BỆNH VIỆC BẮC THĂNG LONG
BẮC THĂNG LONG HOSPITAL

(84-24).0889.615.815

Email: bvbtl@hanoi.gov.vn

BỆNH VIỆC BẮC THĂNG LONG
BẮC THĂNG LONG HOSPITAL

HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU

Hoạt Động Nghiên Cứu

27 ngày hồi sinh kỳ diệu: Cô gái 21 tuổi xuất viện sau ca ghép thận đầu tiên tại Bệnh viện E

Ca ghép thận đầu tiên tại Bệnh viện E đã thành công tốt đẹp. Sau 27 ngày hậu phẫu, cô gái 21 tuổi đã phục hồi ngoạn mục và chính thức xuất viện trong niềm vui của gia đình và ê-kíp y bác sĩ. Theo TS.BS Nguyễn Minh Tuấn – Trưởng khoa Thận Tiết niệu và Lọc máu, Bệnh viện E – bệnh nhân bị viêm cầu thận mạn tính nhưng không điều trị đều đặn, dẫn đến suy thận giai đoạn cuối. Đến tháng 1/2026, tình trạng nặng lên, bệnh nhân phải lọc màng bụng để duy trì sự sống. Chia sẻ về căn bệnh của mình, bệnh nhân cho biết: “Đầu tháng 2, em bị phù toàn thân, vào viện tỉnh thì được chuyển cấp cứu và lọc máu ngay. Sau đó em được chuyển về Bệnh viện E và đặt catheter lọc màng bụng ngày 27/2. Gần một tháng sau, khi đang chuẩn bị xuất viện, gia đình bất ngờ nhận được tin có người chết não hiến tạng”. Là ca ghép thận đầu tiên của bệnh viện, cô gái trẻ vừa mừng vừa lo lắng. “Em lo cơ thể không tương thích với quả thận mới, nhưng em hoàn toàn tin tưởng các bác sĩ. Sau ghép, sức khỏe em cải thiện rõ rệt từng ngày”, bệnh nhân chia sẻ. Ca ghép được thực hiện ngày 21/3/2026, kéo dài khoảng 2 giờ. TS.BS Nguyễn Minh Tuấn cho biết: “Ngay sau mổ, bệnh nhân đã có nước tiểu – dấu hiệu rất tốt. Chỉ sau một ngày, bệnh nhân tỉnh táo, ngồi dậy được và ăn uống trở lại. Các chỉ số xét nghiệm cải thiện nhanh chóng. Sau 27 ngày, bệnh nhân phục hồi xuất sắc”. Thành công của ca ghép nhờ sự phối hợp chặt chẽ giữa Bệnh viện E và ê-kíp hỗ trợ từ Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, đặc biệt trong chăm sóc hậu phẫu, dinh dưỡng, phục hồi chức năng và kiểm soát nhiễm khuẩn. Mẹ bệnh nhân không giấu được xúc động: “Gia đình tôi ở Sơn La, hoàn cảnh khó khăn. Con gái làm việc tại Hưng Yên thì mắc bệnh. Trước Tết, cháu phải lọc máu liên tục, sau chuyển sang lọc màng bụng. Khi nhận tin có người hiến tạng, cả nhà như vỡ òa. Trước ghép, sức khỏe cháu chỉ khoảng 60-70%. Sau ghép thận, cháu ăn ngủ tốt, sức khỏe cải thiện lên 80-90%. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn các y bác sĩ đã tận tình cứu chữa và biết ơn vô hạn gia đình người hiến tạng – người đã cho con tôi cơ hội sống lần thứ hai. Gia đình tôi sẽ vận động người thân tham gia hiến tạng để giúp đỡ những người khác”. Việt Nam làm chủ kỹ thuật ghép tạng, mở ra hy vọng sống Thành công này tiếp tục khẳng định bước tiến của ngành ghép tạng Việt Nam. Tại chương trình Sơ kết công tác Tư vấn, vận động hiến tặng mô, bộ phận cơ thể người ngày 17/4, TS.BS Vương Ánh Dương – Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế) – đã chúc mừng Bệnh viện E và bệnh nhân. “Hiến – ghép mô tạng là nghĩa cử cao đẹp và là phương pháp điều trị tối ưu cho bệnh nhân suy tạng giai đoạn cuối. Thành công của Bệnh viện E với sự hỗ trợ từ Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 cho thấy năng lực chuyên môn của các cơ sở y tế trong nước ngày càng được nâng cao”, TS.BS Vương Ánh Dương nhấn mạnh. Từ ca ghép tạng đầu tiên năm 1992 đến nay, Việt Nam đã làm chủ nhiều kỹ thuật ghép tạng phức tạp. Hiện cả nước có 33 cơ sở đủ điều kiện ghép tạng, thực hiện thường quy hơn 1.000 ca mỗi năm – mức cao trong khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên, nguồn tạng hiến từ người chết não vẫn còn hạn chế (chỉ chiếm khoảng 8,2% trong tổng số 10.878 ca ghép tạng đến tháng 12/2023). Thiếu tướng, PGS.TS Vũ Ngọc Lâm – Phó Giám đốc Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 – cho biết hai bệnh viện sẽ tiếp tục đồng hành, chuyển giao kỹ thuật để Bệnh viện E sớm làm chủ các kỹ thuật ghép tạng khác. TS.BS Nguyễn Công Hựu – Giám đốc Bệnh viện E – cho biết, số bệnh nhân suy thận mạn đang tăng nhanh, khiến các đơn vị lọc máu thường xuyên quá tải. Việc phát triển ghép thận sẽ giúp nhiều bệnh nhân thoát khỏi cảnh lọc máu suốt đời, giảm gánh nặng về thể chất, tài chính và tinh thần. Từ ca ghép thành công đầu tiên, Bệnh viện E không chỉ mang lại cuộc sống mới cho một bệnh nhân mà còn mở ra hy vọng cho hàng nghìn người đang chờ đợi được ghép tạng. https://suckhoedoisong.vn/27-ngay-hoi-sinh-ky-dieu-co-gai-21-tuoi-xuat-vien-sau-ca-ghep-than-dau-tien-tai-benh-vien-e-169260401071219117.htm

Kỳ tích tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội: Hai trẻ song sinh chào đời cách nhau 13 tuần

Các bác sĩ Bệnh viện Phụ sản Hà Nội cùng sản phụ vừa làm nên một kỳ tích y khoa hiếm gặp khi thực hiện thành công ca song thai đặc biệt, hai trẻ chào đời cách nhau 13 tuần. Một em bé sinh non chào đời ở tuần thai thứ 25, chỉ nặng 650 gram. Và bằng nỗ lực không ngừng nghỉ, các y bác sĩ đã kiên trì “níu giữ” thai nhi còn lại suốt 13 tuần tiếp theo để thai trưởng thành và em bé được sinh ra khỏe mạnh ở tuần 38, nặng 2,4kg. Một hành trình, hai thời khắc, nhưng chung một phép màu của y học. Sản phụ mang song thai Nguyễn Thị Liên, 32 tuổi, ở Bắc Ninh trải qua hành trình “tìm con” nhiều gian nan. Sau gần 5 năm kết hôn, vợ chồng chị quyết định thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) do bệnh lý đa nang buồng trứng và tình trạng tắc, thông hạn chế vòi trứng. Nhưng niềm vui chưa trọn vẹn khi thai kỳ sớm đối mặt với biến chứng. Từ tuần thai thứ 20, sản phụ đã được cảnh báo nguy cơ sinh non khi cổ tử cung bắt đầu mở. Đến tuần 22-23, tình trạng trở nên nghiêm trọng hơn với các dấu hiệu đau bụng tăng dần, ra dịch âm đạo và xuất hiện cơn co tử cung. ThS.BS Trương Minh Phương, Phó Trưởng Khoa Sản bệnh A4, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội cho biết, thai phụ nhập viện khi đã có dấu hiệu dọa sinh non thực sự ở 22 tuần 5 ngày. Thời điểm này, sản phụ có cơn co tử cung mạnh, cổ tử cung mở 2-3cm, một thai đã sa thấp, chân thai nhi lộ ra ngoài âm đạo; nguy cơ sảy thai hoặc sinh non rất cao. Theo ThS.BS Trương Minh Phương, đây là tình huống thai kỳ hiếm gặp, diễn biến phức tạp. Ê kíp đã hội chẩn khẩn, xây dựng chiến lược điều trị với mục tiêu kéo dài thai kỳ tối đa, ưu tiên giữ thai còn lại ở vị trí cao trong tử cung. Đồng thời, chuẩn bị phương án có thể phải chấp nhận sinh thai thứ nhất để bảo toàn cơ hội sống cho thai thứ hai. Sản phụ được điều trị tích cực bằng thuốc giảm co mạnh, kết hợp theo dõi sát các dấu hiệu nhiễm trùng. Trong quá trình điều trị, tình trạng dọa sinh non không tiến triển nặng thêm, cả hai thai tiếp tục phát triển ổn định. Trước những tín hiệu tích cực, đến tuần thai thứ 25, các bác sĩ quyết định điều chỉnh chiến lược, không chỉ giữ thai thứ hai, mà cố gắng bảo toàn cả hai thai. Ở tuần thai thứ 25, sản phụ xuất hiện dấu hiệu chuyển dạ. Đây là giai đoạn khả năng nuôi sống trẻ còn thấp. ThS.BS Trương Minh Phương cho biết: “Nếu kéo dài thêm được một tuần, cơ hội sống của trẻ có thể tăng thêm 20-30%. Vì vậy, các bác sĩ luôn cố gắng kéo dài thời gian thai kỳ hết mức có thể”. Đến mốc 25 tuần 6 ngày, sản phụ chuyển dạ thực sự và sinh thường thai thứ nhất ngày 20/1/2026, bé gái nặng 650 gram. Trẻ được hồi sức sơ sinh ngay sau sinh, đáp ứng tốt nhờ được hỗ trợ trưởng thành phổi, não trước đó. Sau đó, trẻ được chuyển đến Bệnh viện Nhi Trung ương để tiếp tục điều trị. Hiện, trẻ đạt khoảng 1.900 gram, tự ăn và cơ bản ổn định. Sau khi sinh thai thứ nhất, ê kíp tiếp tục bước vào giai đoạn khó khăn hơn là giữ lại thai thứ hai trong điều kiện cổ tử cung đã mở, nguy cơ nhiễm trùng cao. Sản phụ được theo dõi sát, sử dụng kháng sinh liên tục… nhằm hạn chế nguy cơ nhiễm khuẩn. Toàn bộ quá trình điều trị được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của lãnh đạo bệnh viện. Phác đồ liên tục được điều chỉnh, cập nhật theo diễn biến thực tế, bảo đảm an toàn cho sản phụ và thai nhi. Gia đình sản phụ Nguyễn Thị Liên hạnh phúc đón bé chào đời khỏe mạnh. Sau 13 tuần điều trị tích cực, thai thứ hai được duy trì đến 38 tuần. Ngày 15/4, sản phụ được mổ lấy thai thành công, bé trai nặng 2,4kg. Sản phụ mang song thai Nguyễn Thị Liên xúc động chia sẻ: “Tình mẫu tử chính là điểm tựa lớn nhất giúp tôi vượt qua tất cả. Trong suốt hành trình đầy biến cố ấy, tôi luôn tự nhủ phải cố gắng từng ngày, vì các con. Khi bé thứ nhất chào đời còn non, tôi thực sự rơi vào trạng thái hoang mang, lo lắng. Nhưng nhờ sự động viên, đồng hành sát sao của các y, bác sĩ, tôi dần lấy lại bình tĩnh. Tôi cố gắng phối hợp chặt chẽ theo từng hướng dẫn, từng liệu trình điều trị, chỉ mong giữ được em bé đủ tháng, đủ ngày, trưởng thành và chào đời khỏe mạnh. Và khi điều đó trở thành hiện thực, với tôi và gia đình, đó là niềm vui không gì có thể diễn tả. Để tôi yên tâm, chồng tôi gần như chạy giữa hai nơi. Một bên là con đang được chăm sóc tại Bệnh viện Nhi Trung ương, một bên là tôi đang dưỡng thai. Anh liên tục cập nhật tình hình để tôi yên tâm, tiếp thêm cho tôi nghị lực để cố gắng. Đặc biệt, chính sự tận tâm, bền bỉ và những lời động viên kịp thời của đội ngũ y, bác sĩ Bệnh viện Phụ sản Hà Nội đã tiếp thêm cho gia đình tôi niềm tin để đi trọn hành trình đầy thử thách này. Tôi vô cùng biết ơn vì các y, bác sĩ

5 kỳ tích viết tên người Việt lên bản đồ y khoa thế giới năm 2025

Năm 2025, nền y học Việt Nam ghi dấu nhiều kỳ tích đáng tự hào, từ những ca phẫu thuật “lần đầu tiên” đến các phát minh đột phá giúp cứu sống nhiều người bệnh. Dưới đây là 5 thành tựu y khoa tiêu biểu do người Việt thực hiện trong năm qua, thể hiện bước tiến lớn cả về trình độ chuyên môn lẫn tinh thần nhân văn của ngành y. Ghép tạm tay đứt lìa vào chân, cô gái mang song thai làm mẹ trọn vẹn Bàn tay đứt lìa của sản phụ được ghép tạm vào chân (Ảnh: Bệnh viện cung cấp). Một phụ nữ 19 tuổi mang song thai 34 tuần đã được nối thành công bàn tay bị đứt lìa sau gần hai tháng “nuôi tạm” ở chân. Đây là một kỹ thuật vi phẫu hiếm gặp trên thế giới. Ngày 23/9/2025, TS.BS Lê Ngọc Long, Giám đốc Bệnh viện đa khoa Bình Dương (TPHCM) thông tin với phóng viên báo Dân trí, các bác sĩ nơi này đã tiếp nhận cấp cứu, điều trị một trường hợp bị tai nạn thương tâm. Bệnh nhân là cô gái tên L.N.P. (gần 20 tuổi). Theo thông tin ban đầu, trước đó khi làm việc tại nhà máy, bệnh nhân bị tai nạn lao động với máy móc, gây dập nát vùng 1/3 dưới cẳng tay và đứt lìa bàn tay phải. Sản phụ hạ sinh thành công và hồi phục kỳ diệu (Ảnh: Hoàng Lê). Tháng 9/2025, chị L.N.P. gặp tai nạn lao động nghiêm trọng khiến 1/3 dưới cẳng tay phải dập nát và bàn tay đứt rời hoàn toàn. Do bệnh nhân đang mang thai đôi, các bác sĩ Bệnh viện Đa khoa Bình Dương đối mặt bài toán nan giải: nếu mổ nối tay ngay lập tức, ca mổ kéo dài 7-8 giờ và liều thuốc mê lớn có thể gây sảy thai, còn nếu xử lý kiểu thông thường (đóng mỏm cụt) thì người mẹ sẽ tàn phế vĩnh viễn. Để bảo toàn cả tính mạng mẹ con và cứu lấy bàn tay, ekip đa chuyên khoa quyết định ghép tạm bàn tay đứt lìa vào cẳng chân phải nhằm duy trì tưới máu nuôi dưỡng mô trong khi chờ thai đủ lớn. Nhờ giải pháp sáng tạo này, người mẹ an toàn vượt qua thai kỳ. Đến ngày 28/11/2025, khi hai thai nhi đã phát triển ổn định, các bác sĩ tiến hành mổ tách bàn tay ra khỏi chân và nối trả lại vào vị trí cũ trên cẳng tay sau gần 2 tháng nuôi ghép. Ca vi phẫu kéo dài 13 giờ đã tái lập hệ thống mạch máu, gân cơ và thần kinh một cách tinh vi, đồng thời luôn theo dõi sát nhịp tim thai trong suốt quá trình mổ. Hậu phẫu, bàn tay hồng ấm và bắt đầu cử động nhẹ; người mẹ sinh mổ hai bé trai khỏe mạnh, an toàn trong niềm vui vỡ òa của cả gia đình và đội ngũ y bác sĩ. Giới chuyên môn đánh giá đây là bước tiến lớn về vi phẫu tạo hình ở tuyến tỉnh, khi bệnh viện địa phương có thể thực hiện một kỹ thuật phức tạp đòi hỏi phối hợp đa khoa chặt chẽ để cứu cả mẹ lẫn con. Thành công này mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc và đã được lãnh đạo TPHCM gửi thư khen ngợi, tặng bằng khen đột xuất cho ekip phẫu thuật. Lần đầu tiên Việt Nam ghép đồng thời tim – phổi Ngày 13/8/2025, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức công bố ca ghép tim – phổi đầu tiên ở nước ta: bệnh nhân là nữ, 38 tuổi, suy tim và suy phổi giai đoạn cuối, sự sống “tính bằng ngày” trước khi được ghép. Ca đại phẫu kéo dài 7 giờ với sự hỗ trợ của hệ thống tim phổi nhân tạo. Tim và cả hai lá phổi từ người hiến chết não đã được ghép đồng thời cho người bệnh; các bác sĩ thậm chí phải cắt giảm một phần lá phổi để vừa vặn khoang ngực người nhận và tối ưu tưới máu. Ngày 13/8/2025, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức công bố ca ghép tim – phổi đầu tiên ở nước ta: bệnh nhân là nữ, 38 tuổi (Ảnh: Bệnh viện cung cấp). Thách thức lớn nhất sau mổ là cân bằng thuốc chống thải ghép với nguy cơ nhiễm trùng từ phổi người hiến. Nhờ chiến lược điều trị sáng tạo (dùng gần 40 loại thuốc, phối hợp lọc máu, điều chỉnh kháng sinh), bệnh nhân vượt qua giai đoạn nguy hiểm và dần hồi phục, chức năng tim phổi ổn định. Đây được xem là một cột mốc lịch sử của ngành ghép tạng Việt Nam, khẳng định trình độ y học nước nhà đã làm chủ những kỹ thuật khó bậc nhất trên thế giới. Trên thế giới mỗi năm chỉ thực hiện khoảng 100 ca ghép tim – phổi do yêu cầu vô cùng khắt khe về nguồn tạng và kỹ thuật phẫu thuật. Thành công này mở ra hướng điều trị mới cho các bệnh nhân mắc đồng thời bệnh tim và phổi giai đoạn cuối – những trường hợp trước đây gần như vô vọng, đồng thời đưa y học Việt Nam lên một tầm cao mới trên bản đồ ghép tạng thế giới. Chỉ trong hai năm gần đây, số ca ghép tạng tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức đã tăng vọt, nhiều kỹ thuật ghép đa tạng phức tạp được thực hiện liên tiếp (năm 2024 bệnh viện này cũng lần đầu ghép đồng thời tim – gan). Ca ghép tim – phổi đầu tiên thành công là minh chứng thuyết phục nhất cho bước tiến vượt bậc ấy của y học Việt Nam. Thay khớp háng toàn phần bằng công nghệ in 3D cho bệnh nhi 12 tuổi Công nghệ in

Biến giấc mơ ghép tạng tại Việt Nam thành kỳ tích trong đời thực

Ghép tạng là 1 trong 10 thành tựu y học lớn nhất của nhân loại trong thế kỷ 20. Đây là giải pháp duy nhất mang lại hy vọng sống cuối cùng của người bệnh khi các phương pháp khác không còn hiệu quả. Tại Việt Nam, ban đầu ghép tạng chỉ là ước mơ, đến nay, chúng ta bắt đầu làm chủ những kỹ thuật hiện đại nhất. Phép màu tái sinh cuộc đời nữ bác sĩ trẻ Chị Nguyễn Thị Phương Nhi, 32 tuổi, là bác sĩ sản khoa, công tác tại Bệnh viện Đa khoa Phương Bắc, Tuyên Quang. Chị từng không nghĩ rằng, “hành trình cứu người” của mình lại có ngày phải tạm dừng trước một bước ngoặt sinh tử. Sáu năm trước, chị được chẩn đoán mắc bệnh cơ tim giãn – căn bệnh âm thầm bào mòn chức năng tim, đẩy người bệnh đến ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết. Thời gian phát hiện mắc bệnh đúng trong lần chị mang thai đầu tiên. Sau khi sinh con, chị kiên trì điều trị nội khoa, bền bỉ chống chọi với những tháng ngày mệt mỏi kéo dài. Bất ngờ, một cơn suy tim cấp ập đến, tình trạng bệnh trở nên nguy kịch, buộc chị phải chuyển tuyến điều trị. Tại đây, các bác sĩ xác định con đường duy nhất để giữ lại sự sống cho chị là ghép tim. Chồng chị cũng là một bác sĩ chẩn đoán hình ảnh. Hai vợ chồng cùng học tại Đại học Y Thái Bình, sau đó công tác tại Tuyên Quang. Anh là người dân tộc Khơ Mú, ở Điện Biên, còn chị ở Thanh Hóa. Đôi vợ chồng trẻ có một cô con gái – là nguồn động lực lớn nhất giúp chị Nhi bám víu vào sự sống trong những ngày dài trên giường bệnh. Giữa lằn ranh sinh tử, phép màu đã tìm đến chị. Sau 5 năm chống chọi với bệnh cơ tim giãn, chị được hồi sinh nhờ một ca ghép tim từ người hiến chết não. Tháng 1/2025, chị được ghép tim thành công tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. Ba tháng sau ghép, chị đã quay lại công việc hàng ngày, đó là thăm khám và điều trị ngoại trú cho nhiều người bệnh. Đến nay, chị cảm nhận rõ sức khỏe thay đổi từng ngày, khỏe khoắn hơn, tinh thần lạc quan hơn rất nhiều, nhất là khi được quay trở lại công việc phục vụ người dân. Khoác lại chiếc áo blouse trắng với trái tim được hồi sinh, chị Nhi xem đó như một lời tri ân lặng thầm và sâu sắc tới gia đình người hiến tạng, đã trao cho chị không chỉ một trái tim, mà cả một cuộc đời mới. Chị Nhi là 1 trong nhiều người bệnh ở nước ta được hồi sinh từ lằn ranh sinh tử trong những năm trở lại đây, nhờ kỹ thuật ghép tạng đỉnh cao của nhân loại. Ghép tạng là một trong 10 thành tựu y học lớn nhất của nhân loại trong thế kỷ 20. Đây là giải pháp duy nhất mang lại hy vọng sống cuối cùng của người bệnh khi các phương pháp khác không còn hiệu quả. BS Nguyễn Thị Phương Nhi đang công tác tại Tuyên Quang. Từ ước mơ đến tầm nhìn chiến lược… Trên thế giới bắt đầu nghiên cứu ghép tạng từ đầu thế kỷ XX, đến năm 1954 bắt đầu ghép thận thành công; năm 1963 ca ghép gan đầu tiên được tiến hành và đến năm 1967, ca ghép gan đầu tiên thành công. Tại Việt Nam, từ những năm 60 thế kỷ XX, y học Việt Nam còn thiếu thốn về trang thiết bị, cơ sở vật chất, thuốc men và nhân lực. Ghép tạng khi đó chỉ là ước mơ đối với giới y học trong nước và bệnh nhân bị suy tạng cần điều trị thay thế. Tuy nhiên, với tầm nhìn chiến lược về ghép tạng tại Việt Nam từ những năm 1970, Giáo sư, Viện sĩ Tôn Thất Tùng, Cố Giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức đã không ngừng nỗ lực nghiên cứu ghép tạng và đã ghép thành công ở động vật từ năm 1965-1966. Mong muốn của GS Tôn Thất Tùng là thực hiện ghép gan, thận cho người vào những năm 1970. Song, thời gian đó, cả nước phải tập trung nhân lực, vật lực cho kháng chiến nên ý nguyện của Giáo sư không thực hiện được. Mặc dù vậy, với sự kiên định, bản lĩnh, tầm nhìn lớn, GS Tôn Thất Tùng đã gửi các chuyên gia đi học ở nước ngoài với nhiều chuyên ngành khác nhau như nội, ngoại, gây mê hồi sức, chẩn đoán hình ảnh… nhằm chuẩn bị sẵn lực lượng cho ngành ghép tạng nước nhà. AHLĐ.TTND.GS Nguyễn Tiến Quyết, Phó Chủ tịch Hội Ghép tạng Việt Nam – Ảnh: VGP Và những dấu ấn kỳ tích trong đời thực Theo Anh hùng lao động, Thầy thuốc nhân dân, GS Nguyễn Tiến Quyết, Phó Chủ tịch Hội Ghép tạng Việt Nam, chuyên gia đầu ngành về ghép tạng và hơn 40 năm kinh nghiệm về chuyên khoa ngoại tiêu hóa – gan mật tụy, đến năm 2000, khi có đủ cơ sở vật chất, nhân lực, vật lực, chúng ta đã tiến hành ghép tạng trên động vật rất hiệu quả. Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức đã triển khai thành công nghiên cứu ghép gan thực nghiệm trên động vật (lợn). Hoạt động này nằm trong đề tài nghiên cứu cấp nhà nước: “Nghiên cứu một số vấn đề ghép gan để thực hiện ghép gan trên người tại Việt Nam”. Sự kiện đã mở ra một cơ hội lớn cho kỹ thuật ghép gan của Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức nói riêng và cả nước nói chung. Đó cũng

Trái tim xuyên Việt hồi sinh bé 11 tuổi

Các bác sĩ Bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM thực hiện thành công ca ghép tim từ một người hiến tại Hà Nội hồi sinh em bé 11 tuổi, rạng sáng mùng 7 Tết. Đây là ca ghép tim thứ 9 từ người hiến chết não, tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM. Bệnh nhi là bé trai 11 tuổi bị suy tim giai đoạn cuối đang trong tình trạng nguy kịch. Hành trình hồi sinh sự sống bắt đầu chiều mùng 6 Tết, khi bệnh viện nhận thông tin từ Trung tâm Điều phối ghép tạng quốc gia về một trái tim hiến tặng tại Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội), phù hợp với bé. Tình trạng người hiến không ổn định, nếu kéo dài thời gian hồi sức chết não sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng tạng. Thời gian cấp bách, đòi hỏi các êkíp liên quan phải vận hành với tốc độ cao nhất. Bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM kích hoạt quy trình ghép tim khẩn cấp. Trong vòng hơn một giờ, êkíp gồm các phẫu thuật viên tim mạch, bác sĩ gây mê hồi sức, điều dưỡng và kỹ thuật viên đã tập trung đầy đủ và di chuyển ra Hà Nội trên chuyến bay gần nhất. Lúc này, nhiều y bác sĩ đang trong kỳ nghỉ Tết hoặc vừa trở lại thành phố đã chủ động nhận lệnh điều động, quay lại bệnh viện tham gia ca ghép tim. Trái tim người hiến được vận chuyển về đến TP HCM lúc 3h45 sáng mùng 7 Tết. Tại phòng mổ, êkíp phẫu thuật đã chờ sẵn để tiến hành ca ghép. Một giờ sau, trái tim đã đập lại trong lồng ngực em bé với những nhịp đập mạnh mẽ và đều đặn. Sau ghép, huyết động ổn định, bệnh nhi đang được theo dõi sát tại Khoa Hồi sức. Đến nay, Bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM đã thực hiện 214 ca ghép tạng, gồm 97 ca ghép thận, 108 ca ghép gan và 9 ca ghép tim. https://vnexpress.net/trai-tim-xuyen-viet-hoi-sinh-be-11-tuoi-5043560.html

Ca thông tim xuyên qua bào thai nhanh nhất Việt Nam

Chỉ trong chưa đầy 30 phút, ê-kíp Bệnh viện Từ Dũ và Nhi Đồng 1 (TP.HCM) đã can thiệp thông tim bào thai thành công, lập dấu mốc ca thực hiện nhanh nhất Việt Nam. Lúc 10h ngày 30/12, ê-kíp bác sĩ chuyên khoa Sản – Can thiệp bào thai – Tim mạch can thiệp của Bệnh viện Từ Dũ phối hợp cùng Bệnh viện Nhi đồng 1 đã thực hiện thành công ca can thiệp thông tim bào thai cho một thai nhi mắc tim bẩm sinh phức tạp. Với thời gian thực hiện dưới 30 phút, đây được xem là ca thông tim bào thai nhanh nhất từ trước đến nay tại Việt Nam, đánh dấu bước tiến nổi bật của y học bào thai trong nước. Thai nhi được chẩn đoán hẹp van động mạch phổi nặng kèm thiểu sản thất phải tiến triển, một dạng tim bẩm sinh phức tạp, có nguy cơ cao diễn tiến thành tim một thất sau sinh nếu không được can thiệp kịp thời. Thai phụ là chị N.T.T.T. (26 tuổi, ngụ TP.HCM), mang thai lần hai, thai kỳ tự nhiên. Chồng của thai phụ là người Malaysia, luôn đồng hành và phối hợp chặt chẽ cùng gia đình và đội ngũ y tế trong suốt quá trình theo dõi, hội chẩn và quyết định can thiệp. Theo hồ sơ theo dõi, ở tam cá nguyệt thứ nhất, các lần khám thai chưa ghi nhận bất thường. Xét nghiệm sàng lọc trước sinh NIPT cho kết quả nguy cơ thấp. Tuy nhiên, đến khoảng tuần thai 22-24, qua siêu âm tim thai chuyên sâu, các bác sĩ phát hiện bất thường tim bẩm sinh gồm hẹp van động mạch phổi nặng kèm hở van ba lá. Thai phụ sau đó được chuyển đến theo dõi và hội chẩn tại Bệnh viện Từ Dũ và Bệnh viện Nhi đồng 1. Kết quả chọc ối phân tích nhiễm sắc thể cho thấy thai nhi có bộ nhiễm sắc thể bình thường, tạo cơ sở quan trọng để các bác sĩ cân nhắc chỉ định can thiệp. Trong quá trình theo dõi tiếp theo, bệnh lý tim thai tiến triển nhanh, thất phải ngày càng thiểu sản cả về hình thái lẫn chức năng, làm gia tăng nguy cơ phải điều trị theo lộ trình tim một thất sau sinh. Sau nhiều buổi hội chẩn liên viện, các bác sĩ thống nhất chỉ định can thiệp thông tim bào thai, nhằm cải thiện dòng máu qua van động mạch phổi, tạo điều kiện cho thất phải tiếp tục phát triển trong tử cung. Mục tiêu là mở rộng cơ hội bảo tồn chiến lược tim hai thất hoặc 1,5 thất sau sinh, tránh cho trẻ phải đi theo lộ trình điều trị tim một thất phức tạp và kéo dài. Thực tế can thiệp gặp không ít thách thức. Tại thời điểm làm thủ thuật, thai nhi ở tư thế ngôi đầu, nghiêng trái, bánh nhau mặt trước, làm gia tăng mức độ khó. Đặc biệt, cánh tay thai nhi vắt ngang trước ngực, che khuất hoàn toàn đường vào buồng tim. Trước tình huống này, ê-kíp đã linh hoạt thực hiện một thủ thuật hỗ trợ nhỏ để di chuyển chi thai, nhanh chóng tạo điều kiện tiếp cận tim thai an toàn. Sau khi tối ưu tư thế, quá trình xuyên kim qua thành bụng mẹ – tử cung – lồng ngực thai nhi và bơm bóng nong van động mạch phổi được thực hiện thuận lợi. Ca can thiệp thành công ngay lần xuyên kim đầu tiên, giúp rút ngắn tối đa thời gian thủ thuật, hạn chế nguy cơ cho cả mẹ và thai nhi. Vợ chồng sản phụ hạnh phúc vì con ổn định sau phẫu thuật. Ảnh: Nguyễn Thuận. Trao đổi với báo chí sáng 31/12, bác sĩ chuyên khoa II Trần Ngọc Hải, Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ, cho biết ca can thiệp đã được chuẩn bị rất kỹ lưỡng với tổng cộng 5 ê-kíp, mỗi ê-kíp từ 3 đến 5 người, nâng tổng số nhân lực tham gia lên khoảng 20-25 người. “Trước đây, có những ca rất nặng phải làm kéo dài nhiều giờ, thậm chí phải can thiệp hai lần. Có trường hợp lần đầu mất 4 tiếng, lần thứ hai mất thêm 2 tiếng. Còn với ca này, chúng tôi thực hiện trong dưới 30 phút”, bác sĩ Hải chia sẻ. Theo lãnh đạo Bệnh viện Từ Dũ, Bộ Y tế xếp kỹ thuật thông tim bào thai vào danh mục phẫu thuật đặc biệt, đồng thời đánh giá đây là dấu mốc của một bước tiến rất lớn của y học Việt Nam. Bởi đây là kỹ thuật rất mới, rất hiếm và chỉ có rất ít trung tâm trên thế giới thực hiện được. Bác sĩ Hải thông tin mỗi ca can thiệp cần khoảng 50 thiết bị y tế, gần 25 nhân viên y tế, đồng thời phải chuẩn bị song song hai phòng can thiệp với đầy đủ hệ thống. Chi phí vì vậy cao hơn gần gấp đôi so với can thiệp tim mạch thông thường ở người lớn, nhưng vẫn nằm trong khung giá nhà nước quy định và được bảo hiểm y tế chi trả phần lớn. https://znews.vn/ca-thong-tim-xuyen-qua-bao-thai-nhanh-nhat-viet-nam-post1615623.html

Lần đầu tiên bác sĩ Việt Nam vi phẫu thuật thành công ‘cứu’ ngón tay bệnh nhân đứt rời sau 25 giờ

Khi đang làm nhiệm vụ trên tàu viễn dương, anh D là thủy thủ tàu viễn dương đã gặp tai nạn nghiêm trọng, ngón trỏ tay phải đứt rời… Bão số 12 đổ bộ khiến con tàu chao đảo mạnh vào thời điểm anh D đang sửa chữa thiết bị. Cú va đập bất ngờ khiến anh bị đứt rời ngón trỏ tay phải. Rất may, các thuyền viên trên tàu đã nhanh chóng sơ cứu và bảo quản phần chi thể đứt rời được đặt vào bình giữ nhiệt, đưa anh lên bờ và tiếp cận cơ sở y tế gần nhất tại miền Trung. Lúc này bão gió to, việc đưa anh D vào bờ thực sự rất khó khăn và cần sự hỗ trợ rất lớn của cơ quan tìm kiếm cứu hộ cứu nạn quốc gia. Trong tình huống khẩn cấp, sau khi được nhân viên y tế hỗ trợ xử trí cấp cứu, anh D mong muốn được nối lại phần chi thể đứt rời, vì vậy anh và gia đình quyết định đón chuyến bay sớm nhất từ Đà Nẵng ra Hà Nội ngay rạng sáng hôm sau đến Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. Tổng thời gian thiếu máu lên tới 25 giờ. Kíp mổ thực hiện vi phẫu nối lại ngón tay cho người bệnh với kính hiển vi. Ảnh: BVCC Hai kíp phẫu thuật song song quyết tâm ‘cứu’ ngón tay đứt rời của thủy thủ Tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, các chuyên gia đã đánh giá phần chi thể đứt rời và ghi nhận: phần chi thể đứt rời đã được sơ cứu – bảo quản đúng cách, khớp ngón tay còn mềm, cấu trúc mô được bảo toàn tốt. Bệnh viện lập tức hội chẩn đa chuyên khoa gồm phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ, gây mê hồi sức, chấn thương chỉnh hình để đưa ra chiến lược xử trí tối ưu và quyết định thực hiện vi phẫu nối lại ngón tay cho người bệnh. Tại phòng mổ, kíp phẫu thuật cấp cứu được triển khai với sự phối hợp đa chuyên khoa: vi phẫu tạo hình, gây mê hồi sức, chấn thương chỉnh hình… Hai kíp phẫu thuật được triển khai song song, một kíp làm sạch và chuẩn bị phần ngón đứt rời, kíp còn lại chuẩn bị phần mỏm cụt. Xương ngón được định vị và cố định bằng kim chuyên dụng để tạo trục vững, hệ thống gân và dây chằng được phục hồi. Đặc biệt là thần kinh và các mạch máu nhỏ li ti chỉ khoảng 0,8 – 1mm được phục hồi với độ chính xác cao dưới kính hiển vi phẫu thuật với dụng cụ đặc biệt nhằm đảm bảo phục hồi lưu thông tưới máu cho phần đứt rời. Đây là kỹ thuật đòi hỏi sự tinh vi ở mức cao nhất, bởi chỉ cần một mối nối mạch máu không thông, dòng máu không thể nuôi được đầu ngón và phần chi sẽ hoại tử. Với trường hợp thiếu máu kỷ lục kéo dài 25 giờ, từ lượng máu tưới đến nhiệt độ của ngón tay, kiểm soát nguy cơ co thắt mạch và giám sát tuần hoàn ngoại vi sau mổ để đảm bảo ngón tay được hồi sinh trọn vẹn. Trường hợp nối chi thể có nhiều điều đặc biệt… TS.BS Vũ Trung Trực – Phó Trưởng khoa Phẫu thuật Hàm mặt, Tạo hình và Thẩm mỹ, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, người trực tiếp thực hiện ca phẫu thuật, chia sẻ, đây là trường hợp cực kỳ đặc biệt. Trong những ca nối chi thể, thời gian thiếu máu kéo dài thường là rào cản rất lớn. Trước phẫu thuật, người bệnh và phần cơ thể đứt rời cần được đánh giá bởi đội ngũ các bác sĩ đa chuyên khoa nhiều kinh nghiệm. “Trường hợp này, nhờ bảo quản phần chi thể đứt rời đúng cách ngay từ hiện trường, khớp ngón tay không bị cứng nhờ được bảo quản ở nhiệt độ phù hợp. Một yếu tố nữa, cấu trúc ngón tay (bao gồm: xương, da, dây thần kinh, mạch máu) có khả năng chịu thiếu máu tốt hơn so với phần chi thể có nhiều cơ nên phần ngón tay bị thiếu máu 25 giờ nhưng vẫn có thể được nối lại. Đồng thời, đội ngũ y bác sĩ giàu kinh nghiệm và sự phối hợp tốt giữa các chuyên khoa cũng là thế mạnh của bệnh viện. Đây chính là những điểm quyết định lớn đến thành công của ca phẫu thuật”- TS.BS Vũ Trung Trực nói. Sau phẫu thuật, vết thương đã liền, ngón tay hồng, sống hoàn toàn, người bệnh đã có thể cắt chỉ và rút kim cố định. Người bệnh đang được tập phục hồi chức năng để lấy lại khả năng vận động và cảm giác của ngón tay. Tai nạn đứt rời ngón tay, bàn tay hay các phần cơ thể có thể xảy ra bất cứ lúc nào, từ lao động sản xuất, tai nạn sinh hoạt cho đến tai nạn trên biển như trường hợp của bệnh nhân D. TS.BS Vũ Trung Trực – Phó Trưởng khoa Phẫu thuật Hàm mặt, Tạo hình và Thẩm mỹ thăm khám sau phẫu thuật cho người bệnh. Ảnh:BVCC Vì vậy, chuyên gia khuyến cáo người dân cần trang bị kiến thức sơ cứu đúng cách, bởi đây là yếu tố quyết định khả năng cứu sống chi thể: Không rửa, không ngâm chi thể đứt rời vào bất kỳ dung dịch nào. Trong trường hợp phần đứt rời trong môi trường bẩn nhiều dị vật, có thể rửa dưới vòi nước sạch, tốt hơn là nước uống tinh khiết hoặc nước đun sôi để nguội. Bọc phần chi thể bằng gạc/khăn sạch, cho vào túi nylon và buộc kín (tránh tiếp xúc trực tiếp với đá lạnh). Đặt túi đựng chi thể vào một

Đặt điện cực định vị vùng chức năng trong phẫu thuật u thần kinh đệm lan tỏa

Lần đầu tiên tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, ê-kíp áp dụng kỹ thuật đặt điện cực theo dõi chức năng liên tục trong lúc bệnh nhân mắc u thần kinh đệm nhu mô não kích thước lớn được gây mê toàn thân, thay thế cho phương pháp mổ thức tỉnh vốn khó áp dụng với khối u quá lớn và thời gian mổ kéo dài. Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức tiếp nhận B.V.L (43 tuổi, Phú Thọ) nhập viện trong tình trạng đau đầu dữ dội, được chẩn đoán mắc u thần kinh đệm nhu mô não kích thước lớn (khoảng 8cm), khối u lan tỏa sâu vào nhiều vùng chức năng quan trọng của bán cầu phải, bao gồm vùng vận động, vùng ngôn ngữ và vùng bao trong – nơi chỉ huy vận động nửa người. Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Duy Tuyển, Trưởng khoa Phẫu thuật Thần kinh 2, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức cho biết: Thách thức đặt ra cho ê-kíp phẫu thuật là làm sao lấy tối đa khối u nhưng vẫn bảo tồn chức năng thần kinh. Đặc biệt, với u thần kinh đệm độ ác tính cao, tiêu chuẩn phẫu thuật khuyến cáo cần lấy thêm 4–5 mm mô xâm lấn quanh u để hạn chế tái phát, nhưng càng tiến gần vùng chức năng, nguy cơ di chứng càng lớn. Hệ thống điện cực được gắn vào các nhóm cơ tương ứng. Quy trình phẫu thuật được triển khai theo các bước chặt chẽ, bắt đầu bằng việc dựng sơ đồ vỏ não để định hướng tiếp cận qua vùng “không chức năng”, sau đó khi vào tới nhân xám trung ương – nơi chứa các đường dẫn truyền vận động, phẫu thuật viên sử dụng các điện cực thăm dò vừa hút khối u vừa phát hiện tín hiệu chức năng. Hệ thống điện cực được gắn vào các nhóm cơ tương ứng (mổ bán cầu phải gắn vào tay-chân trái và ngược lại) để theo dõi đáp ứng vận động theo thời gian thực. Khi tiến đến gần vùng chức năng khoảng 3-4 mm, thiết bị phát cảnh báo và khi chỉ còn cách 1mm, tín hiệu được truyền trực tiếp giúp phẫu thuật viên dừng đúng thời điểm, bảo tồn tối đa chức năng thần kinh đồng thời loại bỏ tối đa tổ chức u. Nhờ kỹ thuật này, ê-kíp có thể kiểm soát an toàn ngay cả khi u xâm lấn gần toàn bộ bán cầu, đồng thời đánh giá vận động ngay trong mổ. Trước khi đóng vết mổ, kiểm tra kích thích điện cho thấy tay chân bệnh nhân vẫn hoạt động tốt; sau phẫu thuật, bệnh nhân được đánh giá lại và ghi nhận chức năng vận động hoàn toàn bảo tồn dù khối u lan tỏa rất rộng. https://moh.gov.vn/tin-tong-hop/-/asset_publisher/k206Q9qkZOqn/content/-at-ien-cuc-inh-vi-vung-chuc-nang-trong-phau-thuat-u-than-kinh-em-lan-toa?inheritRedirect=false&redirect=https%3A%2F%2Fmoh.gov.vn%3A443%2Ftin-tong-hop%3Fp_p_id%3D101_INSTANCE_k206Q9qkZOqn%26p_p_lifecycle%3D0%26p_p_state%3Dnormal%26p_p_mode%3Dview%26p_p_col_id%3Drow-3-column-2%26p_p_col_pos%3D1%26p_p_col_count%3D2

Hai bác sĩ Việt Nam nhận chứng chỉ thành viên danh dự của tổ chức ngoại khoa hàng đầu thế giới

Theo phóng viên TTXVN tại London, hai bác sĩ Việt Nam gồm bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ Đỗ Thị Ngọc Linh (Bệnh viện hữu nghị Việt Đức) và bác sĩ Lê Diệp Linh (Phó Giám đốc Trung tâm phẫu thuật sọ mặt và tạo hình, Bệnh viện Trung ương quân đội 108) vừa được công nhận là thành viên danh dự Hiệp hội phẫu thuật Hoàng gia Anh (RCS), một trong những danh hiệu uy tín nhất trong ngành phẫu thuật thế giới. Lễ trao chứng chỉ thành viên diễn ra tại trụ sở RCS ở London tháng 11/2025. https://baotintuc.vn/infographics/hai-bac-si-viet-nam-nhan-chung-chi-thanh-vien-danh-du-cua-to-chuc-ngoai-khoa-hang-dau-the-gioi-20251120192010359.htm

PGS Việt Nam 2 lần được Nga mời mổ thị phạm: Tự mày mò làm chủ kỹ thuật mổ ‘đi du lịch trong não người’

PGS.TS Đồng Văn Hệ, Phó Giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, Chủ tịch Hội Phẫu thuật Thần kinh Việt Nam được giới chuyên môn biết đến là một trong những người tiên phong đưa kỹ thuật mổ nội soi thần kinh về Việt Nam. Từ những ngày đầu tự mày mò với thiết bị thô sơ, đến hai lần được mời sang Nga mổ thị phạm quốc tế, hành trình hơn hai thập kỷ của ông là câu chuyện về đam mê, sáng tạo và tinh thần dấn thân không ngừng nghỉ. Hai lần mổ thị phạm tại Nga Ngọc Minh: Thưa Phó Giáo sư, được biết ông vừa có chuyến công tác đặc biệt tại Nga, tham gia một chương trình phẫu thuật và đào tạo quốc tế. Ông có thể chia sẻ thêm về lần công tác này? PGS.TS Đồng Văn Hệ: Đây là khóa đào tạo do hội phẫu thuật thần kinh Tyumen tổ chức, chủ yếu dành cho các bác sĩ trẻ. Trước đó, năm 2023 tôi đã từng sang Nga phẫu thuật một lần và lần này là lần thứ hai được mời tham gia. Thông thường, trong các khóa đào tạo như vậy, họ mời chuyên gia hàng đầu từ nhiều quốc gia đến hướng dẫn và trình diễn kỹ thuật. Đợt này có các giáo sư đến từ Nhật Bản, Ấn Độ, Ý, Brazil và tôi đại diện cho Việt Nam. Mỗi người đảm nhiệm một lĩnh vực chuyên sâu khác nhau: Giáo sư Nhật mạnh về phẫu thuật mạch máu não, chuyên gia Brazil chuyên u nền sọ… Còn tôi phụ trách các ca nội soi điều trị bệnh lý dây V, một trong những kỹ thuật khó nhất hiện nay trong phẫu thuật thần kinh. Ngọc Minh: Làm việc ở một môi trường mới, với ekip hoàn toàn khác, ông có gặp khó khăn gì không? PGS.TS Đồng Văn Hệ: Thật ra, mọi thứ diễn ra rất trơn tru. Dù ekip hỗ trợ là bác sĩ người Nga, nhưng tinh thần hợp tác và sự chuyên nghiệp của họ khiến ca mổ diễn ra suôn sẻ. Lần đầu sang Nga, tôi đi một mình và bác sĩ Nga là người phụ mổ. Sau khi xem tôi mổ thị phạm, một thời gian sau, tôi nhận được tin nhắn từ đồng nghiệp Nga: “Tôi đã làm được hai ca rồi!”. Chỉ sau một buổi trình diễn, họ đã có thể áp dụng thành công. Điều khiến các đồng nghiệp Nga thích thú chính là ưu điểm vượt trội của nội soi so với phương pháp mổ kinh điển. Với vi phẫu truyền thống, ánh sáng chiếu từ kính hiển vi bên ngoài vào vùng mổ giống như soi ánh đèn qua khe cửa vào căn phòng tối. Còn nội soi, chúng tôi đưa nguồn sáng trực tiếp vào trong não như mang ngọn đèn vào giữa căn phòng. Ánh sáng khi ấy rõ, rộng, chiếu sáng mọi ngóc ngách, giúp bác sĩ quan sát được toàn cảnh cấu trúc mạch máu, dây thần kinh. Hình ảnh sắc nét, độ phóng đại lớn, màu sắc trung thực chúng tôi vẫn nói vui là “đi du lịch trong não người”. Mỗi ca mổ, vì thế, vừa là một hành trình khoa học vừa là một tác phẩm nghệ thuật. Bước đi đầu tiên của mổ nội soi thần kinh tại Việt Nam Ngọc Minh: Ông nói rằng đây là phương pháp khó, vậy khi đưa kỹ thuật này về Việt Nam lần đầu tiên, ông có lo ngại gì không? PGS.TS Đồng Văn Hệ: Ở Việt Nam, phẫu thuật nội soi bắt đầu khá sớm, từ những năm 1992–1993 với các ca cắt túi mật hay ruột thừa. Nhưng nội soi trong não thì phải đến năm 2003, chúng tôi mới thực hiện ca đầu tiên tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. Ban đầu đó chỉ là kỹ thuật đơn giản, thường quy. Khoảng năm 2008, khi kinh nghiệm và kỹ năng đã đủ “chín”, chúng tôi bắt đầu thực hiện phẫu thuật u hộp sọ bằng nội soi. Riêng phẫu thuật nội soi dây V, tôi chỉ triển khai trong 5 năm gần đây, từ năm 2020. Trước đó, chúng tôi chủ yếu mổ vi phẫu, có hỗ trợ nội soi, vừa làm vừa quan sát để đảm bảo an toàn tối đa cho người bệnh. Thời gian đầu, điều kiện vô cùng thiếu thốn. Thiết bị gần như không có, chúng tôi phải vay mượn, xin hỗ trợ từ bạn bè quốc tế. Một Giáo sư người Úc từng tặng tôi bộ dụng cụ cơ bản, trong đó có cả màn hình. Từ những trang thiết bị thô sơ ấy, chúng tôi bắt đầu những ca nội soi não thất đầu tiên đơn giản nhất. Sau này, tôi có cơ hội sang Úc và Nhật học kỹ thuật nội soi. Khi trở về, chúng tôi tiếp tục mở rộng sang nhiều lĩnh vực khác: nội soi dây V, dây VII, dây IX–X, điều trị u biểu bì, u màng não, nang nhện… Mỗi năm, chúng tôi lại tiến thêm một bước trên hành trình làm chủ kỹ thuật nội soi thần kinh tại Việt Nam. Ngọc Minh: Nghe ông kể, rõ ràng con đường ấy không hề dễ dàng. Vậy khó khăn lớn nhất thời điểm đó là gì? PGS.TS Đồng Văn Hệ: Khó khăn lớn nhất là thiết bị và kinh phí. Một hệ thống nội soi hoàn chỉnh cho phẫu thuật não có giá hàng trăm nghìn USD. Khi chưa có điều kiện, chúng tôi mượn hoặc được bạn bè quốc tế cho dụng cụ. Suốt cả chục năm, chúng tôi chỉ làm được những ca đơn giản. Sau này, khi được đầu tư thiết bị hiện đại, chúng tôi mới có thể thực hiện nhiều ca phức tạp hơn. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu, chúng tôi phải tự mày mò, thậm chí… tự chế tạo. Chẳng hạn, giá đỡ ống

Thuốc phối hợp mới giúp giảm 40% nguy cơ tử vong do ung thư tuyến tiền liệt

Một bước tiến đầy hứa hẹn trong điều trị ung thư tuyến tiền liệt vừa được công bố, mở ra hy vọng mới cho hàng triệu nam giới trên toàn cầu – đặc biệt là những người bị tái phát sau phẫu thuật hoặc xạ trị. Kết quả từ một thử nghiệm lâm sàng giai đoạn III cho thấy sự kết hợp giữa hai loại thuốc đã được Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) chấp thuận, enzalutamide và leuprolide, có thể giảm gần 40% nguy cơ tử vong ở bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt tiến triển tại chỗ. Ung thư tuyến tiền liệt – căn bệnh phổ biến ở nam giới Ung thư tuyến tiền liệt là một trong những loại ung thư thường gặp nhất ở nam giới trên toàn thế giới. Phẫu thuật và xạ trị hiện là hai phương pháp điều trị chính giúp nhiều bệnh nhân có thể khỏi bệnh hoàn toàn. Tuy nhiên, khoảng một phần ba số bệnh nhân vẫn bị tái phát ung thư, thường được phát hiện qua sự gia tăng nồng độ kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt (PSA) – một dấu ấn sinh học cho thấy tế bào ung thư đang hoạt động trở lại, ngay cả khi bệnh chưa biểu hiện triệu chứng. Bệnh nhân có thời gian PSA tăng gấp đôi trong 9 tháng hoặc ngắn hơn được xem là nhóm nguy cơ cao, có khả năng ung thư sẽ di căn đến các cơ quan khác, đặc biệt là xương. Trong khi đó, các lựa chọn điều trị cho nhóm bệnh nhân này hiện vẫn còn hạn chế, khiến việc kiểm soát bệnh hiệu quả trở thành một thách thức lớn đối với y học. Một loại thuốc phối hợp mới làm giảm 40% nguy cơ tử vong do ung thư tuyến tiền liệt. Thử nghiệm EMBARK giai đoạn III – bước ngoặt trong điều trị Những phát hiện mới đến từ thử nghiệm EMBARK giai đoạn III, được công bố mới đây trên Tạp chí Y học New England (The New England Journal of Medicine). Nghiên cứu được tài trợ bởi Pfizer và Astellas Pharma, tuyển chọn hơn 1.000 bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt tái phát nguy cơ cao tại 244 trung tâm ở 17 quốc gia. Các bệnh nhân được chia ngẫu nhiên thành ba nhóm điều trị: Leuprolide đơn trị Enzalutamide đơn trị Phối hợp enzalutamide và leuprolide Hai cơ chế khác biệt – hiệu quả cộng hưởng Enzalutamide là thuốc chẹn thụ thể androgen, giúp ngăn tế bào ung thư sử dụng hormone nam (testosterone) để phát triển. Leuprolide là liệu pháp hormone có tác dụng ức chế sản xuất testosterone trong cơ thể. Trước đây, sự kết hợp giữa hai loại thuốc này đã được FDA phê duyệt cho điều trị ung thư tuyến tiền liệt di căn. Tuy nhiên, nghiên cứu EMBARK đặt ra câu hỏi: Liệu dùng phối hợp này sớm hơn, trước khi bệnh di căn, có thể kéo dài tuổi thọ cho người bệnh hay không. Kết quả nổi bật: Giảm gần 40% nguy cơ tử vong Sau 8 năm theo dõi, kết quả cho thấy: Nhóm điều trị phối hợp (enzalutamide + leuprolide) có tỷ lệ sống sót chung là 78,9%. Nhóm chỉ dùng leuprolide có tỷ lệ sống sót 69,5%. Điều này tương đương với mức giảm nguy cơ tử vong gần 40%. Nhóm chỉ dùng enzalutamide đơn độc có tỷ lệ sống 73%, không khác biệt đáng kể so với nhóm leuprolide đơn trị. Các nhà nghiên cứu kết luận rằng liệu pháp phối hợp không chỉ giúp làm chậm tiến triển bệnh như các thử nghiệm trước đây đã chỉ ra, mà còn kéo dài đáng kể tuổi thọ của bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt tái phát nguy cơ cao. Tính an toàn và dung nạp Nhìn chung, các phản ứng phụ trong thử nghiệm phù hợp với những gì đã được ghi nhận ở các nghiên cứu trước. Các tác dụng không mong muốn thường gặp bao gồm mệt mỏi, bốc hỏa, giảm ham muốn tình dục và đau khớp. Dù vậy, tỷ lệ bệnh nhân phải ngừng điều trị do tác dụng phụ là thấp và không có biến cố nghiêm trọng mới được ghi nhận. Một hạn chế được các tác giả nêu rõ là thử nghiệm không sử dụng kỹ thuật chụp PET PSMA – phương pháp hình ảnh tiên tiến có thể phát hiện các ổ di căn nhỏ mà các kỹ thuật truyền thống bỏ sót. Điều này đồng nghĩa với khả năng một số bệnh nhân có thể đã có di căn chưa được phát hiện, ảnh hưởng đến cách phân nhóm và đánh giá kết quả. Tuy nhiên, chính yếu tố này cũng củng cố giả thuyết rằng liệu pháp kết hợp có thể hiệu quả ngay cả ở giai đoạn rất sớm của bệnh, khi tế bào ung thư chưa lan rộng rõ ràng trên hình ảnh học. Kỳ vọng mới trong điều trị ung thư tuyến tiền liệt Những kết quả của thử nghiệm EMBARK mang lại cơ sở vững chắc để thay đổi cách tiếp cận điều trị ung thư tuyến tiền liệt tái phát nguy cơ cao. Sự phối hợp giữa enzalutamide và leuprolide cho thấy hiệu quả rõ rệt trong việc kéo dài thời gian sống và giảm tỷ lệ tử vong, mở ra một hướng đi mới đầy triển vọng cho bệnh nhân. Nếu được ứng dụng rộng rãi, phác đồ này có thể trở thành tiêu chuẩn điều trị mới, giúp hàng nghìn nam giới trên thế giới có cơ hội sống lâu hơn và khỏe mạnh hơn trong cuộc chiến chống lại căn bệnh ung thư phổ biến này. https://suckhoedoisong.vn/thuoc-phoi-hop-moi-giup-giam-40-nguy-co-tu-vong-do-ung-thu-tuyen-tien-liet-169251022163310915.htm

Đặt Lịch Khám

    Đặt Lịch Khám