việc khác. Thông tư 60/2025/TT-BYT có hiệu lực từ ngày 15/2/2026, đồng thời bãi bỏ Thông tư 15/2016/TT-BYT và Thông tư 02/2023/TT-BYT về bệnh nghề nghiệp được hưởng BHXH. Việc ban hành Thông tư mới được kỳ vọng sẽ nâng cao hiệu quả quản lý bệnh nghề nghiệp, đồng thời giúp người lao động không bỏ sót quyền lợi BHXH chính đáng của mình./. https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/linh-vuc-bao-hiem-y-te.aspx?ItemID=25982&CateID=169

Chỉ trong chưa đầy 30 phút, ê-kíp Bệnh viện Từ Dũ và Nhi Đồng 1 (TP.HCM) đã can thiệp thông tim bào thai thành công, lập dấu mốc ca thực hiện nhanh nhất Việt Nam. Lúc 10h ngày 30/12, ê-kíp bác sĩ chuyên khoa Sản – Can thiệp bào thai – Tim mạch can thiệp của Bệnh viện Từ Dũ phối hợp cùng Bệnh viện Nhi đồng 1 đã thực hiện thành công ca can thiệp thông tim bào thai cho một thai nhi mắc tim bẩm sinh phức tạp. Với thời gian thực hiện dưới 30 phút, đây được xem là ca thông tim bào thai nhanh nhất từ trước đến nay tại Việt Nam, đánh dấu bước tiến nổi bật của y học bào thai trong nước. Thai nhi được chẩn đoán hẹp van động mạch phổi nặng kèm thiểu sản thất phải tiến triển, một dạng tim bẩm sinh phức tạp, có nguy cơ cao diễn tiến thành tim một thất sau sinh nếu không được can thiệp kịp thời. Thai phụ là chị N.T.T.T. (26 tuổi, ngụ TP.HCM), mang thai lần hai, thai kỳ tự nhiên. Chồng của thai phụ là người Malaysia, luôn đồng hành và phối hợp chặt chẽ cùng gia đình và đội ngũ y tế trong suốt quá trình theo dõi, hội chẩn và quyết định can thiệp. Theo hồ sơ theo dõi, ở tam cá nguyệt thứ nhất, các lần khám thai chưa ghi nhận bất thường. Xét nghiệm sàng lọc trước sinh NIPT cho kết quả nguy cơ thấp. Tuy nhiên, đến khoảng tuần thai 22-24, qua siêu âm tim thai chuyên sâu, các bác sĩ phát hiện bất thường tim bẩm sinh gồm hẹp van động mạch phổi nặng kèm hở van ba lá. Thai phụ sau đó được chuyển đến theo dõi và hội chẩn tại Bệnh viện Từ Dũ và Bệnh viện Nhi đồng 1. Kết quả chọc ối phân tích nhiễm sắc thể cho thấy thai nhi có bộ nhiễm sắc thể bình thường, tạo cơ sở quan trọng để các bác sĩ cân nhắc chỉ định can thiệp. Trong quá trình theo dõi tiếp theo, bệnh lý tim thai tiến triển nhanh, thất phải ngày càng thiểu sản cả về hình thái lẫn chức năng, làm gia tăng nguy cơ phải điều trị theo lộ trình tim một thất sau sinh. Sau nhiều buổi hội chẩn liên viện, các bác sĩ thống nhất chỉ định can thiệp thông tim bào thai, nhằm cải thiện dòng máu qua van động mạch phổi, tạo điều kiện cho thất phải tiếp tục phát triển trong tử cung. Mục tiêu là mở rộng cơ hội bảo tồn chiến lược tim hai thất hoặc 1,5 thất sau sinh, tránh cho trẻ phải đi theo lộ trình điều trị tim một thất phức tạp và kéo dài. Thực tế can thiệp gặp không ít thách thức. Tại thời điểm làm thủ thuật, thai nhi ở tư thế ngôi đầu, nghiêng trái, bánh nhau mặt trước, làm gia tăng mức độ khó. Đặc biệt, cánh tay thai nhi vắt ngang trước ngực, che khuất hoàn toàn đường vào buồng tim. Trước tình huống này, ê-kíp đã linh hoạt thực hiện một thủ thuật hỗ trợ nhỏ để di chuyển chi thai, nhanh chóng tạo điều kiện tiếp cận tim thai an toàn. Sau khi tối ưu tư thế, quá trình xuyên kim qua thành bụng mẹ – tử cung – lồng ngực thai nhi và bơm bóng nong van động mạch phổi được thực hiện thuận lợi. Ca can thiệp thành công ngay lần xuyên kim đầu tiên, giúp rút ngắn tối đa thời gian thủ thuật, hạn chế nguy cơ cho cả mẹ và thai nhi. Vợ chồng sản phụ hạnh phúc vì con ổn định sau phẫu thuật. Ảnh: Nguyễn Thuận. Trao đổi với báo chí sáng 31/12, bác sĩ chuyên khoa II Trần Ngọc Hải, Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ, cho biết ca can thiệp đã được chuẩn bị rất kỹ lưỡng với tổng cộng 5 ê-kíp, mỗi ê-kíp từ 3 đến 5 người, nâng tổng số nhân lực tham gia lên khoảng 20-25 người. “Trước đây, có những ca rất nặng phải làm kéo dài nhiều giờ, thậm chí phải can thiệp hai lần. Có trường hợp lần đầu mất 4 tiếng, lần thứ hai mất thêm 2 tiếng. Còn với ca này, chúng tôi thực hiện trong dưới 30 phút”, bác sĩ Hải chia sẻ. Theo lãnh đạo Bệnh viện Từ Dũ, Bộ Y tế xếp kỹ thuật thông tim bào thai vào danh mục phẫu thuật đặc biệt, đồng thời đánh giá đây là dấu mốc của một bước tiến rất lớn của y học Việt Nam. Bởi đây là kỹ thuật rất mới, rất hiếm và chỉ có rất ít trung tâm trên thế giới thực hiện được. Bác sĩ Hải thông tin mỗi ca can thiệp cần khoảng 50 thiết bị y tế, gần 25 nhân viên y tế, đồng thời phải chuẩn bị song song hai phòng can thiệp với đầy đủ hệ thống. Chi phí vì vậy cao hơn gần gấp đôi so với can thiệp tim mạch thông thường ở người lớn, nhưng vẫn nằm trong khung giá nhà nước quy định và được bảo hiểm y tế chi trả phần lớn. https://znews.vn/ca-thong-tim-xuyen-qua-bao-thai-nhanh-nhat-viet-nam-post1615623.html

Sự thành công của ca ghép đồng thời tim – phổi cho bệnh nhân suy đa tạng mở ra một dấu mốc quan trọng, khẳng định bước tiến vượt bậc của BV Hữu nghị Việt Đức trong lĩnh vực ghép đa tạng, đồng thời đặt dấu mốc cho y học Việt Nam trên bản đồ thế giới, mở ra nhiều cơ hội cứu sống người bệnh nguy kịch. TS.BS Dương Đức Hùng – Giám đốc BV Hữu nghị Việt Đức đã xúc động chia sẻ thông tin trên với báo chí… Ca ghép khối tim – phổi đầu tiên kéo dài 7 giờ, hơn 40 chuyên gia tham gia trực tiếp… Cách đây hơn 3 tuần, người bệnh Trần Như Q (38 tuổi) bước vào ca ghép đa tạng đầu tiên trong lịch sử ghép tạng của Việt Nam – ghép khối tim – phổi đồng thời. Trước đó, nữ bệnh nhân có tiền sử: thông liên nhĩ – tăng áp động mạch phổi nặng đã bít dù thông liên nhĩ tại Bệnh viện Tim Hà Nội năm 2011, không theo dõi thường xuyên, mới dùng thuốc được 1 năm trở lại, bệnh nhân không có tiền sử tai biến mạch máu não. PGS. TS Phạm Hữu Lư – Phó Trưởng Khoa Ngoại Tim mạch và Lồng ngực, Trung tâm Tim mạch, BV Hữu nghị Việt Đức cho biết, bệnh nhân vào viện được chẩn đoán: hội chứng eisenmenger – suy thất phải không hồi phục – hở ba lá nặng/ tiền sử bít dù thông liên nhĩ, khả năng tử vong tính theo ngày, có chỉ định ghép cả tim và phổi đồng thời dù không kịp thời gian điều trị suy dinh dưỡng và phổi người hiến có nhiễm khuẩn Acinetor baummani và to hơn lồng ngực người nhận. “Chúng tôi đã hội chẩn liên chuyên khoa, bởi để thực hiện kỹ thuật ghép đồng thời khối tim – phổi cải tiến phải có sự phối hợp liên chuyên khoa: Nội tim mạch lồng ngực, gây mê – hồi sức, ngoại, phục hồi chức năng, dinh dưỡng …”- TS Lư nói. Trong ca phẫu thuật kéo dài 7 tiếng liên tục, các chuyên gia của BV Hữu nghị Việt Đức phải sử dụng hệ thống tuần hoàn ngoài cơ thể thay thế tạm thời tim và phổi trong suốt thời gian đó. Để đảm bảo tim hoạt động tốt nhưng cần tránh truyền nhiều dịch gây phù phổi, dùng ít thuốc mê và đưa vào các phương tiện theo dõi huyết động tiên tiến nhất. Các bác sĩ cũng tiến hành cắt bớt phổi hai bên cho vừa, nối hai phế quản gốc thay vì nối khí quản theo kinh điển để tưới máu miệng nối tốt hơn, soi phế quản ống mềm trong mổ đánh giá 2 miệng nối phế quản gốc. Khối tim – phổi của người hiến được chuẩn bị đưa vào ghép cho bệnh nhân. Theo TS Hùng, đây là ca bệnh đặc biệt hiếm gặp, đòi hỏi sự phối hợp liên chuyên khoa, áp dụng những kỹ thuật phẫu thuật và hồi sức tiên tiến hàng đầu hiện nay. “Ghép khối tim – phổi là một kỹ thuật y học tiên tiến, trong đó cả tim và hai phổi của người bệnh được thay thế đồng thời bằng tim và hai phổi khỏe mạnh từ người hiến tạng phù hợp. Đây là giải pháp điều trị cuối cùng cho các bệnh nhân mắc đồng thời bệnh tim và bệnh phổi giai đoạn cuối, khi tất cả các phương pháp điều trị khác không còn hiệu quả”- TS.BS Dương Đức Hùng nói và cho biết thêm: Ca phẫu thuật này đòi hỏi kỹ thuật cao, phối hợp nhiều chuyên khoa và hệ thống hồi sức, chăm sóc sau mổ đặc biệt. Tiếp tục ‘cắm cờ đỏ sao vàng’ của Việt Nam trên bản đồ ghép đa tạng, đặc biệt là trong ghép đồng thời tim – phổi Ông Hùng cũng thông tin, trên thế giới, ghép khối tim – phổi được thực hiện rất ít do yêu cầu nguồn tạng hiếm, quy trình phẫu thuật phức tạp và nguy cơ biến chứng cao; được chỉ định cho những trường hợp mắc đồng thời bệnh tim và bệnh phổi giai đoạn cuối khi tất cả các phương pháp điều trị khác không còn hiệu quả. Thành công của ca ghép đồng thời tim – phổi không chỉ đánh dấu bước tiến vượt bậc trong năng lực ghép tạng, đặc biệt là ghép đa tạng, mà còn khẳng định trình độ chuyên môn của đội ngũ y tế Việt Nam trong lĩnh vực ngoại khoa. Thành tựu này mở ra cơ hội sống và hướng điều trị mới cho những bệnh nhân mắc bệnh tim – phổi giai đoạn cuối. “Tính từ ngày thực hiện ca ghép, hôm nay tròn 24 ngày. Thời gian qua thực sự là những ngày ‘căng với ekip hồi sức và phẫu thuật viên tham gia thực hiện ca ghép đa tạng này. Đến hôm nay chúng tôi mới cảm giác như nhẹ người hơn Với thành công của ca ghép khối tim – phổi này, chúng tôi đã tiếp tục cắm cờ đỏ sao vàng của Việt Nam trên bản đồ ghép đa tạng, đặc biệt là trong ghép đồng thời tim – phổi bởi hiện nay ghép khối tim – phổi rất ít. Do yêu cầu nguồn tạng hiếm và kỹ thuật cực kỳ phức tạp, mỗi năm toàn thế giới chỉ thực hiện khoảng 100 ca ghép như này”- TS.BS Đương Dức Hùng chia sẻ. Các tình huống thường gặp gồm: bệnh tim bẩm sinh phức tạp kèm tăng áp động mạch phổi kiểu Eisenmenger; tăng áp động mạch phổi nặng đã gây suy tim phải không hồi phục; hoặc bệnh phổi giai đoạn cuối kèm bệnh tim trái không thể sửa chữa. Do yêu cầu nguồn tạng hiếm và kỹ thuật cực kỳ phức tạp, mỗi năm

Chỉ trong chưa đầy 30 phút, ê-kíp Bệnh viện Từ Dũ và Nhi Đồng 1 (TP.HCM) đã can thiệp thông tim bào thai thành công, lập dấu mốc ca thực hiện nhanh nhất Việt Nam. Lúc 10h ngày 30/12, ê-kíp bác sĩ chuyên khoa Sản – Can thiệp bào thai – Tim mạch can thiệp của Bệnh viện Từ Dũ phối hợp cùng Bệnh viện Nhi đồng 1 đã thực hiện thành công ca can thiệp thông tim bào thai cho một thai nhi mắc tim bẩm sinh phức tạp. Với thời gian thực hiện dưới 30 phút, đây được xem là ca thông tim bào thai nhanh nhất từ trước đến nay tại Việt Nam, đánh dấu bước tiến nổi bật của y học bào thai trong nước. Thai nhi được chẩn đoán hẹp van động mạch phổi nặng kèm thiểu sản thất phải tiến triển, một dạng tim bẩm sinh phức tạp, có nguy cơ cao diễn tiến thành tim một thất sau sinh nếu không được can thiệp kịp thời. Thai phụ là chị N.T.T.T. (26 tuổi, ngụ TP.HCM), mang thai lần hai, thai kỳ tự nhiên. Chồng của thai phụ là người Malaysia, luôn đồng hành và phối hợp chặt chẽ cùng gia đình và đội ngũ y tế trong suốt quá trình theo dõi, hội chẩn và quyết định can thiệp. Theo hồ sơ theo dõi, ở tam cá nguyệt thứ nhất, các lần khám thai chưa ghi nhận bất thường. Xét nghiệm sàng lọc trước sinh NIPT cho kết quả nguy cơ thấp. Tuy nhiên, đến khoảng tuần thai 22-24, qua siêu âm tim thai chuyên sâu, các bác sĩ phát hiện bất thường tim bẩm sinh gồm hẹp van động mạch phổi nặng kèm hở van ba lá. Thai phụ sau đó được chuyển đến theo dõi và hội chẩn tại Bệnh viện Từ Dũ và Bệnh viện Nhi đồng 1. Kết quả chọc ối phân tích nhiễm sắc thể cho thấy thai nhi có bộ nhiễm sắc thể bình thường, tạo cơ sở quan trọng để các bác sĩ cân nhắc chỉ định can thiệp. Trong quá trình theo dõi tiếp theo, bệnh lý tim thai tiến triển nhanh, thất phải ngày càng thiểu sản cả về hình thái lẫn chức năng, làm gia tăng nguy cơ phải điều trị theo lộ trình tim một thất sau sinh. Sau nhiều buổi hội chẩn liên viện, các bác sĩ thống nhất chỉ định can thiệp thông tim bào thai, nhằm cải thiện dòng máu qua van động mạch phổi, tạo điều kiện cho thất phải tiếp tục phát triển trong tử cung. Mục tiêu là mở rộng cơ hội bảo tồn chiến lược tim hai thất hoặc 1,5 thất sau sinh, tránh cho trẻ phải đi theo lộ trình điều trị tim một thất phức tạp và kéo dài. Thực tế can thiệp gặp không ít thách thức. Tại thời điểm làm thủ thuật, thai nhi ở tư thế ngôi đầu, nghiêng trái, bánh nhau mặt trước, làm gia tăng mức độ khó. Đặc biệt, cánh tay thai nhi vắt ngang trước ngực, che khuất hoàn toàn đường vào buồng tim. Trước tình huống này, ê-kíp đã linh hoạt thực hiện một thủ thuật hỗ trợ nhỏ để di chuyển chi thai, nhanh chóng tạo điều kiện tiếp cận tim thai an toàn. Sau khi tối ưu tư thế, quá trình xuyên kim qua thành bụng mẹ – tử cung – lồng ngực thai nhi và bơm bóng nong van động mạch phổi được thực hiện thuận lợi. Ca can thiệp thành công ngay lần xuyên kim đầu tiên, giúp rút ngắn tối đa thời gian thủ thuật, hạn chế nguy cơ cho cả mẹ và thai nhi. Vợ chồng sản phụ hạnh phúc vì con ổn định sau phẫu thuật. Ảnh: Nguyễn Thuận. Trao đổi với báo chí sáng 31/12, bác sĩ chuyên khoa II Trần Ngọc Hải, Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ, cho biết ca can thiệp đã được chuẩn bị rất kỹ lưỡng với tổng cộng 5 ê-kíp, mỗi ê-kíp từ 3 đến 5 người, nâng tổng số nhân lực tham gia lên khoảng 20-25 người. “Trước đây, có những ca rất nặng phải làm kéo dài nhiều giờ, thậm chí phải can thiệp hai lần. Có trường hợp lần đầu mất 4 tiếng, lần thứ hai mất thêm 2 tiếng. Còn với ca này, chúng tôi thực hiện trong dưới 30 phút”, bác sĩ Hải chia sẻ. Theo lãnh đạo Bệnh viện Từ Dũ, Bộ Y tế xếp kỹ thuật thông tim bào thai vào danh mục phẫu thuật đặc biệt, đồng thời đánh giá đây là dấu mốc của một bước tiến rất lớn của y học Việt Nam. Bởi đây là kỹ thuật rất mới, rất hiếm và chỉ có rất ít trung tâm trên thế giới thực hiện được. Bác sĩ Hải thông tin mỗi ca can thiệp cần khoảng 50 thiết bị y tế, gần 25 nhân viên y tế, đồng thời phải chuẩn bị song song hai phòng can thiệp với đầy đủ hệ thống. Chi phí vì vậy cao hơn gần gấp đôi so với can thiệp tim mạch thông thường ở người lớn, nhưng vẫn nằm trong khung giá nhà nước quy định và được bảo hiểm y tế chi trả phần lớn. https://znews.vn/ca-thong-tim-xuyen-qua-bao-thai-nhanh-nhat-viet-nam-post1615623.html

Theo phóng viên TTXVN tại London, hai bác sĩ Việt Nam gồm bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ Đỗ Thị Ngọc Linh (Bệnh viện hữu nghị Việt Đức) và bác sĩ Lê Diệp Linh (Phó Giám đốc Trung tâm phẫu thuật sọ mặt và tạo hình, Bệnh viện Trung ương quân đội 108) vừa được công nhận là thành viên danh dự Hiệp hội phẫu thuật Hoàng gia Anh (RCS), một trong những danh hiệu uy tín nhất trong ngành phẫu thuật thế giới. Lễ trao chứng chỉ thành viên diễn ra tại trụ sở RCS ở London tháng 11/2025. https://baotintuc.vn/infographics/hai-bac-si-viet-nam-nhan-chung-chi-thanh-vien-danh-du-cua-to-chuc-ngoai-khoa-hang-dau-the-gioi-20251120192010359.htm

Viêm phổi là bệnh thường gặp và là một trong những nguyên nhân chính gây tử vong ở trẻ em. Trẻ càng nhỏ tỷ lệ tử vong do viêm phổi càng cao. Mùa đông, các bệnh cảm lạnh cũng gia tăng làm cho virus, vi khuẩn nhân cơ hội xâm nhập mũi họng và xuống phổi gây viêm phổi. Trẻ mắc viêm phổi có biểu hiện gì? Khi mắc viêm phổi, trẻ sẽ có các biểu hiện: Giai đoạn sớm: có thể chỉ có sốt nhẹ, ho húng hắng, chảy nước mắt và nước mũi, khò khè, ăn kém, bỏ bú, quấy khóc… Giai đoạn sau: trẻ không được điều trị đúng và theo dõi sát có thể diễn biến nặng hơn với biểu hiện sốt cao, ho tăng lên, có đờm, khó thở, thở nhanh, rút lõm lồng ngực, bỏ bú hoặc bú kém, tím môi, tím đầu chi … Trẻ mắc viêm phổi nặng có triệu chứng: trẻ ho hoặc khó thở và có ít nhất một trong các triệu chứng chính là: co rút lồng ngực, phập phồng cánh mũi; thở rên (ở trẻ dưới 2 tháng)… Trẻ mắc viêm phổi rất nặng sẽ có các biểu hiện: trẻ có ho hoặc khó thở cộng với ít nhất một trong các triệu chứng chính là: tím tái, co giật, lơ mơ hoặc hôn mê; không uống được hoặc bỏ bú hoặc nôn ra tất cả mọi thứ; suy hô hấp nặng với biểu hiện đầu gật gù theo nhịp thở và co kéo cơ hô hấp phụ. Ngoài ra, có thể có thêm một số triệu chứng khác gồm: thở nhanh, phập phồng cánh mũi, thở rên, co rút lồng ngực. Lưu ý: Để xác định trẻ có thở nhanh hay không bằng cách đếm nhịp thở của trẻ trong đủ 1 phút. Trẻ được coi là thở nhanh nếu: Trẻ < 2 tháng tuổi, nhịp thở > 60 lần/phút. Trẻ 2 – 11 tháng tuổi, nhịp thở > 50 lần/phút. Trẻ 12 – 60 tháng tuổi, nhịp thở > 40 lần/phút. Cha mẹ không tự ý cho con uống kháng sinh Khi trẻ mắc viêm phổi, cha mẹ cần cho trẻ đi khám và điều trị theo chỉ dẫn của bác sĩ. Cha mẹ tuyệt đối không tự ý mua thuốc kháng sinh, thuốc giảm ho điều trị cho con tại nhà. Thuốc kháng sinh sẽ không có tác dụng trong trường hợp trẻ bị viêm phổi do virus. Ho là phản xạ tốt để tống xuất chất đờm ra khỏi đường thở, làm thông thoáng đường thở nên không cho trẻ uống thuốc giảm ho khi chưa có chỉ định của bác sĩ. Cách phòng bệnh viêm phổi cho trẻ trong mùa lạnh Mùa đông các bệnh cảm lạnh cũng gia tăng làm cho virus, vi khuẩn nhân cơ hội xâm nhập mũi họng và xuống phổi gây viêm phổi. Muốn phòng bệnh viêm phổi cho trẻ em cần thực hiện các biện pháp như sau: Giữ ấm đường thở: Khi thời tiết trở lạnh, cha mẹ cần lưu ý giữ ấm cho trẻ bằng cách cho trẻ ăn mặc đủ ấm phù hợp với mức độ lạnh bên ngoài: mặc thêm áo ấm, nón len, mang thêm bao tay, tất, khăn, đeo khẩu trang khi ra đường, đội mũi kín tai, sử dụng nước ấm,… Bổ sung đủ dinh dưỡng cho trẻ: Trẻ em cần được ăn uống đầy đủ các chất dinh dưỡng để tăng cường miễn dịch, nhất là những trẻ còn trong độ tuổi bú mẹ. Với các trẻ biếng ăn, cha mẹ nhất thiết nên bổ sung từ các nguồn thực phẩm bổ sung, các công thức thuốc bổ tổng hợp và các chế phẩm thảo dược chuẩn hóa có tác dụng chống biếng ăn cho trẻ. Cho trẻ uống đủ nước, trẻ nhỏ cho bú nhiều lần trong ngày. Không hút thuốc, đun nấu trong phòng có trẻ nhỏ. Cách ly trẻ với người bị bệnh để tránh lây lan thành dịch. Nơi ở đủ ánh sáng, lưu thông không khí tốt. Thường xuyên lau nền nhà, tay nắm cửa và bề mặt các đồ vật trong nhà bằng các chất tẩy rửa thông thường, như xà phòng và các dung dịch khử khuẩn. Đưa trẻ đi tiêm phòng đầy đủ, đúng lịch các vắc-xin như bạch hầu – ho gà – uốn ván, Hemophilus influenzae typ B (Hib), phế cầu, cúm… Phát hiện sớm các biểu hiện sớm của bệnh viêm đường hô hấp nói chung như: ho, sốt, chảy nước mũi, khó thở… và các rối loạn khác như tiêu chảy, ăn kém, chậm tăng cân… để chăm sóc và điều trị kịp thời. Hàng ngày vệ sinh răng miệng cho trẻ sạch sẽ ngày 2 lần sáng khi ngủ dậy và buổi tối trước khi đi ngủ, sau mỗi bữa ăn cho uống nước súc miệng, tránh để khuẩn đọng lại bằng cách chải răng, lau răng miệng cho trẻ nhỏ.

Khi đến Viện Sức khỏe tâm thần khám, cô gái trẻ khiến bác sĩ ngỡ ngàng khi cô đem theo một túi xách lớn, nặng trĩu chứa bình khí N₂O (khí cười), vì sợ xuất hiện cơn thèm bất chợt không thể kiểm soát. Chia sẻ tại buổi tọa đàm “Bóng cười – nước mắt sau những cuộc vui”, diễn ra chiều 12/1 tại Viện Sức khỏe tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai, bác sĩ Lê Thị Phương Thảo, Đơn nguyên Sử dụng chất và Y học Hành vi, cho biết mới đây, bác sĩ đã khám cho một bệnh nhân nữ bị nghiện “khí cười” N₂O. Bác sĩ Thảo cho biết, cô gái trẻ bước vào phòng khám, với một chiếc túi xách lớn, và lấy ra một bình khí N₂O trong sự ngỡ ngàng của bác sĩ. “Cô gái giải thích, cô bị nghiện khí N₂O, bị bố mẹ phát hiện bắt đi khám và cai nghiện, nhưng khi đi khám, sợ lên cơn thèm bất chợt không thể kiểm soát nên cô phải lén vác bình khí đi theo”, bác sĩ Thảo thông tin. Nữ bệnh nhân cho biết, lần đầu tiên cô hít bóng cười (bóng bơm khí N₂O) là khi học cấp 2, do bạn bè rủ hít. Lúc ấy, cô nghĩ chỉ thử cho biết và không hít thường xuyên. Tuy nhiên, lên cấp 3, khi đi chơi với bạn bè nhiều hơn, cô tiếp xúc, hút bóng cười thường xuyên hơn. Dần dần, cô có cảm giác bị lệ thuộc, thèm hút bóng cười nên không cần bạn bè rủ, cô cũng tự mua bóng về hít tại nhà. Bác sĩ Thảo cho biết, nữ bệnh nhân mỗi ngày hít 20-30 quả bóng cười. Khi tình trạng nghiện nặng hơn, cô không dùng bóng cười nữa mà trực tiếp mua khí N₂O về hít. Cô gái thường xuyên mang bình khí N₂O nhỏ bên người, kể cả khi đi làm để lên cơn thèm là hít. Thời điểm bố mẹ phát hiện và bắt đi khám, cô gái đã sử dụng bóng cười đến 6-7 năm, đồng thời có các biểu hiện tê bì chân tay, trầm cảm, lo âu. Bác sĩ Thảo cho biết, bóng cười (còn gọi là funky ball) là một quả bóng được bơm đầy khí N₂O (khí cười). N₂O (Dinitơ oxit hay nitrous oxide) hay còn gọi là khí cười là một trong những hợp chất vô cơ không màu, vị ngọt nhẹ. Chất này vào cơ thể, dạng khí, sẽ chiếm chỗ oxy làm thiếu oxy, ức chế thần kinh trung ương gây ra nhiều cảm giác phê, hoang tưởng. N₂O là nhóm chất gây nghiện, thuộc nhóm gây ảo giác có xu hướng tăng liều, người dùng có thể bị phụ thuộc, nghiện, ảo giác tương tự heroin. “Dùng bóng cười lâu ngày với số lượng lớn có thể làm tổn thương não bộ; tê bì tay chân; yếu liệt, đi không vững; tổn thương tủy sống không hồi phục; giảm trí nhớ, chậm chạp, kém tập trung… Thậm chí, việc lạm dụng bóng cười có thể gây ngừng tim đột ngột hoặc ngạt thở cấp tính do thiếu oxy dẫn đến tử vong”, bác sĩ Thảo cảnh báo. Bác sĩ Thảo cũng cho biết, độc tính của khí cười tăng theo liều lượng và thời gian sử dụng, liều cao thường gây nguy hiểm tức thì nhưng liều thấp dùng kéo dài vẫn có thể gây tổn thương nặng. Việc hít bóng cười lâu ngày sẽ dẫn đến số lượng ngày càng tăng, có những người dùng tới 30-40 quả mỗi lần. “Việc dùng trên 10 quả bóng cười mỗi lần và dùng nhiều lần có thể gây độc tính mạnh đối với bộ não, có khả năng gây tổn thương cấp tính và mạn tính đến cơ thể”, bác sĩ Thảo cho biết. Trước đó, Bệnh viện Bãi Cháy đã tiếp nhận điều trị cho một bệnh nhân 15 tuổi bị tổn thương tủy cổ, tê yếu tay chân do ngộ độc khí N₂O sau thời gian sử dụng bóng cười dài ngày. Bệnh nhi đến viện trong tình trạng tê bì hai tay, hai chân yếu dần, đi lại khó khăn kèm theo sụt cân nhiều. Trước đó, người bệnh đã sử dụng bóng cười liên tục trong vòng 10 ngày, mỗi ngày khoảng 10 quả. Kết quả chụp cộng hưởng từ cột sống cổ có hình ảnh tổn thương sừng sau tủy cổ. Bệnh nhân được chẩn đoán bệnh rễ thần kinh tủy sống cổ, theo dõi do ngộ độc khí cười N₂O. Bác sĩ Thảo khuyến cáo người trẻ cần cảnh giác với bóng cười, tuyệt đối không “thử cho biết” bởi thực tế nhiều người đã bị nghiện sau khi thử, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe. https://dantri.com.vn/suc-khoe/co-gai-xach-theo-binh-khi-cuoi-di-cai-nghien-20260112213551189.htm

Bệnh TCM chủ yếu ở trẻ nhỏ dưới 5 tuổi, lây lan nhanh qua tiếp xúc gần với các chủng virus như EV71 và Coxsackievirus A16 là nguyên nhân chính. Tại Việt Nam, bệnh TCM vẫn diễn biến phức tạp, số trường hợp mắc tăng cao vào các đợt cao điểm (tháng 3-5 và tháng 9-12) chủ yếu ở trẻ dưới 5 tuổi. Bệnh rất dễ lây lan trong môi trường tập thể và tiềm ẩn nguy cơ biến chứng nặng và rất nặng có thể tử vong. Nguyên nhân gây bệnh tay chân miệng Tác nhân gây bệnh thường gặp là virus Coxsackie A16 and Enterovirus 71 (virus đường ruột typ 71). Các virus này có khả năng lây lan rất nhanh qua đường miệng bởi các chất tiết từ mũi, miệng, các nốt ban trên da và phân của trẻ bệnh. Trẻ lành tiếp xúc trực tiếp với trẻ bệnh TCM rất dễ bị nhiễm bệnh do hít phải nước bọt của trẻ bệnh văng ra trong lúc nói chuyện, cười, ho hoặc hắt hơi. Hoặc do trẻ lành cầm nắm đồ chơi hay chạm vào sàn nhà có dính nước bọt, chất tiết mũi họng của trẻ bệnh TCM cũng sẽ bị lây bệnh. Bên cạnh đó, bệnh TCM còn lây qua tay của người chăm sóc trẻ bệnh TCM. Triệu chứng bệnh tay chân miệng Triệu chứng của bệnh chân tay miệng ở trẻ em thường là sốt nhẹ, chán ăn, mệt mỏi, đau họng, ho, đau bụng, nổi ban đỏ trên da… trong đó đặc biệt lưu ý là dấu hiệu nổi ban trên da. Đây là dấu hiệu đặc trưng của bệnh TCM. Trong 1-2 ngày đầu khi phát bệnh, trẻ sẽ có những nốt ban hồng nổi trên nền da bình thường, sau đó trở thành bọng nước. Những ban đỏ này xuất hiện nhiều ở niêm mạc miệng, ngón tay, lòng bàn tay, lòng bàn chân (vì vậy gọi là bệnh TCM) và mông. Những nốt ban có kích thước từ 2-5mm ở giữa có màu xám sẫm và có hình bầu dục. Thường bệnh TCM được phân độ để tiện việc điều trị và theo dõi bệnh. Do đó, bệnh TCM được phân thành 4 độ chính, từ nhẹ đến nặng, dựa trên mức độ tổn thương thần kinh, tim mạch và hô hấp. Đó là độ 1 chỉ có loét miệng hoặc phát ban da; độ 2 bắt đầu có biến chứng thần kinh nhẹ như giật mình, sốt cao, lừ đừ; độ 3 có tổn thương thần kinh thực vật nặng (mạch nhanh/chậm, vã mồ hôi, thở nhanh); độ 4 là nặng nhất, có thể suy hô hấp, tuần hoàn, sốc, phù phổi, tím tái, cần can thiệp cấp cứu ngay. Những biến chứng đáng sợ của bệnh tay chân miệng Biến chứng thần kinh (viêm não – viêm màng não); Biến chứng về tim mạch (viêm cơ tim); Biến chứng về hô hấp (phù phổi cấp). Các biến chứng nguy hiểm đáng sợ này thường xuất hiện sớm khoảng từ ngày thứ hai đến ngày thứ năm của bệnh (xảy ra trong giai đoạn toàn phát) nguy cơ dẫn đến tử vong nếu không được phát hiện sớm và xử trí kịp thời. Ngoài ra, bệnh TCM có thể gây nguy hiểm cho phụ nữ mang thai, nếu bị nhiễm bệnh TCM trong 3 tháng đầu của thai kỳ có nguy cơ dẫn đến sảy thai vì vậy, phụ nữ đang mang thai nên phòng ngừa bằng cách hạn chế tiếp xúc gần với những người đang mắc bệnh TCM Nguyên tắc phòng bệnh và điều trị bệnh chân tay miệng Khi thấy trẻ có các biểu hiện nghi ngờ trẻ mắc bệnh TCM, cha mẹ cần đưa trẻ đến bệnh viện để được thăm khám và đánh giá đúng về tình trạng bệnh. Căn cứ vào tình hình thực tế diễn biến bệnh của trẻ, bác sĩ sẽ chỉ định điều trị phù hợp nhất và cho cách ly với trẻ lành (cách ly trẻ bệnh là điều cần được lưu ý khi chưa có vaccine phòng bệnh đặc hiệu). Với trẻ mắc bệnh độ 1, có thể chăm sóc trẻ tại nhà, nhưng phải theo dõi thường xuyên và nếu thấy có biểu hiện bất thường cần đưa đi bệnh viện càng sớm càng tốt. Từ độ 2 trở đi cần được nhập viện để theo dõi, nhằm tránh những biến chứng nguy hiểm. Một số biện pháp phòng tránh tay chân miệng ở trẻ hiệu quả “Phòng bệnh hơn chữa bệnh”, khi đã biết được nguyên nhân gây ra bệnh tay chân miệng, cha mẹ có thể dễ dàng chủ động phòng ngừa bệnh TCM cho trẻ cũng như bản thân mình (vì nhiều trường hợp người lớn cũng có thể mắc bệnh TCM) bằng cách không đưa trẻ đến những nơi đông người bởi ở những nơi đó có thể đang bị ô nhiễm mầm bệnh TCM. Luôn vệ sinh tay chân của trẻ sạch sẽ bằng xà phòng diệt khuẩn phù hợp. Cần tuân thủ nguyên tắc “ăn chín uống chín” để loại bỏ vi khuẩn, virus có thể xâm nhập cơ thể trẻ. Không ôm, hôn, tiếp xúc gần với trẻ nếu nhận thấy bản thân có nguy cơ bị TCM hoặc đã tiếp xúc với người bị bệnh TCM trước đó. Luôn vệ sinh, khử khuẩn không gian sống, giữ cho phòng ở thoáng mát đồng thời thường xuyên vệ sinh, khử khuẩn các loại đồ chơi, đồ dùng cá nhân của bé để loại bỏ virus, vi khuẩn gây bệnh. Bố mẹ bé nên chủ động tăng sức đề kháng và miễn dịch cho trẻ bằng việc bổ sung đầy đủ dinh dưỡng thiết yếu cho trẻ, cho trẻ hoạt động thể chất… https://suckhoedoisong.vn/nhung-bien-chung-dang-so-cua-benh-tay-chan-mieng-169251231214449374.htm

Từ năm 2026, Bộ Y tế tiêm vaccine ngừa ung thư cổ tử cung và phế cầu miễn phí cho trẻ, nhằm bao phủ miễn dịch và giảm gánh nặng chi phí cho người dân. “Bổ sung vaccine phế cầu và HPV là bước đi quan trọng nhằm mở rộng bao phủ miễn dịch, giảm gánh nặng bệnh tật và hướng tới mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ tiêm chủng đạt 95% theo định hướng của Chính phủ”, ông Dương Chí Nam, Phó cục trưởng Cục Phòng bệnh, Bộ Y tế, cho biết tại Lễ tổng kết cuộc thi tìm hiểu về chương trình tiêm chủng mở rộng tại Việt Nam, hôm 26/12 tại Hà Nội. Theo lộ trình, ngành y tế bắt đầu tiêm vaccine phế cầu quy mô nhỏ ngay từ quý I/2026. Dựa trên số liệu trẻ dưới 1 tuổi năm 2025, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương dự kiến triển khai trước tại các địa phương như Bắc Kạn, Lạng Sơn, Quảng Nam, Đăk Nông, Sóc Trăng, Tuyên Quang, Lào Cai, Cao Bằng, Sơn La và Quảng Ngãi. Đối với vaccine ngừa ung thư cổ tử cung (HPV), chương trình ưu tiên thực hiện tại các vùng khó khăn từ quý III/2026. Bốn tỉnh được chọn thí điểm tiêm miễn phí cho bé gái 11 tuổi gồm Tuyên Quang, Quảng Ngãi, Đắk Lắk và Vĩnh Long. Cơ quan chuyên môn ước tính giai đoạn 2026-2028, khoảng 18.000 trẻ mỗi năm tại các vùng triển khai sẽ thụ hưởng chính sách này. Hiện, phụ huynh phải trả chi phí dịch vụ khá cao để con được tiêm hai loại vaccine nói trên. Vaccine ngừa HPV dành cho nữ 9-26 tuổi có giá 1-2 triệu đồng mỗi liều, trọn bộ ba liều tiêu tốn khoảng 3-6 triệu đồng. Vaccine phế cầu cho trẻ từ 6 tuần tuổi cũng dao động quanh mức 1,2 triệu đồng một mũi. Việc đưa các loại dược phẩm này vào danh mục miễn phí tạo điều kiện cho mọi trẻ em, đặc biệt là tại các vùng nghèo, tiếp cận công bằng với dịch vụ y tế chất lượng cao. Phế cầu và HPV là hai trong 4 loại vaccine mới được bổ sung vào chương trình tiêm chủng quốc gia giai đoạn 2024-2030. Trước đó, vaccine ngừa virus Rota đã được thử nghiệm quy mô nhỏ từ cuối năm 2024 và sẽ mở rộng vào năm 2026; vaccine ngừa cúm dự kiến áp dụng từ năm 2030. Như vậy, từ năm 2026, số bệnh truyền nhiễm có vaccine miễn phí sẽ tăng lên 13 bệnh, bao gồm: viêm gan B, lao, bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt, bệnh do Hib, sởi, rubella, viêm não Nhật Bản B, tiêu chảy do virus Rota, các bệnh do phế cầu và ung thư cổ tử cung. Chương trình Tiêm chủng mở rộng quốc gia vận hành từ năm 1985 và đạt nhiều thành tựu quan trọng sau gần 40 năm. Việt Nam đã thanh toán bệnh bại liệt vào năm 2000 và loại trừ uốn ván sơ sinh năm 2005. Tỷ lệ trẻ dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ thường xuyên duy trì ở mức trên 90%. Vi khuẩn phế cầu (Streptococcus pneumoniae) là tác nhân hàng đầu gây ra các bệnh nguy hiểm ở trẻ nhỏ như viêm phổi, viêm màng não và nhiễm trùng huyết với tỷ lệ tử vong cao hoặc để lại di chứng thần kinh nặng nề. Trong khi đó, virus HPV (Human Papillomavirus) là nguyên nhân chính gây ung thư cổ tử cung ở phụ nữ và nhiều bệnh lý đường sinh dục khác ở cả hai giới. Vaccine phế cầu giúp cơ thể trẻ tạo kháng thể đặc hiệu, giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh và hạn chế tình trạng kháng kháng sinh đang ngày càng trầm trọng. Đối với vaccine HPV, việc tiêm chủng sớm, tốt nhất trong độ tuổi 9-14, được chứng minh mang lại hiệu quả bảo vệ tối ưu lên tới trên 90% trong việc ngăn ngừa các tổn thương tiền ung thư. https://vnexpress.net/hai-loai-vaccine-gia-hang-trieu-dong-duoc-tiem-mien-phi-tu-2026-4998511.html

Mua cây cảnh trang trí cảnh quan khuôn viên Bệnh viện Chi tiết: xem tại đây!

Thư mời đơn vi cung cấp vật tư lắp đặt bộ điều khiển máy phát điện cho bệnh viện Bắc Thăng Long Chi tiết: xem tại đây!

THƯ MỜI BÁO GIÁ: GIA CÔNG, LẮP DỰNG KHUNG SẮT MÁI TÔN Chi tiết: xem tại đây!

MUA SẮM VẬT TƯ Y TẾ (LẦN 1) NĂM 2026 Chi tiết: xem tại đây!
Để đặt lịch khám vui lòng liên hệ hotline:
Thời gian làm việc:
T2-CN: 7h30 – 11h30 & 13h00 – 17h00
Tổ 18 - Xã Thư Lâm - Thành phố Hà Nội
(84) 889 615 815
Fax: (84-24).3883.2727
Email: bvbtl@hanoi.gov.vn
Coppyright ©2023. All Right Reserved.