BỆNH VIỆN BẮC THĂNG LONG
BAC THANG LONG HOSPITAL

(84) 889 615 815

Email: thugopy.bvbtl@gmail.com

Hoạt Động Nghiên Cứu

Tư Vấn Sức Khoẻ

Cách phòng viêm phổi cho trẻ khi trời lạnh

Viêm phổi là bệnh thường gặp và là một trong những nguyên nhân chính gây tử vong ở trẻ em. Trẻ càng nhỏ tỷ lệ tử vong do viêm phổi càng cao. Mùa đông, các bệnh cảm lạnh cũng gia tăng làm cho virus, vi khuẩn nhân cơ hội xâm nhập mũi họng và xuống phổi gây viêm phổi. Trẻ mắc viêm phổi có biểu hiện gì? Khi mắc viêm phổi, trẻ sẽ có các biểu hiện: Giai đoạn sớm: có thể chỉ có sốt nhẹ, ho húng hắng, chảy nước mắt và nước mũi, khò khè, ăn kém, bỏ bú, quấy khóc… Giai đoạn sau: trẻ không được điều trị đúng và theo dõi sát có thể diễn biến nặng hơn với biểu hiện sốt cao, ho tăng lên, có đờm, khó thở, thở nhanh, rút lõm lồng ngực, bỏ bú hoặc bú kém, tím môi, tím đầu chi … Trẻ mắc viêm phổi nặng có triệu chứng: trẻ ho hoặc khó thở và có ít nhất một trong các triệu chứng chính là: co rút lồng ngực, phập phồng cánh mũi; thở rên (ở trẻ dưới 2 tháng)… Trẻ mắc viêm phổi rất nặng sẽ có các biểu hiện: trẻ có ho hoặc khó thở cộng với ít nhất một trong các triệu chứng chính là: tím tái, co giật, lơ mơ hoặc hôn mê; không uống được hoặc bỏ bú hoặc nôn ra tất cả mọi thứ; suy hô hấp nặng với biểu hiện đầu gật gù theo nhịp thở và co kéo cơ hô hấp phụ. Ngoài ra, có thể có thêm một số triệu chứng khác gồm: thở nhanh, phập phồng cánh mũi, thở rên, co rút lồng ngực. Lưu ý: Để xác định trẻ có thở nhanh hay không bằng cách đếm nhịp thở của trẻ trong đủ 1 phút. Trẻ được coi là thở nhanh nếu: Trẻ < 2 tháng tuổi, nhịp thở > 60 lần/phút. Trẻ 2 – 11 tháng tuổi, nhịp thở > 50 lần/phút. Trẻ 12 – 60 tháng tuổi, nhịp thở > 40 lần/phút. Cha mẹ không tự ý cho con uống kháng sinh Khi trẻ mắc viêm phổi, cha mẹ cần cho trẻ đi khám và điều trị theo chỉ dẫn của bác sĩ. Cha mẹ tuyệt đối không tự ý mua thuốc kháng sinh, thuốc giảm ho điều trị cho con tại nhà. Thuốc kháng sinh sẽ không có tác dụng trong trường hợp trẻ bị viêm phổi do virus. Ho là phản xạ tốt để tống xuất chất đờm ra khỏi đường thở, làm thông thoáng đường thở nên không cho trẻ uống thuốc giảm ho khi chưa có chỉ định của bác sĩ. Cách phòng bệnh viêm phổi cho trẻ trong mùa lạnh Mùa đông các bệnh cảm lạnh cũng gia tăng làm cho virus, vi khuẩn nhân cơ hội xâm nhập mũi họng và xuống phổi gây viêm phổi. Muốn phòng bệnh viêm phổi cho trẻ em cần thực hiện các biện pháp như sau: Giữ ấm đường thở: Khi thời tiết trở lạnh, cha mẹ cần lưu ý giữ ấm cho trẻ bằng cách cho trẻ ăn mặc đủ ấm phù hợp với mức độ lạnh bên ngoài: mặc thêm áo ấm, nón len, mang thêm bao tay, tất, khăn, đeo khẩu trang khi ra đường, đội mũi kín tai, sử dụng nước ấm,… Bổ sung đủ dinh dưỡng cho trẻ: Trẻ em cần được ăn uống đầy đủ các chất dinh dưỡng để tăng cường miễn dịch, nhất là những trẻ còn trong độ tuổi bú mẹ. Với các trẻ biếng ăn, cha mẹ nhất thiết nên bổ sung từ các nguồn thực phẩm bổ sung, các công thức thuốc bổ tổng hợp và các chế phẩm thảo dược chuẩn hóa có tác dụng chống biếng ăn cho trẻ. Cho trẻ uống đủ nước, trẻ nhỏ cho bú nhiều lần trong ngày. Không hút thuốc, đun nấu trong phòng có trẻ nhỏ. Cách ly trẻ với người bị bệnh để tránh lây lan thành dịch. Nơi ở đủ ánh sáng, lưu thông không khí tốt. Thường xuyên lau nền nhà, tay nắm cửa và bề mặt các đồ vật trong nhà bằng các chất tẩy rửa thông thường, như xà phòng và các dung dịch khử khuẩn. Đưa trẻ đi tiêm phòng đầy đủ, đúng lịch các vắc-xin như bạch hầu – ho gà – uốn ván, Hemophilus influenzae typ B (Hib), phế cầu, cúm… Phát hiện sớm các biểu hiện sớm của bệnh viêm đường hô hấp nói chung như: ho, sốt, chảy nước mũi, khó thở… và các rối loạn khác như tiêu chảy, ăn kém, chậm tăng cân… để chăm sóc và điều trị kịp thời. Hàng ngày vệ sinh răng miệng cho trẻ sạch sẽ ngày 2 lần sáng khi ngủ dậy và buổi tối trước khi đi ngủ, sau mỗi bữa ăn cho uống nước súc miệng, tránh để khuẩn đọng lại bằng cách chải răng, lau răng miệng cho trẻ nhỏ.

Khuyến cáo phòng chống dịch bệnh viêm não mô cầu

Trong tuần qua, Hà Nội ghi nhận 1 ca mắc não mô cầu tại xã Thường Tín, trường hợp mắc là bệnh nhân nam, 24 tuổi, chưa tiêm vắc xin phòng não mô cầu. Cộng dồn năm 2025 đến nay ghi nhận 3 ca mắc, 0 ca tử vong, số mắc tăng so với cùng kỳ năm 2024 (2/0). Đây là căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, có khả năng lây lan nhanh, dễ gây biến chứng nặng nề như viêm màng não, nhiễm trùng huyết, thậm chí tử vong nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời. Người dân cần chủ động đưa trẻ em và người trong gia đình đi tiêm vắc xin phòng bệnh não mô cầu. Bệnh não mô cầu do vi khuẩn Neisseria meningitidis gây ra, có hơn 12 nhóm huyết thanh, trong đó các nhóm A, B, C, W, Y thường gây bệnh ở người. Bệnh có thể xuất hiện rải rác quanh năm, nhưng thường bùng phát thành ổ dịch nhỏ vào mùa đông – xuân khi thời tiết lạnh và ẩm. Trẻ em và thanh thiếu niên là nhóm dễ mắc nhất do hệ miễn dịch còn yếu hoặc sinh hoạt tập trung trong trường học, ký túc xá. Tỷ lệ tử vong cao (có thể lên đến 50% nếu không được điều trị kịp thời) và nhiều trường hợp để lại di chứng nặng nề như điếc, tổn thương não, hoại tử chi. Ở Việt Nam, bệnh xuất hiện rải rác tại nhiều tỉnh, thành phố, trong đó có thành phố Hà Nội, các ca bệnh thường ghi nhận lẻ tẻ và luôn tiềm ẩn nguy cơ bùng phát. Bệnh lây chủ yếu qua dịch tiết đường hô hấp (nước bọt, dịch mũi họng) khi tiếp xúc gần với người mắc hoặc người lành mang vi khuẩn. Bệnh có diễn biến rất nhanh, có thể gây tử vong chỉ trong vòng 24-48 giờ. Đối tượng nguy cơ cao như trẻ nhỏ, học sinh – sinh viên sống tập trung trong ký túc xá, nhà trẻ, trường học; người có sức đề kháng kém. Những dấu hiệu nhận biết sớm như sốt cao đột ngột, đau đầu dữ dội, buồn nôn hoặc nôn, cứng gáy, nổi ban xuất huyết trên da. Khi có các triệu chứng nghi ngờ, cần đưa người bệnh đến cơ sở y tế ngay để được chẩn đoán và điều trị kịp thời. Để chủ động phòng chống dịch bệnh, CDC Hà Nội khuyến cáo người dân các biện pháp phòng bệnh bao gồm: Giữ vệ sinh cá nhân, rửa tay thường xuyên bằng xà phòng; đeo khẩu trang khi đến nơi đông người, che miệng khi ho, hắt hơi; giữ gìn nhà cửa, phòng học thông thoáng, sạch sẽ; tránh dùng chung đồ dùng cá nhân như cốc, khăn mặt, bàn chải đánh răng; hạn chế tiếp xúc gần với người đang có triệu chứng viêm đường hô hấp. Đồng thời, chủ động đưa trẻ em và người trong gia đình đi tiêm vắc xin phòng bệnh não mô cầu tại các điểm tiêm chủng dịch vụ. Về việc xử trí khi có ca bệnh, nếu trong gia đình, lớp học hoặc khu tập thể phát hiện người mắc bệnh, cần nhanh chóng đưa đi điều trị, đồng thời thông báo cho y tế địa phương để được hướng dẫn giám sát, phòng dịch kịp thời. Bệnh não mô cầu có thể tiến triển rất nhanh, chỉ trong vài giờ đến vài ngày, do đó tuyệt đối không chủ quan. Người dân cần nâng cao cảnh giác, theo dõi sát sức khỏe của trẻ em và người thân. https://soyte.hanoi.gov.vn/y-te-du-phong-65152/khuyen-cao-phong-chong-dich-benh-viem-nao-mo-cau-2849251104095236286.htm

Phù chân do thuốc huyết áp, tiểu đường: Hiểu đúng để không hoang mang và sử dụng thuốc an toàn

Phù, sưng bàn chân hoặc mắt cá chân là tình trạng mà nhiều người gặp phải khi dùng thuốc điều trị huyết áp hoặc tiểu đường. Hiện tượng này thường không nguy hiểm, nhưng nếu không hiểu rõ nguyên nhân, người bệnh có thể lo lắng, ngừng thuốc sai cách và khiến bệnh lý trở nên nghiêm trọng hơn. 1. Phù, sưng chân rất thường gặp khi dùng thuốc Sưng, phù bàn chân hoặc mắt cá chân (phù ngoại biên) là một trong những tác dụng phụ khá phổ biến ở người đang điều trị bệnh huyết áp hoặc tiểu đường. Dù hiếm khi đe dọa tính mạng, tình trạng này có thể khiến người bệnh khó chịu, nặng chân, khó mang giày dép và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Hai loại thuốc thường gặp nhất gây ra hiện tượng này là amlodipine (trị tăng huyết áp) và pioglitazone (trị đái tháo đường): – Amlodipine là thuốc hạ huyết áp thuộc nhóm chẹn kênh canxi, giúp giãn mạch máu để cải thiện lưu thông và giảm huyết áp. Tuy nhiên, việc giãn các động mạch nhỏ đồng thời khiến dịch trong lòng mạch dễ rò rỉ ra mô kẽ, dẫn đến sưng nhẹ ở chi dưới. – Trong khi đó, pioglitazone là thuốc giúp kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân tiểu đường type 2 bằng cách tăng nhạy cảm với insulin, lại có xu hướng giữ nước và natri trong cơ thể. Điều này khiến một lượng dịch dư thừa tích tụ tại các mô mềm, biểu hiện rõ nhất ở vùng bàn chân và mắt cá chân. Cả hai loại thuốc đều có thể gây sưng phù nhẹ, đặc biệt ở người lớn tuổi hoặc người dùng liều cao. Một loại thuốc khác cũng có thể gây sưng tương tự là pregabalin, thường được kê để điều trị đau dây thần kinh do tiểu đường hoặc các nguyên nhân khác. Pregabalin làm tăng tính thấm mao mạch và gây ứ đọng tĩnh mạch, từ đó dẫn đến phù nề rõ hơn, nhất là khi sử dụng lâu dài. Phù, sưng chân là hiện tường thường gặp khi dùng một số thuốc trị tiểu đường, huyết áp. 2. Vì sao thuốc lại khiến chân bị sưng phù? Hiện tượng phù chân do thuốc được gọi là phù ngoại biên do thuốc. Cơ chế hình thành liên quan đến sự thay đổi cân bằng dịch giữa lòng mạch và mô kẽ. Khi mạch máu giãn rộng (như trong trường hợp dùng amlodipine), áp lực trong mao mạch giảm, khiến dịch dễ rò ra ngoài. Với các thuốc như pioglitazone, nguyên nhân lại là do giữ nước và natri trong cơ thể, làm tăng thể tích dịch tuần hoàn và dẫn đến ứ đọng ở chi dưới. Ở những người có bệnh nền tim mạch, suy thận hoặc suy tĩnh mạch, hiện tượng này càng dễ xảy ra. Người cao tuổi, ít vận động hoặc phải đứng, ngồi lâu trong ngày cũng có nguy cơ cao hơn. Đáng chú ý, tác dụng phụ này thường nhẹ và có thể kiểm soát được, không nên hiểu lầm là dấu hiệu bệnh lý nghiêm trọng. 3. Khi nào cần báo cho bác sĩ? Nếu nhận thấy chân sưng, nặng, có vết lõm khi ấn, giày dép chật hơn hoặc cảm giác căng tức vùng cổ chân, hãy thông báo với bác sĩ điều trị, đặc biệt nếu tình trạng xuất hiện sau khi bắt đầu dùng thuốc mới. Việc bác sĩ xác định đúng nguyên nhân rất quan trọng, vì sưng chân còn có thể liên quan đến các bệnh lý khác như suy tim, bệnh thận hoặc rối loạn tĩnh mạch. Bệnh nhân không nên tự ý ngừng thuốc hoặc điều chỉnh liều khi thấy sưng. Việc ngừng thuốc đột ngột có thể khiến huyết áp tăng vọt hoặc đường huyết tăng cao, gây biến chứng tim mạch nghiêm trọng. Trong một số trường hợp, bác sĩ có thể: Giảm liều thuốc hoặc chuyển sang thuốc cùng nhóm ít gây phù hơn. Kê thêm thuốc lợi tiểu nhẹ để hỗ trợ đào thải dịch dư. Khuyến nghị thay đổi thời điểm dùng thuốc, chẳng hạn dùng buổi sáng thay vì buổi tối. Việc theo dõi định kỳ giúp kiểm soát tốt cả bệnh lý và tác dụng phụ, đồng thời ngăn ngừa biến chứng lâu dài. 4. Cách giảm sưng và phòng ngừa tái phát Đối với sưng phù nhẹ, người bệnh có thể áp dụng một số biện pháp hỗ trợ đơn giản: Kê cao chân khi nằm hoặc nghỉ ngơi để giúp dịch trở lại hệ tuần hoàn. Hạn chế ăn mặn, giảm lượng natri nạp vào cơ thể. Tập vận động nhẹ nhàng như đi bộ, xoay cổ chân hoặc cử động các ngón chân thường xuyên. Không ngồi hoặc đứng một tư thế quá lâu, tránh làm máu ứ đọng ở chi dưới. Theo dõi cân nặng và vòng cổ chân hằng tuần để phát hiện sớm thay đổi bất thường. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng các biện pháp này chỉ hỗ trợ, không thay thế cho việc đánh giá y khoa. Nếu sưng ngày càng nặng, kèm theo khó thở, mệt mỏi, đau ngực hoặc tăng cân nhanh, cần đến ngay cơ sở y tế để loại trừ nguyên nhân tim mạch hoặc thận. 5. Người bệnh không ngừng thuốc vì lo sợ Amlodipine, pioglitazone và pregabalin là những thuốc có hiệu quả đã được chứng minh, được dùng rộng rãi và an toàn khi có chỉ định đúng. Việc xuất hiện phù nhẹ không có nghĩa là thuốc không hợp hay gây độc. Thực tế, phần lớn trường hợp sưng phù sẽ giảm sau vài tuần cơ thể thích nghi, hoặc biến mất khi bác sĩ điều chỉnh liều. Nếu bệnh nhân tự ngừng amlodipine vì thấy chân sưng, khiến huyết áp tăng cao đột ngột nguy hiểm. Trong khi chỉ cần đổi thuốc khác hoặc thêm một thuốc lợi tiểu

Vì sao đái tháo đường gây suy thận?

Đái tháo đường là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây bệnh thận mạn tính, chiếm tỷ lệ cao nhất trong các trường hợp suy thận giai đoạn cuối phải điều trị thay thế thận như lọc máu chu kỳ, lọc màng bụng, ghép thận… Cơ chế chính gây bệnh là tổn thương vi mạch tại cầu thận do tình trạng tăng đường huyết kéo dài. Glucose máu cao dẫn đến dày màng đáy cầu thận, tăng sinh tế bào trung mô và xơ hóa cầu thận, làm giảm khả năng lọc chọn lọc của màng lọc. Hậu quả là albumin niệu xuất hiện, phản ánh giai đoạn sớm của bệnh thận do đái tháo đường. Khi đường huyết không được kiểm soát, quá trình xơ hóa cầu thận tiến triển dần, dẫn đến giảm mức lọc cầu thận (eGFR), tăng albumin niệu, rồi chuyển sang bệnh thận mạn tính (CKD) và cuối cùng là suy thận giai đoạn cuối (ESKD). Người mắc bệnh thận do đái tháo đường thường không có triệu chứng trong giai đoạn đầu. Khi tổn thương tiến triển, các biểu hiện có thể xuất hiện như mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn, ngứa da, sưng phù tay chân, tiểu ít hoặc tiểu đêm nhiều, huyết áp tăng cao. Những dấu hiệu này thường đến chậm nên nhiều bệnh nhân chỉ phát hiện khi chức năng thận đã giảm đáng kể. Anh nên tầm soát định kỳ để phòng ngừa biến chứng thận do đái tháo đường. Người bệnh nên theo dõi huyết áp, đường máu, cân nặng định kỳ và tầm soát chỉ số microalbumin niệu và mức lọc cầu thận ít nhất mỗi 3-6 tháng một lần. Anh không tự ý ngừng hoặc thay đổi thuốc hạ đường huyết, thuốc huyết áp khi chưa có chỉ định. Duy trì chế độ ăn lành mạnh, ngủ đủ giấc, kiểm tra sức khỏe định kỳ chính là biện pháp hiệu quả nhất để bảo vệ thận và kéo dài tuổi thọ. Khi đã mắc bệnh thận do đái tháo đường, việc điều trị chủ yếu tập trung làm chậm tiến triển và bảo tồn phần chức năng thận còn lại. Bác sĩ thường chỉ định thuốc kiểm soát đường huyết, huyết áp, kết hợp với chế độ ăn hạn chế muối, đường và đạm tránh lạm dụng thuốc, thực phẩm gây độc thận. Người bệnh nên duy trì cân nặng hợp lý, tập luyện đều đặn, tránh hút thuốc và uống rượu bia. Nếu người bệnh nặng, chức năng thận giảm dưới ngưỡng cho phép, bác sĩ chỉ định điều trị thay thế thận bằng các phương pháp lọc máu, lọc màng bụng hoặc ghép thận. https://vnexpress.net/vi-sao-dai-thao-duong-gay-suy-than-4958482.html

Nhận diện sớm bệnh Alzheimer và cách phòng ngừa hiệu quả

Azheimer là nguyên nhân phổ biến nhất gây sa sút trí tuệ ở người cao tuổi, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trí nhớ, ngôn ngữ và hành vi. Nhận biết sớm triệu chứng và chủ động phòng ngừa là cách hiệu quả để làm chậm tiến triển bệnh và nâng cao chất lượng cuộc sống. Các giai đoạn của bệnh Alzheimer  Bệnh Alzheimer là một trong những nguyên nhân phổ biến gây chứng suy giảm trí nhớ, chiếm khoảng 60 – 80% các trường hợp. Đây là một bệnh lý ảnh hưởng nghiêm trọng đến não bộ, tác động đến trí nhớ, tư duy, ngôn ngữ và hành vi của người bệnh. Nguy cơ phát triển bệnh Alzheimer tăng dần theo độ tuổi, đặc biệt từ sau 65 tuổi. Để hiểu rõ hơn về diễn tiến của bệnh, dưới đây là mô tả cụ thể các giai đoạn của Alzheimer: Giai đoạn nhẹ Ở giai đoạn này, người bệnh chỉ gặp một số khó khăn trong việc quản lý cuộc sống hàng ngày, nhưng vẫn có thể sống độc lập. Tuy nhiên, hành vi, cảm xúc và tâm trạng có thể bắt đầu thay đổi. Lúc này người bệnh và gia đình nên dành thời gian tìm hiểu về bệnh. Vai trò của người chăm sóc rất quan trọng: hỗ trợ người bệnh thông qua trò chuyện, tư vấn nhẹ nhàng và đồng cảm. Người bệnh có thể gặp khó khăn trong việc hoàn thành các hoạt động hàng ngày như lái xe, nấu ăn… vì vậy cần sự hỗ trợ hoặc thay thế từ người thân. Giai đoạn vừa Ở giai đoạn trung bình, các biểu hiện suy giảm trí nhớ và chức năng nhận thức trở nên rõ rệt hơn: Suy giảm trí nhớ nghiêm trọng: Quên cả hiện tại lẫn quá khứ. Rối loạn ngôn ngữ: Nói không trôi chảy, sai ngữ pháp. Rối loạn tri giác: Mất định hướng, có thể lạc ngay cả trong môi trường quen thuộc. Rối loạn hành vi: Không thực hiện đúng các công việc thường ngày như nấu ăn, mặc quần áo, mua sắm… Người bệnh dần mất khả năng tự lập. Dù vẫn có thể ăn uống, tắm rửa hoặc thực hiện một số việc đơn giản, nhưng thường cần được nhắc nhở, hỗ trợ. Ngoài ra, họ dễ bị lạc đường, quên tắt bếp, làm việc lặp đi lặp lại như lục lọi ngăn kéo hoặc đi lại vô thức. Những hành vi bất thường như tức giận, nghi ngờ, thậm chí là hung hăng có thể xảy ra – do những tổn thương nhận thức của bệnh gây ra. Ở giai đoạn này, người bệnh thường khó diễn đạt suy nghĩ và hiểu người khác, đồng thời nhầm lẫn giữa quá khứ và hiện tại. Việc chăm sóc có thể đòi hỏi người thân phải dành toàn bộ thời gian để hỗ trợ. Giai đoạn nặng Đây là giai đoạn bệnh tiến triển nặng, người bệnh cần được chăm sóc toàn diện. Các vấn đề về lời nói và ngôn ngữ khiến giao tiếp gần như không thể. Họ không còn tự thực hiện các hoạt động cơ bản như ăn uống, vệ sinh cá nhân và thường xuyên nhầm lẫn người thân quen. Khả năng kiểm soát cơ thể và phối hợp vận động cũng suy giảm đáng kể. Ở giai đoạn này, việc chăm sóc tại nhà có thể không đủ đáp ứng nhu cầu y tế và tinh thần. Gia đình nên cân nhắc kết hợp chăm sóc chuyên nghiệp tại các cơ sở điều dưỡng hoặc trung tâm chuyên biệt dành cho người sa sút trí tuệ. Ngăn ngừa bệnh Alzheimer thế nào? Bệnh Alzheimer là hệ quả của quá trình lão hóa tự nhiên của não bộ. Tuy nhiên, thời điểm khởi phát và mức độ trầm trọng có thể bị chi phối bởi lối sống, chế độ dinh dưỡng và các yếu tố sức khoẻ. Một số biện pháp phòng ngừa và giảm nguy cơ bao gồm: Ăn uống khoa học Duy trì chế độ ăn giàu dinh dưỡng, cân bằng các nhóm chất, ưu tiên rau củ, trái cây tươi, ngũ cốc nguyên hạt, dầu thực vật, các chế phẩm từ sữa… Hạn chế thịt đỏ, đường tinh luyện và các chất kích thích như rượu, bia, thuốc lá… Phòng ngừa bệnh tim mạch Khoảng 80% người bị Alzheimer có liên quan đến các bệnh lý tim mạch. Việc kiểm soát huyết áp, mỡ máu, tiểu đường… góp phần ngăn ngừa và làm chậm tiến triển bệnh. Tập thể dục đều đặn Tập luyện giúp cải thiện tuần hoàn máu lên não, giảm căng thẳng và làm chậm sự thoái hóa tế bào thần kinh. Người bệnh nên chọn hình thức vận động phù hợp với thể trạng và tuổi tác. Tránh chấn thương vùng đầu Chấn thương đầu, đặc biệt dẫn tới bất tỉnh, có liên quan đến nguy cơ cao phát triển Alzheimer. Do đó, cần thận trọng khi chơi thể thao hoặc tham gia giao thông. Ngủ đủ và đúng giờ Rối loạn giấc ngủ ảnh hưởng đến 25% – 50% người mắc Alzheimer, tùy theo giai đoạn. Giấc ngủ sâu, đúng giờ không chỉ tốt cho sức khỏe tổng thể mà còn góp phần bảo vệ chức năng não bộ. Alzheimer là căn bệnh tiến triển âm thầm nhưng tác động sâu sắc đến chất lượng cuộc sống của người bệnh và gia đình. Việc phát hiện sớm, hiểu rõ từng giai đoạn bệnh, chăm sóc đúng cách và duy trì lối sống lành mạnh là chìa khóa giúp làm chậm quá trình sa sút trí tuệ, bảo vệ sức khỏe tinh thần và thể chất cho người cao tuổi. https://suckhoedoisong.vn/nhan-dien-som-benh-alzheimer-va-cach-phong-ngua-hieu-qua-169251022075154002.htm

Biểu hiện sớm của bệnh glôcôm

Glôcôm gây tổn thương cho dây thần kinh thị giác và có khả năng di truyền trong gia đình. Bệnh có thể xuất hiện ở mọi lứa tuổi, nhưng thường gặp hơn ở người lớn tuổi, đặc biệt là những người trên 60. Đây cũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến mù lòa ở nhóm tuổi này. Vậy, biểu hiện sớm của bệnh glôcôm là gì? Bệnh glôcôm (Glaucoma hay thiên đầu thống) là bệnh về mắt gây tổn thương dây thần kinh thị giác, với mức độ nghiêm trọng tăng dần theo thời gian. Nguyên nhân chính là do áp lực trong nhãn cầu tăng cao, gây tổn thương dây thần kinh thị giác. Khi áp suất nội nhãn tăng, nó có thể chèn ép và làm tổn thương dây thần kinh thị giác – cầu nối truyền tải thông tin từ mắt đến não. Nếu tình trạng này không được điều trị, glôcôm có thể dẫn đến mất thị lực vĩnh viễn, thậm chí gây mù trong vòng vài năm. Yếu tố làm tăng nguy cơ mắc glôcôm Bệnh glôcôm thường ảnh hưởng đến người trên 40 tuổi, nhưng người trẻ, trẻ em, thậm chí trẻ sơ sinh cũng có thể mắc bệnh. Những người bị tiểu đường có nguy cơ mắc bệnh gấp đôi. Một số yếu tố làm tăng nguy cơ mắc glôcôm gồm: Tiền sử gia đình có người mắc bệnh glôcôm. Viễn thị (đối với bệnh tăng nhãn áp góc đóng). Cận thị (đối với glôcôm góc mở). Huyết áp cao hoặc quá thấp. Sử dụng corticosteroid trong thời gian dài. Chấn thương hoặc phẫu thuật mắt trước đó. Bệnh glôcôm thường gặp ở tuổi trung niên vì vậy cần thăm khám khi có biểu hiện bất thường. Biểu hiện sớm của glôcôm Tùy từng nguyên nhân gây bệnh mà glôcôm có những biểu hiện khác nhau: Đối với glôcôm góc mở Glôcôm góc mở là loại tăng nhãn áp phổ biến nhất, xảy ra khi mắt không thoát dịch hiệu quả, giống như ống dẫn lưu bị tắc. Điều này dẫn đến áp lực trong mắt tăng cao dần, gây tổn thương dây thần kinh thị giác. Bệnh không gây đau hay thay đổi thị lực ngay từ đầu. Hầu hết người mắc glôcôm góc mở không có triệu chứng rõ ràng; nếu có, thường chỉ xuất hiện khi bệnh đã tiến triển nặng với dấu hiệu mất thị lực ngoại vi. Đối với glôcôm góc đóng Glôcôm góc đóng xảy ra khi chân mống mắt áp sát với góc thoát nước và gây ứ đọng thủy dịch. Khi góc thoát nước bị chặn hoàn toàn, áp suất trong mắt tăng nhanh chóng, gọi là cơn cấp tính, có thể dẫn đến mù lòa. Các triệu chứng của glôcôm góc đóng thường xuất hiện nhanh và rõ ràng, gồm: Nhìn thấy quầng sáng quanh đèn. Mất thị lực. Đỏ mắt. Mắt mờ đục (đặc biệt ở trẻ sơ sinh). Đau bụng hoặc nôn mửa. Đau mắt, đau đầu dữ dội. Đối với glôcôm thứ phát Glôcôm thứ phát là hậu quả của các bệnh lý khác như đục thủy tinh thể hoặc do sử dụng thuốc corticosteroid. Phẫu thuật mắt cũng có thể gây ra glôcôm nhưng ít phổ biến hơn. Các triệu chứng của glôcôm thứ phát gồm: Đau đầu dữ dội. Đau mắt. Buồn nôn và ói mửa. Nhìn thấy quầng sáng quanh đèn. Đỏ mắt. Khi có những triệu chứng này, cần điều trị ngay để tránh nguy cơ mù lòa. Đối với glôcôm bẩm sinh Trẻ sơ sinh mắc glôcôm bẩm sinh thường có khiếm khuyết ở góc tiền phòng – nơi thoát thủy dịch chính của mắt – làm chậm hoặc ngăn cản quá trình dẫn lưu dịch. Các triệu chứng bao gồm: Mắt mờ đục, chớp mắt nhiều, chảy nước mắt nhiều, nhạy cảm với ánh sáng và đau đầu. Bệnh có thể mang tính di truyền trong gia đình. Chẩn đoán bệnh glôcôm Để chẩn đoán chính xác, bác sĩ có thể thực hiện các xét nghiệm sau: Khám mắt giãn đồng tử: Giúp bác sĩ quan sát dây thần kinh thị giác phía sau mắt. Soi góc: Kiểm tra góc giữa mống mắt và giác mạc để xem hệ thống thoát nước của mắt có bị tắc hay không. Chụp cắt lớp quang học (OCT): Giúp phát hiện thay đổi ở dây thần kinh thị giác. Đo nhãn áp: Kiểm tra áp suất trong mắt để xác định tình trạng tăng nhãn áp. Đo độ dày giác mạc: Giúp đánh giá ảnh hưởng của giác mạc đến nhãn áp. Khám bằng đèn khe: Kiểm tra kỹ lưỡng các cấu trúc bên trong mắt. Kiểm tra thị lực và thị trường: Đánh giá khả năng nhìn và phát hiện mất thị lực ngoại vi. Lời khuyên thầy thuốc Bệnh glôcôm thường gặp ở tuổi trung niên và tổn thương do bệnh gây ra cho dây thần kinh thị giác không thể phục hồi. Tuy nhiên, điều trị và kiểm tra thường xuyên có thể giúp làm chậm tiến trình bệnh, ngăn ngừa mất thị lực — đặc biệt nếu phát hiện sớm. Các phương pháp điều trị tập trung vào việc hạ áp suất nội nhãn, bao gồm: Thuốc nhỏ mắt theo đơn. Thuốc uống. Điều trị bằng laser. Phẫu thuật, hoặc kết hợp các phương pháp trên. Do đó, nếu nghi ngờ mắc bệnh, cần đến ngay cơ sở y tế để được thăm khám. Đặc biệt, trong gia đình có người thân mắc glôcôm, nguy cơ mắc bệnh có thể tăng lên đến 9 lần, và càng nhiều người trong gia đình mắc thì nguy cơ này càng cao. https://suckhoedoisong.vn/bieu-hien-som-cua-benh-glocom-169251017201530752.htm

Vaccine ung thư: Hiểu đúng để không kỳ vọng sai

Thông tin về “vaccine ung thư” đang thu hút sự quan tâm của nhiều người. Tuy nhiên, các bác sĩ khuyến cáo cần hiểu đúng bản chất loại vaccine này để tránh hiểu lầm và kỳ vọng quá mức. Bệnh viện Hữu Nghị vừa tiếp nhận một trường hợp bệnh nhân nam 70 tuổi. Bệnh nhân không có triệu chứng gì đặc biệt, được thực hiện nội soi đại tràng để tầm soát ung thư đại trực tràng. Rất may, trong quá trình nội soi đã phát hiện polyp. Bệnh nhân được tiến hành cắt hớt – một kỹ thuật nội soi tiêu hóa. Trường hợp này nếu giải phẫu bệnh polyp cho kết quả là ung thư, thì việc điều trị cũng chỉ cần phẫu thuật là đủ. Bác sĩ khuyến cáo ngoài việc tiêm phòng vaccine ung thư cho một số chỉ định, người dân vẫn nên chủ động phòng tránh ung thư bằng cách duy trì lối sống lành mạnh và khám sức khỏe định kỳ nhằm phát hiện sớm ung thư qua tầm soát. Ca bệnh phát hiện ra polyp nhờ tầm soát ung thư đại trực tràng. Bệnh viện Hữu Nghị cũng vừa có buổi làm việc với đoàn công tác của Trung tâm Ung thư Napalkov (Liên bang Nga). Buổi làm việc này nhận được nhiều sự quan tâm của bệnh nhân, với nguyện vọng được tham gia các thử nghiệm lâm sàng. Trong thời gian gần đây, thông tin một số trung tâm nghiên cứu quốc tế, trong đó có các trung tâm của Liên bang Nga, đang tiến hành các thử nghiệm liên quan đến loại vaccine này. Tuy nhiên, để hiểu đúng, cần phân biệt rõ hai khái niệm: vaccine phòng ngừa ung thư và vaccine điều trị ung thư. Vaccine phòng ngừa ung thư là gì? Một số loại vaccine hiện nay có thể ngăn ngừa virus gây ung thư, ví dụ: Vaccine HPV giúp phòng ung thư cổ tử cung, hậu môn, hầu họng… Vaccine viêm gan B giúp giảm nguy cơ ung thư gan. Những loại vaccine này không ngăn chặn trực tiếp tế bào ung thư, mà ngăn virus gây ra quá trình dẫn đến sự hình thành ung thư. Đây là dạng vaccine phòng bệnh, tương tự như vaccine cúm hay sởi. Vaccine có vai trò nhất định trong phòng một số loại ung thư. Ảnh minh họa. Vaccine điều trị ung thư là gì? Đây là lĩnh vực nghiên cứu mới, trong đó các nhà khoa học tìm cách kích hoạt hệ miễn dịch của cơ thể để tấn công các tế bào ung thư đã hình thành. Tuy nhiên, đa số vaccine điều trị vẫn đang ở giai đoạn thử nghiệm lâm sàng, hiệu quả còn hạn chế và chưa được ứng dụng rộng rãi. Do vậy, vaccine không thể thay thế lối sống lành mạnh và tầm soát ung thư. Hiện nay chưa có loại vaccine nào giúp con người “tránh bị ung thư” nói chung. Cách phòng ngừa ung thư hiệu quả nhất vẫn là sống lành mạnh: Không hút thuốc, hạn chế rượu bia. Duy trì cân nặng hợp lý, ăn nhiều rau xanh và trái cây. Tập thể dục đều đặn, ngủ đủ giấc, hạn chế căng thẳng, stress. Khám sức khỏe định kỳ và tầm soát ung thư theo khuyến cáo của bác sĩ. Như vậy, vaccine có vai trò nhất định trong phòng một số loại ung thư, nhưng chìa khóa bảo vệ sức khỏe vẫn nằm ở lối sống lành mạnh và khám sức khỏe định kỳ phát hiện sớm ung thư qua tầm soát. https://suckhoedoisong.vn/vaccine-ung-thu-hieu-dung-de-khong-ky-vong-sai-169251005180556201.htm Đọc thêm: Miễn dịch trị liệu ung thư – bước tiến vượt bậc của y học hiện đại

Robot phẫu thuật mở hy vọng sống cho người ung thư phổi

Ung thư phổi cướp đi sinh mạng hàng triệu người toàn cầu mỗi năm, song phẫu thuật robot và những tiến bộ điều trị đang đem lại cơ hội sống cao hơn cho các bệnh nhân. Tại Việt Nam, ung thư phổi là nguyên nhân tử vong do ung thư cao thứ hai sau ung thư gan, với khoảng 22.500 ca tử vong mỗi năm, chiếm gần 19% tổng số. Dù các phương pháp điều trị đã có nhiều tiến bộ, thực tế cho thấy đa số bệnh nhân được chẩn đoán ở giai đoạn muộn, khiến tiên lượng sống còn không cao. Tùy vào giai đoạn bệnh, bác sĩ có thể chỉ định phẫu thuật cắt bỏ khối u hoặc toàn bộ thùy phổi, hóa trị và xạ trị khi bệnh đã tiến triển. Hiện nay, điều trị nhắm trúng đích và miễn dịch đạt nhiều tiến bộ mới, mang lại cơ hội sống cho nhiều bệnh nhân giai đoạn muộn. Phòng mổ robot tại Bệnh viện Chợ Rẫy. Ảnh: Bệnh viện cung cấp “Xu hướng điều trị bằng robot ngày càng tăng, nhiều khuyến cáo xem đây là lựa chọn hàng đầu cho bệnh nhân ung thư phổi nhờ tính an toàn, hiệu quả và khả năng cải thiện chất lượng sống“, TS.BS Nguyễn Hoàng Bình, Trưởng khoa Ngoại Lồng ngực, Bệnh viện Chợ Rẫy, phát biểu tại hội nghị khoa học ngày 2/10. Theo bác sĩ Bình, phương pháp này sử dụng hình ảnh 3D phóng đại gấp 10 lần, giúp bác sĩ quan sát rõ và thao tác chính xác. Cánh tay robot có độ linh hoạt cao, không bị run tay hay vướng chạm, nhờ đó hạn chế biến chứng, giảm đau sau mổ và rút ngắn thời gian nằm viện. Phẫu thuật robot còn cho phép xử lý những ca khó như cắt trọn một bên phổi khi khối u xâm lấn phế quản, đồng thời nạo vét hạch trung thất để đánh giá chính xác giai đoạn bệnh. Việc xác định đúng giai đoạn là yếu tố then chốt giúp tiên lượng và định hướng điều trị hiệu quả hơn. Các nghiên cứu quốc tế cho thấy tỷ lệ sống sau 5 năm của bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn sớm được phẫu thuật bằng robot đạt trên 77%, giai đoạn hai là 70%. Tỷ lệ biến chứng và tử vong sau mổ chỉ dưới 3%, thấp hơn đáng kể so với các phương pháp khác. Trước đây, mổ mở là phương pháp phổ biến nhưng để lại vết mổ lớn, gây đau nhiều và đòi hỏi thời gian hồi phục lâu. Phẫu thuật nội soi ra đời sau đó tuy ít xâm lấn hơn nhưng vẫn còn hạn chế. Sự xuất hiện của phẫu thuật robot từ những năm 2000 được xem là bước tiến quan trọng trong điều trị căn bệnh này, mang lại kết quả tốt hơn cho cả người bệnh và đội ngũ y tế. TS.BS Nguyễn Hoàng Bình, Trưởng khoa Ngoại Lồng ngực, Bệnh viện Chợ Rẫy, tại hội nghị khoa học ngày 2/10. Ảnh: Bệnh viện cung cấp Các yếu tố nguy cơ chính gồm hút thuốc lá, khói thuốc thụ động, ô nhiễm không khí, tiền sử gia đình và tiếp xúc lâu dài với môi trường độc hại. Ung thư phổi khi có triệu chứng như ho, đau ngực, đau lưng… thường là ở giai đoạn muộn, phần lớn người bệnh tình cờ phát hiện nhờ khám sức khỏe định kỳ. Người bình thường nên khám sức khỏe định kỳ hàng năm, đến bác sĩ đúng chuyên khoa khi có dấu hiệu bất thường. Bệnh nhân tuân thủ điều trị, không nghe theo các phương pháp dân gian truyền miệng, bỏ lỡ thời gian vàng, dẫn đến hậu quả đáng tiếc. https://vnexpress.net/robot-phau-thuat-mo-hy-vong-song-cho-nguoi-ung-thu-phoi-4946420.html Đọc thêm: Tuổi mắc ung thư phổi ở Việt Nam trẻ hơn thế giới 10 năm Sàng lọc tầm soát – chìa khóa chiến thắng ung thư phổi

PGS.TS Nguyễn Lân Hiếu: 5 sai lầm khi dùng thuốc chống đông

‘Dùng thuốc chống đông mà ngắt quãng hay uống bù hôm sau là sai lầm nghiêm trọng nhất’, PGS.TS Nguyễn Lân Hiếu nhấn mạnh. Ông chỉ ra loạt ngộ nhận phổ biến khiến việc điều trị kém hiệu quả, thậm chí nguy hiểm. Theo PGS.TS Nguyễn Lân Hiếu, Giám đốc Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, thuốc chống đông (kháng đông) là nhóm thuốc được sử dụng phổ biến cho bệnh nhân tim mạch. Tuy nhiên, ngay cả nhiều bác sĩ chuyên khoa cũng có thể nhầm lẫn khi chỉ định và theo dõi, khiến hiệu quả điều trị giảm, thậm chí tiềm ẩn nguy hiểm cho người bệnh. Phân biệt chống đông và chống ngưng tập tiểu cầu PGS.TS Nguyễn Lân Hiếu cho biết, cần phân biệt rõ thuốc chống đông đường uống (gồm kháng Vitamin K tổng hợp và thế hệ mới – NOAC) với thuốc chống ngưng tập tiểu cầu (Aspirin, Clopidogrel, Ticagrelor). Thuốc chống đông giúp ngăn hình thành cục máu đông trong buồng tim và mạch máu, trong khi thuốc chống ngưng tập tiểu cầu hạn chế hiện tượng máu đông ở những vết nứt, vỡ thành mạch. “Có thể hình dung: thuốc chống đông “đánh thẳng” vào quá trình tạo cục máu đông, còn thuốc chống ngưng tập tiểu cầu giống như ‘lực lượng vệ sinh’ làm sạch lòng mạch. Vì thế, việc dùng thuốc chống đông phức tạp hơn rất nhiều về chỉ định, theo dõi và chỉnh liều”, ông Hiếu giải thích. Không có liều cố định cho mọi bệnh nhân Một sai lầm phổ biến là cho rằng thuốc kháng Vitamin K tổng hợp luôn bắt đầu với liều 1 mg. Thực tế, đây chỉ là thói quen kê đơn. Liều lượng cần cá thể hóa dựa trên tuổi, cân nặng, tình trạng tim mạch… Có trường hợp phải chia nhỏ đến 1/8 viên, hoặc uống xen kẽ nhiều mức liều khác nhau. “Bác sĩ càng cẩn thận dò liều thì bệnh nhân càng có cơ hội đạt hiệu quả tối ưu”, ông Hiếu nhấn mạnh. Thuốc thế hệ mới vẫn cần theo dõi Nhiều người tin rằng thuốc chống đông thế hệ mới không cần theo dõi xét nghiệm. Nguyên tắc là đúng, nhưng nếu xuất hiện các dấu hiệu bất thường như chảy máu chân răng, xuất huyết dưới da…, người bệnh vẫn cần đi khám và xét nghiệm. Thực tế đã ghi nhận nhiều ca xuất huyết nội tạng, thậm chí xuất huyết não, khởi phát từ những triệu chứng rất mơ hồ khi dùng NOAC. Chế độ ăn và thủ thuật Một hiểu lầm khác là dùng thuốc kháng đông thì tuyệt đối không ăn cải xanh. Trên thực tế, chỉ cần hạn chế thực phẩm giàu Vitamin K khi hiệu quả điều trị chưa đạt. Ngược lại, nếu chỉ số INR quá cao, bác sĩ thậm chí còn khuyên ăn thêm cải xanh để cân bằng. Bên cạnh đó, quan niệm “đang dùng thuốc chống đông thì không được làm thủ thuật như nhổ răng, đặt implant” cũng không chính xác. Trong các trường hợp này, bác sĩ có thể ngừng thuốc uống, chuyển sang tiêm thuốc chống đông ngắn hạn như Enoxaparin, sau đó dừng trước thủ thuật 12 giờ. Với phẫu thuật cấp cứu, đã có các thuốc trung hòa chuyên biệt để xử trí. Sai lầm nghiêm trọng nhất: Ngừng thuốc hoặc uống bù PGS.TS Nguyễn Lân Hiếu cảnh báo: “Nhiều bệnh nhân cho rằng thuốc chống đông có thể dùng ngắt quãng, hoặc nếu quên thì uống bù hôm sau. Đây là sai lầm nguy hiểm nhất. Khi đang dùng mà ngừng đột ngột, nguy cơ đông máu tăng vọt (thrombosis rebound). Nếu quên, tuyệt đối không được uống bù. Đây là nguyên tắc quan trọng nhất trong điều trị”. Nguyễn Hà/VOV.VN http://hibaomoi.com/pgs-ts-nguyen-lan-hieu-5-sai-lam-khi-dung-thuoc-chong-dong-c53372932.epi?zdlink=Uo9XRcHoRsba8ZeYOszjBcLmQI8i8cblSo8wUo9pOsXbRMLVTN9i8ZeYUc5iRoqsDJ4vDpaqDZOwN2zSBo8i8c5mS6ba8ZeYDZKnEJSvD3Os8drz

Biến chứng nguy hiểm hẹp van động mạch chủ và cách điều trị

Động mạch chủ là động mạch lớn nhất trong cơ thể đưa máu từ tim đi nuôi toàn bộ cơ thể. Hẹp van động mạch chủ có thể dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm đe doạ tính mạng như: suy tim, đột tử… Động mạch chủ là động mạch lớn nhất trong cơ thể đưa máu từ tim đi nuôi toàn bộ cơ thể. Van động mạch chủ là lá van ngăn cách giữa động mạch chủ và tâm thất trái. Hẹp van động mạch chủ là nguyên nhân thường gặp nhất gây tắc nghẽn đường tống máu của tâm thất trái. Biểu hiện của hẹp van động mạch chủ Nguyên nhân gây hẹp van động mạch chủ là do: thoái hoá van động mạch chủ; hẹp van động mạch chủ sau thấp tim; bệnh lý van động mạch chủ hai lá van; bệnh Paget, suy thận giai đoạn cuối… Biểu hiện kinh điển của hẹp van động mạch chủ là tam chứng: đau ngực, khó thở, ngất, thường xuất hiện khi hẹp nặng. Có thể xảy ra đột tử do rối loạn nhịp thất. Khám lâm sàng, bắt mạch sẽ thấy mạch nhỏ, nảy chậm (rõ nhất ở động mạch cảnh); nghe tim có tiếng thổi tâm thu tống máu ở phía trên bên phải xương ức, lan lên cổ, đạt cường độ cao nhất vào đầu đến giữa tâm thu. Biến chứng hẹp van động mạch chủ Hẹp van động mạch chủ có thể dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm đe doạ tính mạng: Suy tim. Rối loạn nhịp tim: rối loạn nhịp thất (Ngoại tâm thu, nhịp nhanh thất, rung thất,…), rối loạn nhịp nhĩ (Rung nhĩ hay gây ra các đợt suy tim cấp do mất cơ chế bóp bù của tâm nhĩ, giảm lưu lượng nhĩ – thất, giảm cung lượng tim). Đột tử. Tắc mạch do các mảnh vôi hóa, xơ vữa, mảnh sùi… Hội chứng vành cấp. Điều trị hẹp van động mạch chủ Điều trị hẹp van động mạch chủ gồm: Điều trị nội khoa Chưa có phương pháp điều trị nội khoa nào được chứng minh là có thể ngăn ngừa quá trình tiến triển của bệnh hay cải thiện tiên lượng bệnh. Một số thuốc (lợi tiểu, chẹn beta giao cảm, …) có thể giúp cải thiện triệu chứng của bệnh. Phẫu thuật thay van động mạch chủ cơ học hoặc sinh học Là phương pháp điều trị hiệu quả với tỷ lệ tử vong quanh phẫu thuật là 1%, biến chứng sau phẫu thuật là 1%/năm tại các trung tâm có nhiều kinh nghiệm, tuy nhiên số liệu từ những nghiên cứu sổ bộ quốc gia cho thấy tỷ lệ tử vong quanh phẫu thuật khoảng 3%. Van sinh học nên được lựa chọn cho những bệnh nhân lớn tuổi, và cũng có thể được sử dụng ở những bệnh nhân trẻ tuổi nếu muốn tránh nguy cơ huyết khối hoặc xuất huyết (ước tính khoảng 2 – 4 %/ năm). Nong van động mạch chủ bằng bóng qua da Chỉ là phương pháp điều trị thay thế tạm thời cho phẫu thuật hoặc thay van động mạch chủ qua đường ống thông đối với bệnh nhân hẹp van động mạch chủ nặng vì biến chứng xung quanh thủ thuật và tỷ lệ tái hẹp cao. Thay van động mạch chủ qua đường ống thông (TAVI) Thay van động mạch chủ qua đường ống thông là thủ thuật xâm lấn tối thiểu như một phương pháp thay thế cho phẫu thuật thay van nhân tạo đối với những bệnh nhân hẹp van động mạch chủ nặng có chỉ định thay van với chỉ định ngày càng được mở rộng. https://suckhoedoisong.vn/bien-chung-nguy-hiem-hep-van-dong-mach-chu-va-cach-dieu-tri-169250928180318394.htm

Bệnh viện Bắc Thăng Long điều trị thành công ca bệnh Whitmore

Bệnh nhân nam N.V.Q (60 tuổi), địa chỉ Sơn Đoài, xã Sóc Sơn Hà Nội, có tiền sử lạm dụng rượu, xơ gan. Cách ngày vào cấp cứu viện 2 tháng, bệnh nhân xuất hiện triệu chứng sốt cao, mệt mỏi về chiều, bệnh nhân tự uống thuốc hạ sốt thấy đỡ hơn, sau đó thỉnh thoảng sốt lại 2, 3 ngày rồi lại tự hết sốt, kèm theo mệt mỏi, chán ăn, gầy sút cân (khoảng 7,5 kg/ 2 tháng), bệnh nhân đã đi khám tại một số bệnh viện tuyến TW và được chẩn đoán: Viêm trào ngược dạ dày, tăng men gan, kê đơn thuốc điều trị tại nhà. Về nhà 1 tuần bệnh nhân đi ngoài phân lỏng 3 đến 4 lần/ ngày, sốt cao rét run, ho, mệt nhiều. Ngày 2/9/2025, bệnh nhân vào bệnh viện Bắc Thăng Long khám và điều trị. Bệnh nhân được khám và làm các xét nghiệm cận lâm sàng, cấy máu và định danh vi khuẩn và chẩn đoán xác định nhiễm khuẩn huyết do vi khuẩn Burkholderia pseudomallei (bệnh Whitmore).   Sau điều trị 5 ngày bằng kháng sinh, truyền dịch, điều trị triệu chứng, đến hiện tại bệnh nhân hết sốt, không đi ngoài, không nôn, đỡ mệt, ăn uống được. BSCKII. Nguyễn Quốc Tế, Trưởng khoa Hồi sức tích cực cho biết, bệnh Whitmore (hay còn gọi bệnh Melioidosis) là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở người và động vật do vi khuẩn Burkholderia pseudomallei gây ra. Bệnh có biểu hiện lâm sàng rất đa dạng, khó chẩn đoán và tỷ lệ tử vong cao, nhất là ở những trường hợp viêm phổi nặng, nhiễm trùng huyết và sốc nhiễm trùng. Bệnh lây truyền chủ yếu do tiếp xúc với nguồn đất, nước có chứa vi khuẩn qua các vết trầy xước ngoài da. Những người có sức đề kháng bị suy giảm, có bệnh lý nền như đái tháo đường, nghiện rượu, bệnh gan, thận, bệnh phổi mạn tính có nguy cơ mắc bệnh cao. Hiện chưa có vắc xin phòng bệnh Whitmore. Khi nghi ngờ nhiễm bệnh cần đến cơ sở y tế chuyên sâu để được tư vấn, khám, phát hiện và điều trị kịp thời. Để dự phòng bệnh, cần chú ý đảm bảo vệ sinh cá nhân, thường xuyên rửa tay với xà phòng và nước sạch; thực hiện ăn chín, uống nước đun sôi để nguội, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm; hạn chế tiếp xúc trực tiếp với đất, nước bẩn, đặc biệt tại những nơi bị ô nhiễm nặng… Phòng CTXH  

Đặt Lịch Khám

    Đặt Lịch Khám