
Ngày 03/7/2000 Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội đã ban hành quyết định số 67/QĐ-UB về việc đổi tên “Trung tâm y tế dự phòng than Khu vực Nội Địa” thành “Bệnh viện Bắc Thăng Long” Từ đây Bệnh viện đã trực thuộc Sở Y tế Hà Nội và hoạt động theo đúng ngành dọc của mình. Trụ sở đóng tại: Tổ 18, thị trấn Đông Anh, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.
Bệnh viện Bắc Thăng Long ngày nay với quy mô 420 giường bệnh, 28 khoa, phòng chức năng và 2 bộ phận…

Phó giám đốc Bệnh viện

Phó giám đốc Bệnh viện

Phó giám đốc Bệnh viện

Nhằm bảo đảm công tác cấp cứu, khám chữa bệnh phục vụ nhân dân trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, Bộ Y tế đã ban hành văn bản gửi Giám đốc các bệnh viện trực thuộc Bộ, Giám đốc Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Thủ trưởng Y tế các Bộ, ngành. Cụ thể, Giáo sư, Tiến sĩ Trần Văn Thuấn, Thứ trưởng Bộ Y tế, yêu cầu toàn ngành y tế tăng cường các biện pháp bảo đảm trực cấp cứu, khám chữa bệnh an toàn, liên tục trong suốt kỳ nghỉ Tết. Chỉ đạo này được triển khai trên cơ sở thực hiện Chỉ thị số 55 của Ban Bí thư, Chỉ thị số 36 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức Tết Bính Ngọ 2026 vui tươi, lành mạnh, an toàn, tiết kiệm và Chỉ thị số 03 ngày 28/1/2026 của Bộ trưởng Bộ Y tế về công tác y tế dịp Tết. Bộ Y tế yêu cầu các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thực hiện thường trực 4 cấp, bảo đảm 24/24 giờ, bao gồm: Trực lãnh đạo và xử lý thông tin đường dây nóng; trực chuyên môn; trực hành chính – hậu cần; trực bảo vệ – tự vệ. Danh sách cán bộ trực phải được niêm yết công khai tại các khoa, phòng. Cùng với đó, các đơn vị cần tổ chức tốt việc thu dung, cấp cứu, điều trị người bệnh; chủ động bảo đảm đầy đủ nhân lực, thuốc, máu và chế phẩm máu, dịch truyền, vật tư, hóa chất, thiết bị y tế, ôxy y tế; bố trí đầy đủ giường bệnh và phương tiện phục vụ cấp cứu. Công tác tiếp nhận, điều trị cần tập trung vào các trường hợp tai nạn giao thông, cháy nổ, chấn thương, ngộ độc thực phẩm cũng như các bệnh truyền nhiễm thường gặp trong mùa đông – xuân, nhằm hạn chế biến chứng nặng và tử vong. Các cơ sở khám chữa bệnh phải xây dựng phương án sẵn sàng đáp ứng các tình huống tai nạn, ngộ độc, cấp cứu hàng loạt có thể xảy ra trên địa bàn; chuẩn bị phương án cấp cứu tại các điểm du lịch, vui chơi, giải trí, sự kiện tập trung đông người trong dịp Tết và mùa lễ hội đầu năm. Ngoài nhiệm vụ chuyên môn, các bệnh viện cần tổ chức thăm hỏi, động viên và đón Tết cho người bệnh còn điều trị nội trú, đặc biệt quan tâm đến người bệnh nghèo và các đối tượng chính sách. Bộ Y tế đặc biệt yêu cầu thực hiện chế độ báo cáo trực tuyến hằng ngày trên hệ thống của Cục Quản lý Khám, chữa bệnh đối với tất cả các cơ sở có giường bệnh. Nội dung báo cáo bao gồm tổng hợp số liệu cấp cứu, khám chữa bệnh và danh sách ca bệnh chi tiết, trong đó lưu ý các trường hợp tai nạn do pháo nổ, pháo hoa, vũ khí, vật liệu nổ tự chế và tai nạn giao thông. Các ca tử vong hoặc nặng xin về phải được báo cáo riêng theo đúng quy định. Bộ Y tế cho biết sẽ tổ chức các đoàn kiểm tra đột xuất công tác chuẩn bị và thực hiện thường trực tại một số bệnh viện, viện có giường bệnh trực thuộc Bộ và các bệnh viện địa phương trước và trong dịp Tết Bính Ngọ 2026. https://vietnamnet.vn/bo-y-te-se-kiem-tra-dot-xuat-cong-tac-truc-cap-cuu-tai-cac-benh-vien-dip-tet-2489011.html

Chiều 6/2, Công an thành phố Hà Nội phối hợp với Sở Y tế Hà Nội và các bệnh viện tuyến Trung ương tổ chức Hội nghị ký Kế hoạch phối hợp trong công tác bảo đảm an ninh, trật tự và lĩnh vực y tế trên địa bàn thành phố Hà Nội. Trong thời gian qua, công tác phối hợp giữa Công an thành phố Hà Nội và ngành Y tế trong bảo đảm an ninh, trật tự lĩnh vực y tế đã đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần giữ vững an ninh tại các cơ sở y tế, kịp thời phát hiện, xử lý các vụ việc phức tạp phát sinh; đồng thời hỗ trợ hiệu quả công tác khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe Nhân dân. Sở Y tế Hà Nội và các bệnh viện tuyến trung ương đã thực hiện ký kết kế hoạch phối hợp với Công an thành phố Hà Nội. Công tác bảo đảm an ninh chính trị nội bộ tại các cơ sở y tế được triển khai từ sớm, từ xa, không để hình thành điểm nóng về an ninh, trật tự. Các đơn vị nghiệp vụ của Công an thành phố đã phối hợp hướng dẫn ngành y tế thực hiện nghiêm quy định của Đảng, Nhà nước, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, y bác sĩ trong chấp hành pháp luật. Trong công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm, lực lượng chức năng phối hợp chặt chẽ với ngành y tế trong kiểm tra hoạt động khám chữa bệnh, kinh doanh dược phẩm, trang thiết bị y tế và các lĩnh vực liên quan. T Ngành y tế cũng phối hợp với Công an thành phố bảo đảm tuyệt đối an ninh, an toàn cho hàng nghìn sự kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội quan trọng diễn ra trên địa bàn Thủ đô như đại hội Đảng các cấp, các kỳ bầu cử, hoạt động kỷ niệm lớn của đất nước,… TS.BS Nguyễn Trọng Diện – Giám đốc Sở Y tế Hà Nội phát biểu tại hội nghị. Công tác bảo đảm an ninh, trật tự và phòng cháy chữa cháy tại các cơ sở y tế cũng được tăng cường. Lực lượng Công an thành phố đã phát hiện, xử lý hơn 1.000 vụ việc liên quan đến an ninh, trật tự tại các cơ sở y tế; duy trì lực lượng ứng trực 24/24 giờ để tiếp nhận và xử lý nhanh các tình huống phát sinh. Hàng trăm lớp huấn luyện phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ được tổ chức; gần 6.400 lượt kiểm tra an toàn phòng cháy chữa cháy được thực hiện; nhiều phương án chữa cháy được xây dựng và diễn tập, góp phần hạn chế nguy cơ cháy nổ tại các bệnh viện. Trong giai đoạn dịch COVID-19, ngành y tế đã phối hợp với lực lượng công an trong vận hành các cơ sở cách ly, thu dung, điều trị, bảo đảm an ninh tại các điểm tiêm chủng, góp phần kiểm soát hiệu quả dịch bệnh. Đồng thời, ngành y tế và các bệnh viện cũng phối hợp đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ y bác sĩ trong lực lượng công an, chăm sóc sức khỏe cán bộ, chiến sĩ và thân nhân, giúp lực lượng yên tâm công tác, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Phát biểu tại hội nghị, TS.BS Nguyễn Trọng Diện – Giám đốc Sở Y tế Hà Nội cho biết, với đặc thù mỗi ngày đều diễn ra các hoạt động liên quan trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng người dân, các cơ sở y tế luôn tiềm ẩn yếu tố phức tạp về an ninh trật tự, do đó sự phối hợp chặt chẽ với lực lượng công an giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Thời gian qua, hai bên đã phối hợp hiệu quả trong bảo đảm an ninh tại các bệnh viện, bảo vệ đội ngũ thầy thuốc, đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực y tế, đồng thời bảo đảm an toàn phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ. Công an thành phố đã bố trí lực lượng tại các bệnh viện trọng điểm như Thanh Nhàn, Phụ sản Hà Nội, Xanh Pôn…, tăng cường tuần tra vào giờ cao điểm. Các bệnh viện cũng chủ động kiện toàn lực lượng bảo vệ, bổ sung hệ thống camera giám sát, sắp xếp lại luồng giao thông nội viện và khu vực dịch vụ để hạn chế tình trạng lộn xộn, chèo kéo người bệnh. Thời gian tới, ngành Y tế và Công an thành phố sẽ tiếp tục thiết lập cơ chế trao đổi thông tin nhanh, chính xác, có tính dự báo cao; lấy công nghệ làm nền tảng, tăng cường kết nối dữ liệu, xây dựng cơ chế phối hợp nhanh khi xảy ra sự cố an ninh mạng, đồng thời bảo đảm môi trường bệnh viện an toàn, không để xảy ra các hành vi xâm hại nhân viên y tế hay điểm nóng về an ninh trật tự. Công tác đào tạo, diễn tập ứng phó tình huống khẩn cấp, thảm họa, dịch bệnh cũng sẽ được tăng cường nhằm sẵn sàng phục vụ các nhiệm vụ lớn của thành phố. Ngành Y tế Hà Nội cam kết tiếp tục phối hợp chặt chẽ với lực lượng công an, thực hiện nghiêm các quy định về bảo mật thông tin, tăng cường kỷ cương và nâng cao chất lượng dịch vụ, hướng tới mục tiêu cao nhất là sự an tâm và hài lòng của người dân, góp phần xây dựng Thủ đô ngày càng an toàn, văn minh và phát triển bền vững. Tại hội nghị, Sở Y tế Hà Nội và các

Ngày Thế giới Phòng, Chống bệnh Ung thư được tổ chức vào ngày 4 tháng 2 hằng năm do Liên Minh Kiểm soát Ung thư Quốc tế (UICC) dẫn đầu nhằm cách nâng cao nhận thức, dự phòng, phát hiện sớm, điều trị tốt hơn bệnh ung thư. Đồng thời, hướng tới mục tiêu cung cấp dịch vụ chăm sóc, điều trị bệnh ung thư công bằng cho tất cả mọi người và hợp tác với các chính phủ để hành động. Ung thư là vấn đề sức khỏe quan trọng nhất, không chỉ Việt Nam mà hầu hết các quốc gia trên thế giới đang phải đối mặt. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ung thư là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ hai trên toàn thế giới với khoảng 20 triệu ca mới mắc và gần 10 triệu người tử vong hằng năm. Xu hướng này sẽ ngày càng tăng lên trong nhiều năm tiếp theo. Tuy nhiên, hơn 40% số ca tử vong liên quan đến ung thư có thể phòng ngừa bằng cách giảm với các yếu tố nguy cơ như thuốc lá, béo phì, lười vận động, rượu bia, nhiễm trùng, ô nhiễm môi trường, ánh nắng mặt trời, chất gây ung thư nghề nghiệp và bức xạ. https://moh.gov.vn/tin-tong-hop/-/asset_publisher/k206Q9qkZOqn/content/ngay-the-gioi-phong-chong-ung-thu-4-2-cac-bien-phap-phong-tranh-va-giam-nguy-co-mac-ung-thu?inheritRedirect=false&redirect=https%3A%2F%2Fmoh.gov.vn%3A443%2Ftin-tong-hop%3Fp_p_id%3D101_INSTANCE_k206Q9qkZOqn%26p_p_lifecycle%3D0%26p_p_state%3Dnormal%26p_p_mode%3Dview%26p_p_col_id%3Drow-3-column-2%26p_p_col_pos%3D1%26p_p_col_count%3D2

Sở Y tế Hà Nội vừa công bố danh sách số điện thoại đường dây nóng của thủ trưởng các đơn vị trực thuộc nhằm tiếp nhận phản hồi, kịp thời chấn chỉnh thái độ phục vụ và nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân. Đây là động thái quyết liệt nhằm tăng cường tính minh bạch, sự giám sát của cộng đồng đối với hoạt động của các bệnh viện, trung tâm y tế trên địa bàn Thủ đô. Danh sách số điện thoại đường dây nóng của thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Sở Y tế Hà Nội. Nguồn: SYT Hà Nội Thông qua việc công khai này, người dân khi gặp các vấn đề về quy trình thủ tục, tinh thần thái độ phục vụ của nhân viên y tế hoặc các sự cố liên quan đến chuyên môn có thể gọi điện trực tiếp đến người đứng đầu đơn vị để được giải đáp và xử lý kịp thời. Sở Y tế Hà Nội yêu cầu các lãnh đạo đơn vị phải đảm bảo việc tiếp nhận thông tin từ người dân một cách thông suốt, không được né tránh hoặc phản hồi chậm trễ đối với các kiến nghị chính đáng. https://plo.vn/ha-noi-cong-khai-so-dien-thoai-lanh-dao-tat-ca-cac-benh-vien-post894638.html

Trong không khí rộn ràng đón chào mùa Xuân mới, chiều 6/2/2026, Bệnh viện Bắc Thăng Long đã tổ chức buổi gặp mặt, chúc Tết cán bộ hưu trí nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026. Chương trình diễn ra trong không khí ấm cúng, thân tình, là dịp để các thế hệ cán bộ cùng ôn lại kỷ niệm, sẻ chia niềm vui và gửi gắm những kỳ vọng cho chặng đường phát triển tiếp theo của bệnh viện. Tham dự buổi gặp mặt có các đồng chí nguyên lãnh đạo bệnh viện qua các thời kỳ, các cán bộ hưu trí cùng Ban Lãnh đạo bệnh viện và đại diện các khoa/phòng… Thay mặt Ban lãnh đạo bệnh viện, BSCKII Vũ Thành Chung – Giám đốc bệnh viện bày tỏ tình cảm trân trọng khi được gặp lại các thế hệ tiền bối: “Điều khiến chúng tôi phấn khởi nhất là thấy các bác, các cô, chú vẫn giữ được sức khỏe, tinh thần lạc quan và nét trẻ trung như những năm trước. Sự hiện diện đông đủ của các bác, cô chú, anh chị không chỉ là niềm vui mà còn là nguồn động viên to lớn đối với thế hệ đang công tác tại bệnh viện. Buổi gặp mặt hôm nay không chỉ là dịp để tri ân, mà còn là cơ hội để chúng ta cùng ngồi lại bên nhau, cùng nhau ôn lại những kỷ niệm xưa và chia sẻ về những bước phát triển mới của bệnh viện” Ông Đỗ Quang Thuần nguyên Giám đốc bệnh viện đã nghỉ hưu đại diện cho các cán bộ hưu trí tặng hoa Ban giám đốc bệnh viện Thay mặt Ban giám đốc, BSCKII Vũ Thành Chung – Giám đốc bệnh Bắc Thăng Long tặng quà cho các cán bộ hưu trí tới dự Nhiều tiết mục văn nghệ chào mừng, do các Y – Bác sĩ, người lao động bệnh viện Bắc Thăng Long biên đạo và biểu diễn Trong không khí buổi gặp mặt, các cán bộ hưu trí đã nghe báo cáo tổng kết, điểm lại những kết quả nổi bật và dấu ấn đáng nhớ của bệnh viện Bắc Thăng Long trong năm 2025, qua đó khẳng định những nỗ lực bền bỉ của tập thể cán bộ, viên chức, người lao động trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Buổi gặp mặt khép lại trong không khí đầm ấm, nghĩa tình, là dịp để thế hệ các Y – Bác sĩ, người lao động hôm nay bày tỏ lòng tri ân sâu sắc tới các bác, các cô chú, cán bộ hưu trí, những người đã đặt nền móng vững chắc, góp phần xây dựng và phát triển bệnh viện Bắc Thăng Long. Những giá trị truyền thống ấy tiếp tục được gìn giữ, kế thừa và phát huy, tạo niềm tin cho chặng đường phát triển bền vững của bệnh viện trong những năm tiếp theo. Phòng CTXH Một số hình ảnh buổi gặp mặt, các cán bộ hưu trí:

Tên cơ sở hướng dẫn thực hành khám bệnh, chữa bệnh: Bệnh viện Bắc Thăng Long Địa chỉ: Tổ 18 xã Thư Lâm, TP Hà Nội Xem chi tiết tại đây

Ngày 24/01, Bệnh viện Bắc Thăng Long đã tổ chức chương trình khám sức khoẻ định kỳ cho cán bộ xã Thư Lâm, mục đích nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe ban đầu, phát hiện sớm và phòng ngừa các bệnh lý thường gặp. Việc khám sức khoẻ định kỳ cho cán bộ còn là cơ sở để đánh giá, phân loại sức khỏe cán bộ theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế. Nội dung khám bao gồm: khám lâm sàng tổng quát (Nội, Ngoại, Sản, Mắt, Tai mũi họng, Răng hàm mặt…); cận lâm sàng: xét nghiệm, siêu âm…; tư vấn sức khỏe, tư vấn dinh dưỡng, vận động. Hoạt động không chỉ góp phần chăm sóc sức khỏe thể chất mà còn nâng cao nhận thức về phòng bệnh, tự theo dõi và bảo vệ sức khỏe cho đội ngũ cán bộ xã. Dưới đây là một số hình ảnh hoạt động: Phòng CTXH

Xem chi tiết Thông báo 78 tại đây

Thời gian qua, liên quan đến việc tổ chức, thực hiện và thanh toán các dịch vụ kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh trong khám bệnh, chữa bệnh BHYT, BHXH Việt Nam cung cấp một số thông tin nhằm làm rõ căn cứ pháp lý và nguyên tắc thực hiện công tác giám định, thanh toán trong khám chữa bệnh BHYT theo quy định hiện hành. Căn cứ pháp lý trong giám định, thanh toán dịch vụ kỹ thuật y tế Việc giám định và thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT được cơ quan BHXH thực hiện trên cơ sở tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh và pháp luật về BHYT. Luật Khám bệnh, chữa bệnh quy định nguyên tắc trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh là thực hiện kịp thời và tuân thủ quy định về chuyên môn kỹ thuật, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong việc thực hiện đúng các quy định chuyên môn kỹ thuật và các quy định pháp luật có liên quan. Ảnh minh họa. Khoản 2 Điều 35 Nghị định số 188/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm tuân thủ các hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế và các quy định pháp luật liên quan về mua sắm, đấu thầu, nhằm bảo đảm cung ứng thuốc, dịch vụ kỹ thuật y tế có chất lượng, hiệu quả và sử dụng quỹ BHYT tiết kiệm, đúng quy định. Thông tư số 35/2016/TT-BYT của Bộ Y tế quy định rõ, dịch vụ kỹ thuật y tế được quỹ BHYT thanh toán khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện, cụ thể như sau: – Được cấp có thẩm quyền phê duyệt thực hiện tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; – Được thực hiện theo quy trình chuyên môn kỹ thuật do cấp có thẩm quyền ban hành; – Được cấp có thẩm quyền phê duyệt giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh BHYT. Quy định về thời gian thực hiện quy trình kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh Quyết định số 2775/QĐ-BYT và Quyết định số 2776/QĐ-BYT ngày 29/8/2025 của Bộ Y tế ban hành hướng dẫn quy trình kỹ thuật trong lĩnh vực chẩn đoán hình ảnh và điện quang can thiệp, trong đó quy định thời gian thực hiện kỹ thuật được xây dựng trên cơ sở tính phổ biến, thường quy tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Theo các hướng dẫn này, thời gian thực hiện một quy trình kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh được tính từ khi người bệnh bắt đầu được thực hiện kỹ thuật đến khi có kết quả chẩn đoán, bao gồm các bước: thời gian chuẩn bị người bệnh, thời gian chụp, đọc phim, kết luận chẩn đoán. Ví dụ, thời gian tham chiếu đối với: – Chụp X-quang xương khớp hoặc chụp phổi, bụng thường quy: khoảng 6 – 12 phút; – Chụp X-quang dạ dày, đại tràng:khoảng 20 – 30 phút; – Siêu âm ổ bụng, tuyến giáp: khoảng 6 – 15 phút. Các mốc thời gian nêu trong hướng dẫn có ý nghĩa tham chiếu chuyên môn, phục vụ tổ chức thực hiện và xây dựng định mức kinh tế – kỹ thuật; trong thực tế triển khai, căn cứ diễn biến lâm sàng, tình trạng người bệnh và điều kiện thực tế của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, thời gian thực hiện kỹ thuật có thể được điều chỉnh tăng hoặc giảm theo hướng dẫn của Bộ Y tế. Giám định, thanh toán BHYT đảm bảo đúng quy định của pháp luật Cơ quan BHXH thực hiện giám định và thanh toán chi phí các dịch vụ kỹ thuật y tế trên cơ sở hồ sơ, quy trình chuyên môn và thực tế triển khai tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, bảo đảm đúng quy định của pháp luật. BHXH Việt Nam không ban hành thêm quy định ngoài các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, đồng thời không yêu cầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh kéo dài thời gian thực hiện kỹ thuật một cách hình thức. Việc hiểu hoặc áp dụng quy định theo hướng yêu cầu bác sĩ, kỹ thuật viên “chờ đủ thời gian” mới tiếp tục thực hiện ca kỹ thuật tiếp theo là chưa phù hợp với bản chất của hướng dẫn chuyên môn, có thể ảnh hưởng đến thời gian chờ đợi và quyền lợi của người bệnh BHYT. Để bảo đảm thống nhất trong nhận thức và tổ chức thực hiện, BHXH Việt Nam kiến nghị Bộ Y tế tiếp tục rà soát, hoàn thiện các hướng dẫn chuyên môn kỹ thuật, bảo đảm phù hợp với thực tiễn triển khai và sự phát triển của khoa học công nghệ y tế, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong quá trình thực hiện, qua đó bảo đảm đầy đủ quyền lợi của người tham gia BHYT./. https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/linh-vuc-bao-hiem-y-te.aspx?ItemID=26151&CateID=169

Bộ Y tế cho biết đang thí điểm mô hình mới theo hướng cho phép một người đăng ký bảo lãnh viện phí với ngân hàng cho cả gia đình, tạo điều kiện để cơ sở y tế thực hiện “chữa bệnh trước, thanh toán sau”. Thông tin được Bộ Y tế công bố tại Hội nghị triển khai công tác khám, chữa bệnh năm 2026, tổ chức ngày 02/02. Tại Hội nghị, Bộ Y tế chính thức vận hành Cổng bảo lãnh thanh toán viện phí. Bệnh viện Đa khoa Hà Đông (Hà Nội) là đơn vị đầu tiên trong 15 cơ sở y tế thí điểm hoàn tất kết nối và đưa vào sử dụng. Ngành y tế sẽ sớm triển khai tại Bệnh viện Đa khoa Nông nghiệp và mở rộng 13 bệnh viện còn lại trong thời gian tới. Các đại biểu bấm nút khai trương Cổng bảo lãnh thanh toán viện phí ngày 2/2. Phát biểu tại Hội nghị, Tiến sĩ Nguyễn Huy Lương, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh cho biết, những năm qua, ngành Y tế đã phát triển mạnh mẽ, đặc biệt trong ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số. Nhiều kỹ thuật y học hiện đại như mổ robot, xạ trị proton, can thiệp tim mạch… đang được triển khai tại Việt Nam. Tuy nhiên, một nghịch lý tồn tại, trong khi chuyên môn y tế không ngừng được nâng cao thì quy trình thu viện phí tại nhiều cơ sở khám chữa bệnh vẫn còn lạc hậu. Hiện nay, hầu hết các bệnh viện, từ công lập đến tư nhân, từ tuyến tỉnh đến tuyến trung ương, người bệnh vẫn phải tạm ứng viện phí trước khi điều trị. Điều này xảy ra ngay cả với người có thẻ BHYT, dù đã có nhiều chỉ đạo yêu cầu không thu tạm ứng và cắt giảm thủ tục hành chính trong khám chữa bệnh. Đối với bệnh nhân nội trú, một đợt điều trị thường kéo dài và phát sinh nhiều khoản chi phí. Người bệnh phải liên tục chờ đợi làm xét nghiệm, thực hiện kỹ thuật rồi tiếp tục chờ nộp thêm viện phí. Với những ca điều trị chi phí lớn như phẫu thuật, can thiệp tim mạch, đặt stent, số tiền có thể lên tới hàng trăm triệu đồng. “Không ít trường hợp dù có tiền trong tài khoản ngân hàng nhưng khi đang nằm viện, người bệnh không đủ điều kiện về sức khỏe hoặc thủ tục để tự thực hiện giao dịch thanh toán”, ông Nguyễn Huy Lương chia sẻ. Trước đó, Bộ Y tế đã ban hành Bộ tiêu chí chất lượng bệnh viện, trong đó quy định việc thu viện phí phải thuận tiện, công khai, minh bạch; người bệnh có thể được cấp tài khoản thanh toán ảo, nộp viện phí một lần khi ra viện, thậm chí được tín chấp bằng thẻ tín dụng. Tuy nhiên, trên thực tế, các quy định này vẫn chưa được triển khai rộng rãi. Từ thực tiễn trên, ông Nguyễn Huy Lương cho rằng, cổng bảo lãnh viện phí là giải pháp nhân văn và phù hợp. Mô hình này giúp người bệnh yên tâm nhập viện, không lo thiếu tiền điều trị, không phải tạm ứng hay hoàn ứng nhiều lần, đồng thời chủ động hơn về tài chính, kể cả với những ca bệnh có chi phí lớn. Một điểm đáng chú ý của mô hình bảo lãnh viện phí là tính linh hoạt và cộng đồng. Một người có thể bảo lãnh cho nhiều người khác; ngược lại, một bệnh nhân cũng có thể được nhiều người cùng bảo lãnh. Chỉ cần mỗi người bảo lãnh một khoản nhỏ, khi cộng lại có thể đủ để chi trả cho những ca điều trị tốn kém, qua đó chia sẻ rủi ro và hỗ trợ lẫn nhau trong cộng đồng. Tại Hà Nội, Bệnh viện Đa khoa Hà Đông đã thử nghiệm mô hình này. Ông Nguyễn Thành Vinh, Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Hà Đông cho biết, kết quả triển khai ban đầu có khoảng 70% bệnh nhân khám dịch vụ sử dụng bảo lãnh viện phí. Thời gian xử lý tại bộ phận tiếp đón và thu ngân giảm khoảng 30%, đặc biệt rút ngắn đáng kể thời gian tạm ứng và hoàn ứng. Việc áp dụng mô hình không ảnh hưởng đến quy trình hoạt động chung của bệnh viện. Tỷ lệ hài lòng của người bệnh và người nhà đạt 100% theo khảo sát thực tế. Đa số người bệnh đánh giá cao sự tiện lợi khi không phải xếp hàng chờ tạm ứng, nộp tiền nhiều lần. Người nhà bệnh nhân cảm thấy yên tâm hơn khi đã chủ động đăng ký bảo lãnh; người bệnh khi đi khám chỉ cần sử dụng bảo lãnh để làm thủ tục./. https://baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/linh-vuc-bao-hiem-y-te.aspx?ItemID=26154&CateID=169

Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Thông tư 59/2025/TT-BKHCN quy định về bảo đảm an toàn bức xạ và ứng phó sự cố bức xạ và hạt nhân, trong đó quy định về bảo đảm an toàn bức xạ trong y tế. Yêu cầu chung về bảo đảm an toàn đối với thiết bị bức xạ, thiết bị sử dụng trong y học hạt nhân Thông tư nêu rõ các yêu cầu chung về bảo đảm an toàn đối với thiết bị bức xạ, thiết bị sử dụng trong y học hạt nhân: Thiết bị bức xạ sử dụng cho chẩn đoán, điều trị bệnh và thiết bị được sử dụng trong y học hạt nhân phải có chứng chỉ chất lượng thể hiện việc đáp ứng các yêu cầu về bảo đảm an toàn theo tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. Trường hợp không có tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia thì áp dụng tiêu chuẩn quốc tế tương đương của Ủy ban Kỹ thuật điện quốc tế (IEC), Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO). Có tài liệu kèm theo thiết bị, bao gồm tài liệu về thông số kỹ thuật của thiết bị, hướng dẫn vận hành và bảo trì, hướng dẫn an toàn. Tài liệu hướng dẫn vận hành, hướng dẫn an toàn phải được dịch ra tiếng Việt. Chỉ dẫn vận hành, ký hiệu viết tắt và giá trị vận hành trên bảng điều khiển của thiết bị bức xạ phải bằng tiếng Việt hoặc bằng ngôn ngữ phù hợp với ngôn ngữ mà người vận hành máy sử dụng. Thiết bị bức xạ phải có cơ cấu kiểm soát chùm tia bức xạ, bảo đảm chỉ thị rõ ràng và tin cậy trạng thái chùm tia đang “ngắt” hay “mở”. Thiết bị bức xạ phải có cơ cấu để khu trú chùm tia cho mục đích kiểm soát chùm tia chỉ vào vùng cơ thể người bệnh cần chẩn đoán hoặc điều trị. Trường bức xạ phát ra trong vùng để chẩn đoán hay điều trị trên người bệnh phải đồng đều; mức độ không đồng đều của trường bức xạ phải được nhà cung cấp chỉ rõ trong tài liệu kỹ thuật của thiết bị. Yêu cầu an toàn đối với thiết bị X-quang chẩn đoán dùng trong y tế Theo Thông tư, thiết bị X-quang chẩn đoán dùng trong y tế ngoài việc thực hiện các yêu cầu chung về bảo đảm an toàn đối với thiết bị bức xạ, thiết bị sử dụng trong y học hạt nhân còn phải bảo đảm các yêu cầu sau: Mức bức xạ rò của đầu bóng phát tia X không vượt quá 1 mGy/giờ tại khoảng cách 1m từ vỏ đầu bóng phát tia X lấy trung bình trên diện tích không vượt quá 100 cm2 cho mọi chế độ làm việc của thiết bị được nhà sản xuất khuyến cáo; giá trị lọc cố định của hệ đầu bóng phát X-quang trong đơn vị milimét nhôm tương đương (mm Al) phải ghi rõ trên vỏ hộp chứa bóng. Có hệ kiểm tra kích thước chùm tia bằng nguồn sáng, trừ thiết bị X- quang chụp răng sử dụng phim đặt sau huyệt ổ răng và thiết bị X-quang chụp vú; các thông số điện áp phát (kV), dòng bóng phát (mA), thời gian phát tia (s) hoặc hàng số phát tia (mAs) phải được hiển thị trên tủ điều khiển khi đặt chế độ làm việc và khi chụp. Đối với thiết bị X-quang có chế độ chụp, việc phát tia phải được chấm dứt sau khi đạt được giá trị đặt trước như: thời gian hoặc giá trị mAs hoặc giá trị liều chiếu xạ. Đối với thiết bị X-quang có chế độ chiếu, chụp phải có bộ kiểm soát chế độ phát tia tự động (AEC) hoặc công tắc điều khiển phát tia dạng bấm và giữ, bảo đảm thiết bị chỉ phát tia nếu công tắc được bấm, giữ chặt và ngừng phát tia khi thả công tắc. Thiết bị X-quang di động phải có cáp nối đủ dài để bảo đảm khoảng cách giữa người vận hành thiết bị và bóng phát tối thiểu 2 mét. Đối với thiết bị bức xạ khác, khoảng cách này tối thiểu là 3m. Thiết bị X-quang tăng sáng truyền hình dùng trong can thiệp phải có các tấm che chắn cao su chì lắp tại bàn người bệnh để che chắn các tia bức xạ ảnh hưởng đến nhân viên và hệ che chắn treo trên trần để sử dụng cho mục đích bảo vệ mắt và tuyến giáp của nhân viên khi theo dõi người bệnh. Các tấm che chắn cao su chì phải bảo đảm có chiều dày che chắn không nhỏ hơn 0,5 milimét chì tương đương. Ngoài ra, Thông tư còn quy định các yêu cầu an toàn đối với thiết bị xạ trị; yêu cầu an toàn đối với nguồn phóng xạ kín và thuốc phóng xạ; yêu cầu an toàn đối với thiết bị đo bức xạ, thiết bị và dụng cụ bảo vệ an toàn bức xạ… Xem chi tiết Thông tư tại đây https://baochinhphu.vn/quy-dinh-bao-dam-an-toan-buc-xa-trong-y-te-102260122105314144.htm

Theo Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng, truyền thông chính sách cần được coi là quy trình bắt buộc trong xây dựng và thi hành pháp luật, thực hiện sớm, bài bản và đồng bộ, nhằm nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận xã hội và bảo đảm hiệu lực thực thi pháp luật. Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng chủ trì Phiên họp của Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật Trung ương – Ảnh: Báo Chính phủ Sáng 15.1, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng, Ủy viên Trung ương Đảng, chủ trì Phiên họp của Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật Trung ương đánh giá kết quả triển khai nhiệm vụ năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026. Phiên họp có sự tham dự của đại diện các bộ, cơ quan ngang bộ cùng các cơ quan báo chí chủ lực như Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam. Đổi mới mạnh mẽ phổ biến, giáo dục pháp luật trong giai đoạn mới Theo Bộ Tư pháp, năm 2025, Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật Trung ương và Bộ Tư pháp – Cơ quan thường trực của Hội đồng – đã chủ động ban hành theo thẩm quyền hoặc tham mưu trình Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Hội đồng ban hành 48 văn bản để triển khai các nhiệm vụ. Đồng thời, đôn đốc, chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương kịp thời tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) đối với các luật, nghị quyết được Quốc hội thông qua tại các kỳ họp thứ 8, 9, 10 và kỳ họp bất thường thứ 9. Trong năm 2025, cả nước đã tổ chức hơn 216.000 hoạt động PBGDPL trực tiếp, thu hút trên 23 triệu lượt người tham dự; tổ chức gần 5.000 cuộc thi tìm hiểu pháp luật với hơn 2 triệu lượt người tham gia. Nhiều bộ, ngành, địa phương triển khai tích cực như Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Tài chính và các tỉnh: Tuyên Quang, Đồng Nai, Tây Ninh, Vĩnh Long, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Thanh Hóa… Cơ quan Thường trực Hội đồng đã tổng hợp, phân loại hàng trăm mô hình PBGDPL hiệu quả, đồng thời chỉ đạo nhân rộng, đặc biệt là các mô hình ứng dụng công nghệ số. Trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, Bộ Tư pháp đã phối hợp các bộ, ngành nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung Nghị định số 55/2019/NĐ-CP; phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức hội thảo nhận diện các điểm nghẽn trong lĩnh vực đất đai; tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Đồng thời, Bộ Tư pháp đã trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình “Hỗ trợ pháp lý liên ngành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh giai đoạn 2026–2030”. Cơ quan Thường trực Hội đồng cũng đã tổ chức các đoàn công tác làm việc với các cơ quan báo chí, truyền thông chủ lực để nắm bắt tình hình triển khai công tác truyền thông chính sách, PBGDPL. Nhân rộng mô hình hiệu quả, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số Các cơ quan báo chí trung ương đã chủ động tham gia sâu vào truyền thông chính sách. Đài Truyền hình Việt Nam xây dựng chuyên mục “Tiêu điểm chính sách” về các chính sách có tác động lớn đến xã hội, được người dân và doanh nghiệp ghi nhận, đánh giá cao. Nhiều bộ, ngành, cơ quan trung ương như Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Y tế, Bộ Tư pháp cùng các cơ quan báo chí chủ lực đã lồng ghép các chuyên mục, chuyên trang, dòng sự kiện về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả truyền thông chính sách. Thứ trưởng Bộ Tư pháp khẳng định, năm 2025, Hội đồng các cấp đã triển khai nhiệm vụ kịp thời, đa dạng về hình thức, chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số. Kết quả hoạt động của Hội đồng góp phần nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành về vai trò của công tác PBGDPL, trợ giúp pháp lý; bảo đảm quyền được thông tin pháp luật của người dân và doanh nghiệp. Đại diện Bộ Công an cho biết, Bộ đã triển khai nhiều mô hình PBGDPL thiết thực như phối hợp tuyên truyền pháp luật cho phạm nhân tại các trại giam; tổ chức các cuộc thi viết, cấp phát hàng nghìn đầu sách pháp luật, tủ sách pháp luật. Đồng thời, đổi mới hình thức tuyên truyền pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa, gắn nội dung pháp luật với đời sống thực tiễn. Truyền thông chính sách phải đồng bộ, bài bản Phát biểu kết luận phiên họp, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ghi nhận và đánh giá cao những nỗ lực, kết quả đạt được của Hội đồng trong năm 2025, góp phần nâng cao hiệu quả công tác PBGDPL, trợ giúp pháp lý và hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Tuy nhiên, Phó Thủ tướng cũng chỉ rõ một số tồn tại, hạn chế như tiến độ thực hiện một số nhiệm vụ còn chậm, phối hợp liên ngành chưa chặt chẽ; truyền thông chính sách chưa thực sự hiệu quả, việc bố trí và sử dụng kinh phí còn vướng mắc. Nhấn mạnh nhiệm vụ năm 2026, Phó Thủ tướng

Chỉ trong chưa đầy 30 phút, ê-kíp Bệnh viện Từ Dũ và Nhi Đồng 1 (TP.HCM) đã can thiệp thông tim bào thai thành công, lập dấu mốc ca thực hiện nhanh nhất Việt Nam. Lúc 10h ngày 30/12, ê-kíp bác sĩ chuyên khoa Sản – Can thiệp bào thai – Tim mạch can thiệp của Bệnh viện Từ Dũ phối hợp cùng Bệnh viện Nhi đồng 1 đã thực hiện thành công ca can thiệp thông tim bào thai cho một thai nhi mắc tim bẩm sinh phức tạp. Với thời gian thực hiện dưới 30 phút, đây được xem là ca thông tim bào thai nhanh nhất từ trước đến nay tại Việt Nam, đánh dấu bước tiến nổi bật của y học bào thai trong nước. Thai nhi được chẩn đoán hẹp van động mạch phổi nặng kèm thiểu sản thất phải tiến triển, một dạng tim bẩm sinh phức tạp, có nguy cơ cao diễn tiến thành tim một thất sau sinh nếu không được can thiệp kịp thời. Thai phụ là chị N.T.T.T. (26 tuổi, ngụ TP.HCM), mang thai lần hai, thai kỳ tự nhiên. Chồng của thai phụ là người Malaysia, luôn đồng hành và phối hợp chặt chẽ cùng gia đình và đội ngũ y tế trong suốt quá trình theo dõi, hội chẩn và quyết định can thiệp. Theo hồ sơ theo dõi, ở tam cá nguyệt thứ nhất, các lần khám thai chưa ghi nhận bất thường. Xét nghiệm sàng lọc trước sinh NIPT cho kết quả nguy cơ thấp. Tuy nhiên, đến khoảng tuần thai 22-24, qua siêu âm tim thai chuyên sâu, các bác sĩ phát hiện bất thường tim bẩm sinh gồm hẹp van động mạch phổi nặng kèm hở van ba lá. Thai phụ sau đó được chuyển đến theo dõi và hội chẩn tại Bệnh viện Từ Dũ và Bệnh viện Nhi đồng 1. Kết quả chọc ối phân tích nhiễm sắc thể cho thấy thai nhi có bộ nhiễm sắc thể bình thường, tạo cơ sở quan trọng để các bác sĩ cân nhắc chỉ định can thiệp. Trong quá trình theo dõi tiếp theo, bệnh lý tim thai tiến triển nhanh, thất phải ngày càng thiểu sản cả về hình thái lẫn chức năng, làm gia tăng nguy cơ phải điều trị theo lộ trình tim một thất sau sinh. Sau nhiều buổi hội chẩn liên viện, các bác sĩ thống nhất chỉ định can thiệp thông tim bào thai, nhằm cải thiện dòng máu qua van động mạch phổi, tạo điều kiện cho thất phải tiếp tục phát triển trong tử cung. Mục tiêu là mở rộng cơ hội bảo tồn chiến lược tim hai thất hoặc 1,5 thất sau sinh, tránh cho trẻ phải đi theo lộ trình điều trị tim một thất phức tạp và kéo dài. Thực tế can thiệp gặp không ít thách thức. Tại thời điểm làm thủ thuật, thai nhi ở tư thế ngôi đầu, nghiêng trái, bánh nhau mặt trước, làm gia tăng mức độ khó. Đặc biệt, cánh tay thai nhi vắt ngang trước ngực, che khuất hoàn toàn đường vào buồng tim. Trước tình huống này, ê-kíp đã linh hoạt thực hiện một thủ thuật hỗ trợ nhỏ để di chuyển chi thai, nhanh chóng tạo điều kiện tiếp cận tim thai an toàn. Sau khi tối ưu tư thế, quá trình xuyên kim qua thành bụng mẹ – tử cung – lồng ngực thai nhi và bơm bóng nong van động mạch phổi được thực hiện thuận lợi. Ca can thiệp thành công ngay lần xuyên kim đầu tiên, giúp rút ngắn tối đa thời gian thủ thuật, hạn chế nguy cơ cho cả mẹ và thai nhi. Vợ chồng sản phụ hạnh phúc vì con ổn định sau phẫu thuật. Ảnh: Nguyễn Thuận. Trao đổi với báo chí sáng 31/12, bác sĩ chuyên khoa II Trần Ngọc Hải, Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ, cho biết ca can thiệp đã được chuẩn bị rất kỹ lưỡng với tổng cộng 5 ê-kíp, mỗi ê-kíp từ 3 đến 5 người, nâng tổng số nhân lực tham gia lên khoảng 20-25 người. “Trước đây, có những ca rất nặng phải làm kéo dài nhiều giờ, thậm chí phải can thiệp hai lần. Có trường hợp lần đầu mất 4 tiếng, lần thứ hai mất thêm 2 tiếng. Còn với ca này, chúng tôi thực hiện trong dưới 30 phút”, bác sĩ Hải chia sẻ. Theo lãnh đạo Bệnh viện Từ Dũ, Bộ Y tế xếp kỹ thuật thông tim bào thai vào danh mục phẫu thuật đặc biệt, đồng thời đánh giá đây là dấu mốc của một bước tiến rất lớn của y học Việt Nam. Bởi đây là kỹ thuật rất mới, rất hiếm và chỉ có rất ít trung tâm trên thế giới thực hiện được. Bác sĩ Hải thông tin mỗi ca can thiệp cần khoảng 50 thiết bị y tế, gần 25 nhân viên y tế, đồng thời phải chuẩn bị song song hai phòng can thiệp với đầy đủ hệ thống. Chi phí vì vậy cao hơn gần gấp đôi so với can thiệp tim mạch thông thường ở người lớn, nhưng vẫn nằm trong khung giá nhà nước quy định và được bảo hiểm y tế chi trả phần lớn. https://znews.vn/ca-thong-tim-xuyen-qua-bao-thai-nhanh-nhat-viet-nam-post1615623.html

Trước khi được thế giới công nhận, phương pháp mổ gan độc đáo này của giáo sư Tôn Thất Tùng đã từng bị từ chối, chỉ trích vì quá mới. Cú “sốc” đầu đời với sự công kích dữ dội GS.BS Tôn Thất Tùng (1912-1982) là một bác sĩ nổi tiếng ở Việt Nam và trên thế giới trong lĩnh vực gan và phẫu thuật gan. Ông là cha đẻ của “Phương pháp cắt gan khô” hay còn gọi là “Phương pháp Tôn Thất Tùng”. Tuy nhiên hành trình để cả thế giới ghi nhận “Phương pháp cắt gan khô” lại không hề đơn giản. Trong thời gian học tại trường Đại học Y Hà Nội, chàng sinh viên Tôn Thất Tùng nhanh chóng nhận ra kiến thức của các thầy giáo người Pháp chỉ chú trọng sách vở, rất ít liên hệ tới thực tế khí hậu, con người bản xứ. Vì vậy, ông quyết định học tập và nghiên cứu, tìm hướng đi riêng cho mình. Chiều mùa đông năm 1935 tại Viện mổ xác, chàng sinh viên 23 tuổi Tôn Thất Tùng đã phát hiện một hiện tượng rất “lạ” khi thấy hàng chục con giun đã chui vào các ống mật trong gan. Ông đã tỷ mỉ vẽ lại sơ đồ gan, các ống mật trong gan và đối chiếu để tìm ra những nét trùng hợp. Nhờ đường đi của những con giun ông đã phẫu tích và tìm được đường đi của những ống mật, mạch máu trong gan. Một việc mà trước đó trên thế giới chưa ai làm được. Đây là một phát hiện mới trong nghiên cứu gan. Giáo sư Tôn Thất Tùng đã vẽ các mạch máu trong gan. Với phát hiện đó, trong bốn năm tiếp theo (1935 -1939), giáo sư Tôn Thất Tùng đã phẫu tích hơn 200 lá gan người chết, từ đó hoàn thiện luận án tốt nghiệp bác sỹ y khoa với nhan đề “Cách phân chia mạch máu của gan”. “Tôi đã có một kỹ thuật phẫu tích đặc biệt bằng nạo gan: chỉ trong 15 phút, tôi có thể phơi trần tất cả các mạch máu trong gan và nhờ cách làm việc như vậy sau này tôi có thể cắt gan, không kể bộ phận nào của nó, chỉ trong chưa đầy 10 phút”, giáo sư Tôn Thất Tùng viết. Bản luận án và khám phá của chàng sinh viên Tôn Thất Tùng đã được tặng hai Huy chương Bạc của Liên hiệp Pháp và Đại học Y Paris. Năm 1939, sau khi trở thành bác sĩ nội trú tại Bệnh viện Phủ Doãn (nay là Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức) giáo sư Tôn Thất Tùng đã thực hiện thành công cắt gan có kế hoạch: bằng cách thắt các mạch máu trong gan trước khi cắt cho một bệnh nhân. Sau ca phẫu thuật, bệnh nhân hồi phục và trở lại được với cuộc sống. Giáo sư Tôn Thất Tùng đã gửi báo cáo về phương pháp cắt gan tới Viện Hàn lâm phẫu thuật Paris. Tuy nhiên, thành công của ông do quá mới mẻ nên đã bị từ chối và bị công kích dữ dội. Với tư duy nghiên cứu khoa học, giáo sư Tôn Thất Tùng không hề bỏ cuộc. Tuy nhiên, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp nổ ra nên công trình nghiên cứu về gan của ông bị ngắt quãng. Tiếp tục đối mặt với công kích rồi khiến cả thế giới phải kinh ngạc Khi kháng chiến chống thực dân Pháp giành thắng lợi, tháng 10/1954, giáo sư Tùng quay trở lại Hà Nội. Ông được cử làm giám đốc Bệnh viện Phủ Doãn và chủ nhiệm bộ môn ngoại Đại học Y Hà Nội. Thời điểm này ông đã quay lại với đam mê nghiên cứu về phương pháp mổ gan. Giáo sư Đặng Hanh Đệ học trò của giáo sư Tôn Thất Tùng chia sẻ: “Thầy Tùng chỉ mổ vào 3 buổi sáng thứ Hai, Tư, Sáu hàng tuần trong những năm 1960, những ngày còn lại thầy thường xuống phòng đại thể mổ xác – nơi làm các tiêu bản giải phẫu bệnh và lưu trữ những bệnh phẩm quý hiếm. Bác sĩ Bằng (chủ nhiệm khoa) đã chuẩn bị sẵn các gan được ngâm formol để phẫu tích. Thầy thích dùng nạo (curette) để nạo bỏ nhu mô gan từ cuống, các thành phần khác (mạch máu, đường mật) dai hơn nên còn trơ lại sau khi nạo. Cách làm này sẽ cho hình ảnh trong không gian ba chiều về quan hệ, vị trí của mạch máu (chủ yếu là tĩnh mạch cửa) và đường mật, vừa nạo vừa học thuộc… Cả trăm cái gan được phẫu tích như vậy nên thầy thuộc lòng sự phân chia của mạch máu trong gan, quan hệ của các mạch máu so với bề mặt gan”. Giáo sư Tùng mổ gan. Ngày 7/1/1961, giáo sư Tôn Thất Tùng cắt thuỳ gan phải của một bệnh nhân ung thư chỉ vẻn vẹn trong 10 phút. Nếu theo phương pháp cắt gan của giáo sư người Pháp Lortat-Jacob, được giới thiệu năm 1952, thì phải mất 5-6 tiếng. Sau khi được đăng tải trên tờ “The Lancet” ở London, công trình của Giáo sư Tôn Thất Tùng đã làm chấn động dư luận. Tuy nhiên, lần công bố này giáo sư Tôn Thất Tùng tiếp tục bị công kích và còn bị công kích mạnh mẽ hơn lần trước là năm 1939. Giáo sư Đặng Hanh Đệ chia sẻ: “Chính lúc đó thầy đã làm để cho số liệu thuyết phục. Để người chưa làm cũng phải tin cách này là cách tốt nhất”. Trong vòng 1 năm giáo sư Tôn Thất Tùng đã cắt gan thành công cho 50 trường hợp, vượt kỷ lục của Lortat-Jacob gấp 10 lần. Tuy nhiên, thời gian này phương pháp cắt gan của ông vẫn chưa được công nhận. Năm 1964, nhân dịp

Khi đang làm nhiệm vụ trên tàu viễn dương, anh D là thủy thủ tàu viễn dương đã gặp tai nạn nghiêm trọng, ngón trỏ tay phải đứt rời… Bão số 12 đổ bộ khiến con tàu chao đảo mạnh vào thời điểm anh D đang sửa chữa thiết bị. Cú va đập bất ngờ khiến anh bị đứt rời ngón trỏ tay phải. Rất may, các thuyền viên trên tàu đã nhanh chóng sơ cứu và bảo quản phần chi thể đứt rời được đặt vào bình giữ nhiệt, đưa anh lên bờ và tiếp cận cơ sở y tế gần nhất tại miền Trung. Lúc này bão gió to, việc đưa anh D vào bờ thực sự rất khó khăn và cần sự hỗ trợ rất lớn của cơ quan tìm kiếm cứu hộ cứu nạn quốc gia. Trong tình huống khẩn cấp, sau khi được nhân viên y tế hỗ trợ xử trí cấp cứu, anh D mong muốn được nối lại phần chi thể đứt rời, vì vậy anh và gia đình quyết định đón chuyến bay sớm nhất từ Đà Nẵng ra Hà Nội ngay rạng sáng hôm sau đến Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. Tổng thời gian thiếu máu lên tới 25 giờ. Kíp mổ thực hiện vi phẫu nối lại ngón tay cho người bệnh với kính hiển vi. Ảnh: BVCC Hai kíp phẫu thuật song song quyết tâm ‘cứu’ ngón tay đứt rời của thủy thủ Tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, các chuyên gia đã đánh giá phần chi thể đứt rời và ghi nhận: phần chi thể đứt rời đã được sơ cứu – bảo quản đúng cách, khớp ngón tay còn mềm, cấu trúc mô được bảo toàn tốt. Bệnh viện lập tức hội chẩn đa chuyên khoa gồm phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ, gây mê hồi sức, chấn thương chỉnh hình để đưa ra chiến lược xử trí tối ưu và quyết định thực hiện vi phẫu nối lại ngón tay cho người bệnh. Tại phòng mổ, kíp phẫu thuật cấp cứu được triển khai với sự phối hợp đa chuyên khoa: vi phẫu tạo hình, gây mê hồi sức, chấn thương chỉnh hình… Hai kíp phẫu thuật được triển khai song song, một kíp làm sạch và chuẩn bị phần ngón đứt rời, kíp còn lại chuẩn bị phần mỏm cụt. Xương ngón được định vị và cố định bằng kim chuyên dụng để tạo trục vững, hệ thống gân và dây chằng được phục hồi. Đặc biệt là thần kinh và các mạch máu nhỏ li ti chỉ khoảng 0,8 – 1mm được phục hồi với độ chính xác cao dưới kính hiển vi phẫu thuật với dụng cụ đặc biệt nhằm đảm bảo phục hồi lưu thông tưới máu cho phần đứt rời. Đây là kỹ thuật đòi hỏi sự tinh vi ở mức cao nhất, bởi chỉ cần một mối nối mạch máu không thông, dòng máu không thể nuôi được đầu ngón và phần chi sẽ hoại tử. Với trường hợp thiếu máu kỷ lục kéo dài 25 giờ, từ lượng máu tưới đến nhiệt độ của ngón tay, kiểm soát nguy cơ co thắt mạch và giám sát tuần hoàn ngoại vi sau mổ để đảm bảo ngón tay được hồi sinh trọn vẹn. Trường hợp nối chi thể có nhiều điều đặc biệt… TS.BS Vũ Trung Trực – Phó Trưởng khoa Phẫu thuật Hàm mặt, Tạo hình và Thẩm mỹ, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, người trực tiếp thực hiện ca phẫu thuật, chia sẻ, đây là trường hợp cực kỳ đặc biệt. Trong những ca nối chi thể, thời gian thiếu máu kéo dài thường là rào cản rất lớn. Trước phẫu thuật, người bệnh và phần cơ thể đứt rời cần được đánh giá bởi đội ngũ các bác sĩ đa chuyên khoa nhiều kinh nghiệm. “Trường hợp này, nhờ bảo quản phần chi thể đứt rời đúng cách ngay từ hiện trường, khớp ngón tay không bị cứng nhờ được bảo quản ở nhiệt độ phù hợp. Một yếu tố nữa, cấu trúc ngón tay (bao gồm: xương, da, dây thần kinh, mạch máu) có khả năng chịu thiếu máu tốt hơn so với phần chi thể có nhiều cơ nên phần ngón tay bị thiếu máu 25 giờ nhưng vẫn có thể được nối lại. Đồng thời, đội ngũ y bác sĩ giàu kinh nghiệm và sự phối hợp tốt giữa các chuyên khoa cũng là thế mạnh của bệnh viện. Đây chính là những điểm quyết định lớn đến thành công của ca phẫu thuật”- TS.BS Vũ Trung Trực nói. Sau phẫu thuật, vết thương đã liền, ngón tay hồng, sống hoàn toàn, người bệnh đã có thể cắt chỉ và rút kim cố định. Người bệnh đang được tập phục hồi chức năng để lấy lại khả năng vận động và cảm giác của ngón tay. Tai nạn đứt rời ngón tay, bàn tay hay các phần cơ thể có thể xảy ra bất cứ lúc nào, từ lao động sản xuất, tai nạn sinh hoạt cho đến tai nạn trên biển như trường hợp của bệnh nhân D. TS.BS Vũ Trung Trực – Phó Trưởng khoa Phẫu thuật Hàm mặt, Tạo hình và Thẩm mỹ thăm khám sau phẫu thuật cho người bệnh. Ảnh:BVCC Vì vậy, chuyên gia khuyến cáo người dân cần trang bị kiến thức sơ cứu đúng cách, bởi đây là yếu tố quyết định khả năng cứu sống chi thể: Không rửa, không ngâm chi thể đứt rời vào bất kỳ dung dịch nào. Trong trường hợp phần đứt rời trong môi trường bẩn nhiều dị vật, có thể rửa dưới vòi nước sạch, tốt hơn là nước uống tinh khiết hoặc nước đun sôi để nguội. Bọc phần chi thể bằng gạc/khăn sạch, cho vào túi nylon và buộc kín (tránh tiếp xúc trực tiếp với đá lạnh). Đặt túi đựng chi thể vào một

GS. Đặng Văn Ngữ là “cha đẻ” của thuốc kháng sinh Penicillin ở Việt Nam, đồng thời cũng là người có công lớn trong việc đẩy lùi bệnh sốt rét, giúp cứu sống hàng vạn bộ đội, thanh niên xung phong trong thời kỳ kháng chiến. Nhân kỷ niệm 70 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với con trai của Giáo sư – NSND Đặng Nhật Minh để nghe ông kể về cuộc đời của một nhà khoa học tận tụy, một người cha bình dị nhưng để lại một nhân cách lớn cho đời và cho con cháu noi theo. Dấu ấn của những công trình y học GS. Đặng Văn Ngữ sinh năm 1910 trong một gia đình nhà nho ở làng An Cựu (Thừa Thiên Huế). Thuở nhỏ, ông được gia đình cho theo học tiểu học ở Vinh, trung học Huế, sau đó học tiếp tại Hà Nội. Năm 20 tuổi, ông đỗ tú tài và nhận được học bổng theo học tại Trường Y khoa Đông Dương (tiền thân của Trường Đại học Y Dược Hà Nội). Năm 1937, sau 8 năm miệt mài đèn sách, ông bảo vệ thành công luận án áp-xe gan và tốt nghiệp Bác sĩ Y khoa. Với thành tích học tập xuất sắc, ông trở thành người Việt Nam đầu tiên được giữ lại trường làm trợ lý cho GS. Galliard – Chủ nhiệm Bộ môn Ký sinh trùng kiêm Hiệu trưởng Trường Y khoa Đông Dương lúc đó. Khi đang làm trợ giảng thì BS. Đặng Văn Ngữ được cử sang nghiên cứu tại Trường Đại học Y khoa Tokyo (Nhật Bản) trong khuôn khổ trao đổi nghiên cứu sinh giữa hai nước Pháp – Nhật như một đại diện xuất sắc của nền y học Pháp tại Đông Dương. Trong thời gian tu nghiệp ở Nhật, ông tìm ra giống nấm sản xuất Penicillin và công bố 4 công trình khoa học có giá trị. GS. Đặng Văn Ngữ (giữa) đang thuyết trình với Bác Hồ nhân dịp Bác thăm Trường Y – Dược và Khoa Ký sinh trùng. Cùng lúc đó ở miền Bắc, giai đoạn 1949-1950, phong trào kháng chiến chống Pháp phát triển mạnh mẽ, GS. Đặng Văn Ngữ lúc bấy giờ vẫn đang làm việc ở Nhật Bản đã xin về nước để tham gia kháng chiến theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tại Nhật, GS. Đặng Văn Ngữ là Chủ tịch Hội người Việt yêu nước, nhiều lần dẫn đầu đoàn biểu tình của Việt kiều tại Tokyo phản đối thực dân Pháp trở lại xâm chiếm Việt Nam. Vì thế, trước vận mệnh sống còn của Tổ quốc, một trí thức yêu nước như ông không thể đứng ngoài cuộc. Hành trang mang theo ngoài ít vật dụng cá nhân là một ống nấm Souche Penicillium (giống Penicillium) để rồi sau này làm nên cuộc “cách mạng” trong việc điều chế Penicillin kết tinh (bột) và “nước lọc” Penicillin. Vì sao lại gọi là “nước lọc” Penicillin? Mặc dù GS. Đặng Văn Ngữ đã điều chế thành công Penicillin kết tinh (bột) nhưng vấn đề nằm ở chỗ làm thế nào để có thể sản xuất được thật nhiều Penicillin đáp ứng nhu cầu kháng khuẩn của các thương bệnh binh ngoài mặt trận? Làm sao để bất kỳ một cơ sở y tế nào cũng có thể sản xuất được Penicillin, phổ biến nó một cách rộng rãi, thông dụng nhất? Bởi sản xuất Penicillin dạng bột là một công việc đòi hỏi thời gian lâu dài, do vậy, nó không thể thỏa mãn được nhu cầu cấp thiết của quân đội và nhân dân. “Cần một thứ thuốc dễ thực hiện để có thể nhanh chóng chữa lành các vết thương” là điều GS. Đặng Văn Ngữ luôn trăn trở. Và sau nhiều ngày nghiên cứu, GS. Đặng Văn Ngữ và các cộng sự của trường Y đều nhận ra rằng “nước lọc” Penicillin có tác dụng và hiệu lực hơn cả Penicillin kết tinh nếu dùng nó để chữa trị tại chỗ các vết thương nhiễm trùng. Cách thức sản xuất là: lấy nước thân cây ngô có chứa glucose được nấu lên rồi cấy nấm bằng giống của phòng thí nghiệm tạo ra “nước lọc” Penicillin đắp lên vết thương và nó có tác dụng chữa lành, chống nhiễm trùng rất hữu hiệu. GS.Đặng Văn Ngữ và gia đình. Về nước, ông nhận nhiệm vụ lên chiến khu Việt Bắc. Tại đây, ông được gặp Hồ Chủ tịch. Người đã động viên, khích lệ và có ảnh hưởng lớn đến tinh thần yêu nước, nhân cách sống của ông trong suốt cuộc đời nghiên cứu khoa học. Những năm 1950, trong điều kiện nghiên cứu hết sức thô sơ, khó khăn, thiếu thốn cả về nhân lực lẫn vật lực, một phòng labo dã chiến đã được ra đời tại Chiến khu Việt Bắc. Với quyết tâm lớn nhất là phải tìm và sản xuất được kháng sinh như ở các viện mà ông từng làm việc ở Nhật, ông đã sáng tạo bằng cách vận dụng những nguyên liệu dễ kiếm như thân cây ngô, sắn và cả lương khô để điều chế môi trường nuôi cấy nấm, giúp điều chế Penicillin dạng bột và “nước lọc” Penicillin. Trong đó, việc sáng chế ra “nước lọc” Penicillin là một sáng kiến mang tính đột phá với nhiều ưu điểm nổi trội, dùng để chữa trị tại chỗ các vết thương phẫu thuật nhiễm trùng rất hiệu quả. Ngoài ra, “nước lọc” Penicillin còn đáp ứng yêu cầu của cuộc kháng chiến, đó là với sự hướng dẫn của Giáo sư, bất kỳ một cơ sở y tế nào cũng có thể sản xuất được. Việc sản xuất được “nước lọc” Penicillin một cách rộng rãi có ý nghĩa vô cùng đặc biệt, góp phần đắc

Sở Y tế Hà Nội vừa ban hành thông báo về danh sách các cơ sơ bán lẻ trực bán thuốc trong trong dịp tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 trên địa bàn. Thông báo nêu rõ có tổng số 234 cơ sơ bán lẻ thuốc trực bán thuốc trong trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 trong đó có 40 nhà thuốc trong bệnh viện trực thuộc Sở Y tế và 194 nhà thuốc tư nhân trên toàn thành phố. Theo đại diện Sở Y tế Hà Nội, danh sách các nhà thuốc mở trong dịp Tết Bính Ngọ được thông báo cụ thể trên địa bàn xã, phường bao gồm: tên nhà thuốc, dược sĩ phụ trách chuyên môn, địa chỉ, điện thoại, thời gian hoạt động của các nhà thuốc trực bán thuốc. Tết Bính Ngọ, Hà Nội có 234 điểm bán thuốc phục vụ xuyên Tết. Danh sách 40 nhà thuốc trong bệnh viện trực thuộc Sở Y tế Trước đó, ngày 15/1, Sở Y tế Hà Nội đã có văn bản số 470/SYT-NVD về việc đảm bảo cung ứng thuốc trong dịp tết nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, chỉ đạo việc tổ chức trực bán thuốc tại các nhà thuốc bệnh viện trực thuộc Sở Y tế, các cơ sở bán lẻ thuốc của các doanh nghiệp có hệ thống bán lẻ thuốc. https://moh.gov.vn/hoat-dong-cua-dia-phuong/-/asset_publisher/gHbla8vOQDuS/content/ha-noi-cong-bo-234-iem-ban-thuoc-phuc-vu-xuyen-tet-binh-ngo?inheritRedirect=false&redirect=https%3A%2F%2Fmoh.gov.vn%3A443%2Fhoat-dong-cua-dia-phuong%3Fp_p_id%3D101_INSTANCE_gHbla8vOQDuS%26p_p_lifecycle%3D0%26p_p_state%3Dnormal%26p_p_mode%3Dview%26p_p_col_id%3Drow-3-column-3%26p_p_col_pos%3D1%26p_p_col_count%3D2

Các bác sĩ Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu (Bệnh viện Bạch Mai) vừa ghi nhận một trường hợp bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn muộn được điều trị bằng thuốc TKIs thế hệ I từ năm 2017 đến nay với thời gian ổn định bệnh kéo dài tới 6 năm. Hình ảnh cắt lớp vi tính theo dõi trong quá trình điều trị, tổn thương xơ hóa tại vị trí u cũ (mũi tên xanh) và giãn khu trú các nhánh phế quản liền kề (mũi tên vàng). Hiệu quả của thuốc điều trị đích với ung thư phổi Bệnh nhân nữ, 72 tuổi, nhập viện tháng 6/2017 do đau ngực trái âm ỉ kéo dài, sụt cân khoảng 8kg trong vòng 6 tháng. Đáng chú ý, bệnh nhân không ho, không khó thở trong suốt thời gian này. Thời điểm nhập viện, bệnh nhân tỉnh táo, không sốt, huyết động ổn định. Thăm khám tim phổi chưa ghi nhận dấu hiệu bất thường rõ ràng. Các xét nghiệm công thức máu, sinh hóa máu trong giới hạn bình thường, chỉ điểm khối u CEA và Cyfra 21-1 không tăng. Điện tâm đồ và siêu âm tim không phát hiện dấu hiệu thiếu máu cơ tim. Kết quả chụp cắt lớp vi tính (CT) lồng ngực cho thấy khối u thùy trên phổi trái kích thước 20x15mm, bờ tua gai, xâm lấn rãnh liên thùy, kèm theo nhiều nốt mờ rải rác hai phổi, kích thước 5-10mm, phù hợp với tổn thương thứ phát, cùng hạch rốn phổi trái kích thước 10mm. Sinh thiết xuyên thành ngực tổn thương phổi trái cho kết quả mô bệnh học là ung thư biểu mô tuyến. Xét nghiệm đột biến gene phát hiện đột biến EGFR dạng xóa đoạn exon 19. Các thăm dò bổ sung bằng PET/CT và cộng hưởng từ não không phát hiện thêm tổn thương di căn ngoài phổi. Bệnh nhân được chẩn đoán ung thư phổi trái không tế bào nhỏ dạng biểu mô tuyến, giai đoạn T4N1M1 (di căn phổi), có đột biến EGFR. Sau hội chẩn chuyên môn, bệnh nhân được chỉ định điều trị bằng thuốc erlotinib liều 150mg/ngày đường uống. Sau 6 tháng điều trị, triệu chứng đau ngực giảm rõ rệt, bệnh nhân dung nạp thuốc tốt. Tác dụng phụ chủ yếu là ban da dạng chấm và mụn ở vùng đầu, vùng sinh dục – những biểu hiện thường gặp của thuốc và được đánh giá là dấu hiệu dự báo đáp ứng điều trị tốt. Kết quả chụp CT kiểm tra cho thấy khối u đáp ứng điều trị, chuyển thành tổn thương xơ hóa, giảm ngấm thuốc sau tiêm. Bệnh nhân tiếp tục được theo dõi và điều trị duy trì bằng erlotinib. Đến thời điểm đánh giá lại vào tháng 5/2023, sau 6 năm điều trị liên tục, bệnh nhân vẫn trong tình trạng ổn định: Không đau ngực, không khó thở, các chỉ điểm khối u CEA và Cyfra 21-1 duy trì trong giới hạn bình thường. Kết quả chụp CT ngực-bụng và cộng hưởng từ sọ não không ghi nhận thêm tổn thương mới. Tại vị trí u cũ, tổn thương xơ hóa gây co kéo rãnh liên thùy và giãn khu trú các nhánh phế quản lân cận, song không ảnh hưởng đến chức năng hô hấp và không gây triệu chứng lâm sàng. Theo các bác sĩ, đây là trường hợp đáp ứng kéo dài hiếm gặp với thuốc điều trị đích thế hệ I, cho thấy vai trò bền vững của nhóm thuốc này trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ có đột biến EGFR, ngay cả ở giai đoạn muộn. Các liệu pháp miễn dịch đang phát huy tác dụng trong điều trị các bệnh ung thư Tại Việt Nam, ung thư phổi phổ biến sau ung thư vú và ung thư gan, hàng năm phát hiện khoảng gần 25 nghìn ca mắc mới ung thư phổi, trong đó có khoảng hơn 22 ngàn ca tử vong mỗi năm. Ung thư phổi thường gặp ở người lớn tuổi từ 55 tuổi trở lên, độ tuổi trung bình mắc bệnh là 70 tuổi, tỷ lệ mắc bệnh và tử vong ở nam giới nhiều hơn nữ giới. Ung thư phổi đang để lại gánh nặng bệnh tật cho người bệnh và ngành y vì đại đa số các trường hợp ung thư phổi được phát hiện đã ở giai đoạn muộn. Nếu bệnh nhân được phát hiện sớm thì tỷ lệ sống thêm từ 5 năm trở lên lên tới hơn 90%. Tuy nhiên việc sàng lọc, phát hiện, chẩn đoán và điều trị còn không ít thách thức. Những năm gần đây, điều trị ung thư phổi giai đoạn muộn đã có nhiều bước tiến quan trọng với sự ra đời của các liệu pháp miễn dịch và điều trị đích nhắm vào các đột biến gene như EGFR, ALK, ROS1… Liệu pháp miễn dịch là phương pháp mới, ít tác dụng phụ, hiệu quả cao, kéo dài thời gian sống và nâng cao chất lượng sống cho người bệnh ung thư phổi không tế bào nhỏ, ung thư dạ dày…Liệu pháp miễn dịch giúp tăng cường hệ thống miễn dịch, giúp hệ thống miễn dịch truy vết, tiêu diệt các tế bào ung thư. Các thuốc điều trị đích ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong ung thư phổi ở cả giai đoạn sớm và giai đoạn muộn, góp phần kéo dài thời gian sống cũng như cải thiện đáng kể chất lượng cuộc sống cho người bệnh. Các thuốc ức chế tyrosine kinase (TKIs) thế hệ I, dù đã được đưa vào sử dụng từ năm 2005, đến nay vẫn giữ vai trò nhất định trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ. https://moh.gov.vn/hoat-dong-cua-dia-phuong/-/asset_publisher/gHbla8vOQDuS/content/thuoc-ieu-tri-ich-giup-benh-nhan-ung-thu-phoi-giai-oan-muon-on-inh-benh-suot-6-nam?inheritRedirect=false&redirect=https%3A%2F%2Fmoh.gov.vn%3A443%2Fhoat-dong-cua-dia-phuong%3Fp_p_id%3D101_INSTANCE_gHbla8vOQDuS%26p_p_lifecycle%3D0%26p_p_state%3Dnormal%26p_p_mode%3Dview%26p_p_col_id%3Drow-3-column-3%26p_p_col_pos%3D1%26p_p_col_count%3D2

Bác sĩ Trương Hữu Khanh, chuyên gia về bệnh truyền nhiễm, đánh giá virus Nipah lây qua tiếp xúc dịch tiết động vật hoặc người bệnh, không lây lan mạnh qua đường hô hấp nên khó bùng phát diện rộng. Bác sĩ Khanh, Phó Chủ tịch Hội Truyền nhiễm TP HCM, nguyên trưởng khoa Nhiễm – Thần kinh Bệnh viện Nhi đồng 1, đưa ra nhận định trên ngày 27/1, trước bối cảnh dư luận hoang mang về ổ dịch Nipah mới tại bang Tây Bengal (Ấn Độ). Tính từ cuối năm 2025 đến ngày 26/1, khu vực này phát hiện 5 trường hợp nghi ngờ, trong đó hai nhân viên y tế có kết quả dương tính. Dù giới chức y tế sở tại xác định đây là ổ dịch nhỏ, chưa lây lan rộng, thông tin vẫn gây xao động tâm lý người dân nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Trước lo ngại này, bác sĩ Khanh cho rằng việc đánh đồng mức độ nguy hiểm giữa Nipah và Covid-19 là khập khiễng. SARS-CoV-2 gây Covid-19 là chủng virus mới, lây lan cực nhanh qua giọt bắn hô hấp và liên tục đột biến. Trong khi đó, Nipah là dòng virus “cổ điển”, cơ chế xâm nhập hoàn toàn khác biệt. “Khả năng mầm bệnh Nipah lây trực tiếp từ người sang người qua không khí để tạo thành đại dịch gần như bằng không”, bác sĩ Khanh nói. Lý giải về chùm ca bệnh tại Ấn Độ, chuyên gia cho rằng nguồn lây xuất phát từ hoàn cảnh tiếp xúc đặc biệt. Kết quả điều tra dịch tễ sơ bộ trùng khớp với nhận định này khi nữ điều dưỡng nhiễm bệnh đầu tiên tại Bệnh viện Narayana Multispeciality từng uống mật chà là tươi nghi nhiễm dịch tiết của dơi. Người này sau đó lây cho đồng nghiệp qua tiếp xúc gần trong quá trình chăm sóc mà thiếu biện pháp bảo hộ chuẩn. Theo bác sĩ Khanh, vật chủ chính của virus là loài dơi ăn quả. Mầm bệnh tồn tại trong nước bọt, nước tiểu của loài này. Con người nhiễm bệnh chủ yếu do chạm trực tiếp vào dịch tiết hoặc ăn trái cây dơi cắn dở. Nếu không có tiếp xúc rất gần hoặc tiêu thụ thực phẩm nhiễm khuẩn, nguy cơ virus vượt biên giới bùng phát tại Việt Nam rất thấp. Các đợt dịch Nipah trong lịch sử đều khu trú ở phạm vi hẹp và tự chấm dứt khi cơ quan chức năng kiểm soát tốt nguồn lây động vật. Đồng quan điểm, PGS.TS Lê Quốc Hùng, Trưởng Khoa Bệnh Nhiệt đới, Bệnh viện Chợ Rẫy, đánh giá tính chất lây nhiễm của Nipah rất hạn chế, khác hoàn toàn các bệnh lý đường hô hấp cấp tính. Tuy nhiên, ông lưu ý Nipah vẫn là bệnh nguy hiểm đối với cá nhân mắc phải do tấn công trực tiếp vào não. Bệnh cảnh chính là viêm não với các triệu chứng sốt cao, đau đầu, co giật, diễn tiến nhanh tới hôn mê. Tỷ lệ tử vong của bệnh rất cao, có thể trên 50% do thế giới chưa tìm ra thuốc đặc trị hay vaccine phòng ngừa. Các biện pháp y tế hiện tại chỉ dừng lại ở điều trị triệu chứng và hồi sức tích cực. Sáng 27/1, trước diễn biến dịch tại nước bạn, Bộ Y tế yêu cầu các đơn vị kiểm dịch biên giới và y tế dự phòng tăng cường giám sát tại cửa khẩu và cộng đồng. Đến nay, Việt Nam chưa ghi nhận ca mắc Nipah nào. Thế giới phát hiện virus này lần đầu năm 1999 tại Malaysia và Singapore, khiến hơn 100 người tử vong, buộc tiêu hủy hàng triệu con lợn. Kể từ đó, dịch xuất hiện định kỳ tại Nam Á, chủ yếu ở Bangladesh và Ấn Độ. Để phòng bệnh, các chuyên gia khuyến cáo người dân thực hiện “ăn chín, uống sôi”. Đặc biệt, tuyệt đối không ăn các loại trái cây có dấu hiệu bị cắn dở, vết răng động vật hoặc trái cây rụng không rõ nguyên nhân. Khi du lịch đến các vùng có dịch, cần hạn chế tiếp xúc với động vật hoang dã, đặc biệt là dơi. https://vnexpress.net/bac-si-truong-huu-khanh-virus-nipah-kho-gay-dai-dich-nhu-covid-19-5010670.html

Viêm phổi là bệnh thường gặp và là một trong những nguyên nhân chính gây tử vong ở trẻ em. Trẻ càng nhỏ tỷ lệ tử vong do viêm phổi càng cao. Mùa đông, các bệnh cảm lạnh cũng gia tăng làm cho virus, vi khuẩn nhân cơ hội xâm nhập mũi họng và xuống phổi gây viêm phổi. Trẻ mắc viêm phổi có biểu hiện gì? Khi mắc viêm phổi, trẻ sẽ có các biểu hiện: Giai đoạn sớm: có thể chỉ có sốt nhẹ, ho húng hắng, chảy nước mắt và nước mũi, khò khè, ăn kém, bỏ bú, quấy khóc… Giai đoạn sau: trẻ không được điều trị đúng và theo dõi sát có thể diễn biến nặng hơn với biểu hiện sốt cao, ho tăng lên, có đờm, khó thở, thở nhanh, rút lõm lồng ngực, bỏ bú hoặc bú kém, tím môi, tím đầu chi … Trẻ mắc viêm phổi nặng có triệu chứng: trẻ ho hoặc khó thở và có ít nhất một trong các triệu chứng chính là: co rút lồng ngực, phập phồng cánh mũi; thở rên (ở trẻ dưới 2 tháng)… Trẻ mắc viêm phổi rất nặng sẽ có các biểu hiện: trẻ có ho hoặc khó thở cộng với ít nhất một trong các triệu chứng chính là: tím tái, co giật, lơ mơ hoặc hôn mê; không uống được hoặc bỏ bú hoặc nôn ra tất cả mọi thứ; suy hô hấp nặng với biểu hiện đầu gật gù theo nhịp thở và co kéo cơ hô hấp phụ. Ngoài ra, có thể có thêm một số triệu chứng khác gồm: thở nhanh, phập phồng cánh mũi, thở rên, co rút lồng ngực. Lưu ý: Để xác định trẻ có thở nhanh hay không bằng cách đếm nhịp thở của trẻ trong đủ 1 phút. Trẻ được coi là thở nhanh nếu: Trẻ < 2 tháng tuổi, nhịp thở > 60 lần/phút. Trẻ 2 – 11 tháng tuổi, nhịp thở > 50 lần/phút. Trẻ 12 – 60 tháng tuổi, nhịp thở > 40 lần/phút. Cha mẹ không tự ý cho con uống kháng sinh Khi trẻ mắc viêm phổi, cha mẹ cần cho trẻ đi khám và điều trị theo chỉ dẫn của bác sĩ. Cha mẹ tuyệt đối không tự ý mua thuốc kháng sinh, thuốc giảm ho điều trị cho con tại nhà. Thuốc kháng sinh sẽ không có tác dụng trong trường hợp trẻ bị viêm phổi do virus. Ho là phản xạ tốt để tống xuất chất đờm ra khỏi đường thở, làm thông thoáng đường thở nên không cho trẻ uống thuốc giảm ho khi chưa có chỉ định của bác sĩ. Cách phòng bệnh viêm phổi cho trẻ trong mùa lạnh Mùa đông các bệnh cảm lạnh cũng gia tăng làm cho virus, vi khuẩn nhân cơ hội xâm nhập mũi họng và xuống phổi gây viêm phổi. Muốn phòng bệnh viêm phổi cho trẻ em cần thực hiện các biện pháp như sau: Giữ ấm đường thở: Khi thời tiết trở lạnh, cha mẹ cần lưu ý giữ ấm cho trẻ bằng cách cho trẻ ăn mặc đủ ấm phù hợp với mức độ lạnh bên ngoài: mặc thêm áo ấm, nón len, mang thêm bao tay, tất, khăn, đeo khẩu trang khi ra đường, đội mũi kín tai, sử dụng nước ấm,… Bổ sung đủ dinh dưỡng cho trẻ: Trẻ em cần được ăn uống đầy đủ các chất dinh dưỡng để tăng cường miễn dịch, nhất là những trẻ còn trong độ tuổi bú mẹ. Với các trẻ biếng ăn, cha mẹ nhất thiết nên bổ sung từ các nguồn thực phẩm bổ sung, các công thức thuốc bổ tổng hợp và các chế phẩm thảo dược chuẩn hóa có tác dụng chống biếng ăn cho trẻ. Cho trẻ uống đủ nước, trẻ nhỏ cho bú nhiều lần trong ngày. Không hút thuốc, đun nấu trong phòng có trẻ nhỏ. Cách ly trẻ với người bị bệnh để tránh lây lan thành dịch. Nơi ở đủ ánh sáng, lưu thông không khí tốt. Thường xuyên lau nền nhà, tay nắm cửa và bề mặt các đồ vật trong nhà bằng các chất tẩy rửa thông thường, như xà phòng và các dung dịch khử khuẩn. Đưa trẻ đi tiêm phòng đầy đủ, đúng lịch các vắc-xin như bạch hầu – ho gà – uốn ván, Hemophilus influenzae typ B (Hib), phế cầu, cúm… Phát hiện sớm các biểu hiện sớm của bệnh viêm đường hô hấp nói chung như: ho, sốt, chảy nước mũi, khó thở… và các rối loạn khác như tiêu chảy, ăn kém, chậm tăng cân… để chăm sóc và điều trị kịp thời. Hàng ngày vệ sinh răng miệng cho trẻ sạch sẽ ngày 2 lần sáng khi ngủ dậy và buổi tối trước khi đi ngủ, sau mỗi bữa ăn cho uống nước súc miệng, tránh để khuẩn đọng lại bằng cách chải răng, lau răng miệng cho trẻ nhỏ.

DỊCH VỤ BẢO TRÌ BẢO DƯỠNG, SỬA CHỮA HỆ THỐNG MÁY THẬN NHÂN TẠO, HỆ THỐNG XỬ LÝ NƯỚC RO VÀ HỆ THỐNG CHỤP CT SCANNER ≥ 32 LÁT CẮT/ VÒNG QUAY Chi tiết: xem tại đây!

THƯ MỜI CUNG CẤP BÁO GIÁ DỊCH VỤ CHO THUÊ PHẦN MỀM CHỮ KÝ SỐ PHỤC VỤ BỆNH ÁN ĐIỆNTỬ Chi tiết: xem tại đây!

CUNG CẤP PIPET (BAO GỒM THIẾT BỊ ĐÃ ĐƯỢC KIỂM ĐỊNH) Chi tiết: xem tại đây!

YÊU CẦU CUNG CẤP CẤU HÌNH, THÔNG SỐ KỸ THUẬT VÀ BÁO GIÁ HỆ THỐNG MÁY CHỤP CỘNG HƯỞNG TỪ ≥ 1,5 TESLA Chi tiết: xem tại đây!
Để đặt lịch khám vui lòng liên hệ hotline:
Thời gian làm việc:
T2-CN: 7h30 – 11h30 & 13h00 – 17h00
Tổ 18 - Xã Thư Lâm - Thành phố Hà Nội
(84) 889 615 815
Fax: (84-24).3883.2727
Email: bvbtl@hanoi.gov.vn
Coppyright ©2023. All Right Reserved.