BỆNH VIỆN BẮC THĂNG LONG
BAC THANG LONG HOSPITAL

(84) 889 615 815

Email: thugopy.bvbtl@gmail.com

Hoạt Động Nghiên Cứu

Hoạt Động Nghiên Cứu

Ca thông tim xuyên qua bào thai nhanh nhất Việt Nam

Chỉ trong chưa đầy 30 phút, ê-kíp Bệnh viện Từ Dũ và Nhi Đồng 1 (TP.HCM) đã can thiệp thông tim bào thai thành công, lập dấu mốc ca thực hiện nhanh nhất Việt Nam. Lúc 10h ngày 30/12, ê-kíp bác sĩ chuyên khoa Sản – Can thiệp bào thai – Tim mạch can thiệp của Bệnh viện Từ Dũ phối hợp cùng Bệnh viện Nhi đồng 1 đã thực hiện thành công ca can thiệp thông tim bào thai cho một thai nhi mắc tim bẩm sinh phức tạp. Với thời gian thực hiện dưới 30 phút, đây được xem là ca thông tim bào thai nhanh nhất từ trước đến nay tại Việt Nam, đánh dấu bước tiến nổi bật của y học bào thai trong nước. Thai nhi được chẩn đoán hẹp van động mạch phổi nặng kèm thiểu sản thất phải tiến triển, một dạng tim bẩm sinh phức tạp, có nguy cơ cao diễn tiến thành tim một thất sau sinh nếu không được can thiệp kịp thời. Thai phụ là chị N.T.T.T. (26 tuổi, ngụ TP.HCM), mang thai lần hai, thai kỳ tự nhiên. Chồng của thai phụ là người Malaysia, luôn đồng hành và phối hợp chặt chẽ cùng gia đình và đội ngũ y tế trong suốt quá trình theo dõi, hội chẩn và quyết định can thiệp. Theo hồ sơ theo dõi, ở tam cá nguyệt thứ nhất, các lần khám thai chưa ghi nhận bất thường. Xét nghiệm sàng lọc trước sinh NIPT cho kết quả nguy cơ thấp. Tuy nhiên, đến khoảng tuần thai 22-24, qua siêu âm tim thai chuyên sâu, các bác sĩ phát hiện bất thường tim bẩm sinh gồm hẹp van động mạch phổi nặng kèm hở van ba lá. Thai phụ sau đó được chuyển đến theo dõi và hội chẩn tại Bệnh viện Từ Dũ và Bệnh viện Nhi đồng 1. Kết quả chọc ối phân tích nhiễm sắc thể cho thấy thai nhi có bộ nhiễm sắc thể bình thường, tạo cơ sở quan trọng để các bác sĩ cân nhắc chỉ định can thiệp. Trong quá trình theo dõi tiếp theo, bệnh lý tim thai tiến triển nhanh, thất phải ngày càng thiểu sản cả về hình thái lẫn chức năng, làm gia tăng nguy cơ phải điều trị theo lộ trình tim một thất sau sinh. Sau nhiều buổi hội chẩn liên viện, các bác sĩ thống nhất chỉ định can thiệp thông tim bào thai, nhằm cải thiện dòng máu qua van động mạch phổi, tạo điều kiện cho thất phải tiếp tục phát triển trong tử cung. Mục tiêu là mở rộng cơ hội bảo tồn chiến lược tim hai thất hoặc 1,5 thất sau sinh, tránh cho trẻ phải đi theo lộ trình điều trị tim một thất phức tạp và kéo dài. Thực tế can thiệp gặp không ít thách thức. Tại thời điểm làm thủ thuật, thai nhi ở tư thế ngôi đầu, nghiêng trái, bánh nhau mặt trước, làm gia tăng mức độ khó. Đặc biệt, cánh tay thai nhi vắt ngang trước ngực, che khuất hoàn toàn đường vào buồng tim. Trước tình huống này, ê-kíp đã linh hoạt thực hiện một thủ thuật hỗ trợ nhỏ để di chuyển chi thai, nhanh chóng tạo điều kiện tiếp cận tim thai an toàn. Sau khi tối ưu tư thế, quá trình xuyên kim qua thành bụng mẹ – tử cung – lồng ngực thai nhi và bơm bóng nong van động mạch phổi được thực hiện thuận lợi. Ca can thiệp thành công ngay lần xuyên kim đầu tiên, giúp rút ngắn tối đa thời gian thủ thuật, hạn chế nguy cơ cho cả mẹ và thai nhi. Vợ chồng sản phụ hạnh phúc vì con ổn định sau phẫu thuật. Ảnh: Nguyễn Thuận. Trao đổi với báo chí sáng 31/12, bác sĩ chuyên khoa II Trần Ngọc Hải, Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ, cho biết ca can thiệp đã được chuẩn bị rất kỹ lưỡng với tổng cộng 5 ê-kíp, mỗi ê-kíp từ 3 đến 5 người, nâng tổng số nhân lực tham gia lên khoảng 20-25 người. “Trước đây, có những ca rất nặng phải làm kéo dài nhiều giờ, thậm chí phải can thiệp hai lần. Có trường hợp lần đầu mất 4 tiếng, lần thứ hai mất thêm 2 tiếng. Còn với ca này, chúng tôi thực hiện trong dưới 30 phút”, bác sĩ Hải chia sẻ. Theo lãnh đạo Bệnh viện Từ Dũ, Bộ Y tế xếp kỹ thuật thông tim bào thai vào danh mục phẫu thuật đặc biệt, đồng thời đánh giá đây là dấu mốc của một bước tiến rất lớn của y học Việt Nam. Bởi đây là kỹ thuật rất mới, rất hiếm và chỉ có rất ít trung tâm trên thế giới thực hiện được. Bác sĩ Hải thông tin mỗi ca can thiệp cần khoảng 50 thiết bị y tế, gần 25 nhân viên y tế, đồng thời phải chuẩn bị song song hai phòng can thiệp với đầy đủ hệ thống. Chi phí vì vậy cao hơn gần gấp đôi so với can thiệp tim mạch thông thường ở người lớn, nhưng vẫn nằm trong khung giá nhà nước quy định và được bảo hiểm y tế chi trả phần lớn. https://znews.vn/ca-thong-tim-xuyen-qua-bao-thai-nhanh-nhat-viet-nam-post1615623.html

Kỳ tích y khoa: Bệnh viện Bạch Mai và BVĐK Vĩnh Phúc cứu sống bệnh nhân ngừng tim 60 phút

90 phút “Thần tốc” tạo nên kỳ tích cứu sống người bệnh Bệnh nhân nữ, 47 tuổi, tiền sử u lành tính tuyến vú phải đã được phẫu thuật, chưa phát hiện bệnh lý tim mạch mạn tính. Bệnh nhân vào BVĐK Vĩnh Phúc do cơn đau ngực trái cấp tính khởi phát 4 giờ trước. Tại đây, người bệnh được chẩn đoán: Nhồi máu cơ tim cấp ST chênh lên (STEMI) giờ thứ 4 – một cấp cứu tim mạch với nguy cơ tử vong cao nếu không được xử trí kịp thời. Bệnh nhân được chụp mạch vành qua da cấp cứu, phát hiện tắc hoàn toàn động mạch liên thất trước (LAD) và tiến hành can thiệp đặt stent động mạch vành, dòng chảy sau can thiệp tốt. Sau can thiệp, người bệnh được chuyển về bệnh phòng tiếp tục theo dõi sát. Trong lúc đang được theo dõi sau can thiệp, bệnh nhân đột ngột xuất hiện mất ý thức, trên máy theo dõi là hình ảnh rung thất – Rối loạn nhịp nguy kịch gây ngừng tuần hoàn. Người bệnh được hồi sức tim phổi, ép tim ngoài lồng ngực, sốc điện nhiều lần với tổng thời gian ngừng tim phải tiến hành cấp cứu ngừng tuần hoàn 60 phút. Sau những nỗ lực không biết mệt mỏi, người bệnh có mạch trở lại. Tuy nhiên, bệnh nhân rơi vào tình trạng sốc tim rất nặng, chức năng tim giảm nhiều, huyết áp tụt sâu, phải dùng ba loại vận mạch liều cao, nguy cơ tử vong rất cao. Ngay lập tức, BVĐK Vĩnh Phúc đã phát đi “tín hiệu” kêu gọi sự hỗ trợ từ Bệnh viện Bạch Mai. Lúc này, sức mạnh của sự phối hợp liên viện và năng lực chỉ đạo của Bệnh viện tuyến Trung ương đã phát huy tối đa. Dưới sự chỉ đạo quyết liệt và thần tốc của PGS.TS Đào Xuân Cơ –  Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, chỉ sau 1,5 giờ nhận được yêu cầu hỗ trợ từ Vĩnh Phúc, một ê-kip chuyên gia ECMO tinh nhuệ đã có mặt tại chỗ. Ê-kíp bao gồm: BSCKII. Nguyễn Bá Cường, Trung tâm Hồi sức Tích cực; ThS.BS. Hoàng Tuấn Phong và ThS.BS. Võ Duy Văn – Viện Tim mạch Quốc gia. Nhờ sự phối hợp nhịp nhàng giữa hai bệnh viện, hệ thống ECMO đã nhanh chóng được thiết lập ngay tại Vĩnh Phúc, kịp thời thay thế chức năng tim – phổi suy yếu của bệnh nhân, giành giật sự sống từ tay tử thần. Sự phản ứng “thần tốc” không phải ngẫu nhiên. Nó là kết quả của sự chỉ đạo xây dựng một cơ chế phối hợp liên viện linh hoạt, hiệu quả dưới sự điều hành của PGS.TS. Đào Xuân Cơ. Ông nhấn mạnh: Bệnh viện Bạch Mai với vai trò đầu ngành phải luôn sẵn sàng ở tư thế “ứng chiến” cao nhất. Chúng tôi đã xây dựng các ê-kip chuyên sâu luôn túc trực, quy trình vận hành tinh gọn và sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị nòng cốt như Trung tâm Hồi sức Tích cực và Viện Tim mạch Quốc gia để có thể hỗ trợ toàn quốc một cách nhanh chóng nhất khi có yêu cầu. Từ Hành trình hồi sinh đến Tầm nhìn chiến lược Quốc gia Sau khi được ECMO hỗ trợ, bệnh nhân được chuyển về Trung tâm Hồi sức Tích cực (HSTC) Bệnh viện Bạch Mai để tiếp tục cuộc chiến giành lại sự sống từ tay tử thần. Tại đây, dưới sự điều trị tận tâm của BS. Hồ Đức Triều và ê-kíp HSTC, cùng sự phối hợp đa chuyên khoa chặt chẽ (Tim mạch, Dược lâm sàng, Dinh dưỡng, Phục hồi chức năng), bệnh nhân đã vượt qua những giai đoạn nguy kịch, ngàn cân treo sợi tóc như sốc tim trầm trọng và nhiễm khuẩn nặng. Nhờ tinh thần trách nhiệm cao, sự phối hợp chuyên môn nhịp nhàng và tinh thần không bỏ cuộc, người bệnh đã có những chuyển biến tích cực. Sau 4 ngày điều trị, bệnh nhân được rút ECMO thành công. Sau 14 ngày điều trị tích cực, bệnh nhân đã hồi phục tốt, chức năng tim cải thiện rõ rệt và đủ điều kiện xuất viện. Thành công này không chỉ là một kỳ tích đơn lẻ mà còn là một bước đi chiến lược, như PGS.TS. Đào Xuân Cơ – Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai đã khẳng định: “Hỗ trợ các bệnh viện tuyến dưới triển khai thành công kỹ thuật cao như ECMO không đơn thuần là giải quyết một ca bệnh khó. Đó là nhiệm vụ chiến lược nhằm từng bước nâng cao năng lực chuyên môn cho y tế địa phương, giúp người dân được tiếp cận dịch vụ kỹ thuật cao ngay tại tuyến tỉnh, giảm tải cho bệnh viện tuyến trên và giảm nguy cơ cho người bệnh khi phải vận chuyển xa”. Phó giáo sư Xuân Cơ cũng chỉ ra rằng thành công của kỹ thuật ECMO không chỉ phụ thuộc vào máy móc hiện đại. Yếu tố quan trọng hơn cả là hệ thống tổ chức, con người được đào tạo bài bản, sự phối hợp đa chuyên khoa nhịp nhàng và một quy trình chuẩn hóa. Ca bệnh tại Vĩnh Phúc chính là minh chứng sống động cho thấy, với sự hỗ trợ chuyên môn sâu, kịp thời từ tuyến trung ương và sự quyết tâm của địa phương, kỹ thuật này hoàn toàn có thể triển khai hiệu quả tại tuyến tỉnh. Thành công của ca ECMO tại Vĩnh Phúc là một tín hiệu đáng mừng cho cả hệ thống y tế, hứa hẹn một tương lai người dân trên mọi miền Tổ quốc đều được tiếp cận những dịch vụ y tế chuyên sâu, kỹ thuật cao với chất lượng tốt nhất. Tinh thần “Không bao giờ từ bỏ dù hy

Thêm kỳ tích của ngành y Việt Nam: Lần đầu tiên ghép thành công đồng thời tim – phổi cho người bệnh suy đa tạng

Sự thành công của ca ghép đồng thời tim – phổi cho bệnh nhân suy đa tạng mở ra một dấu mốc quan trọng, khẳng định bước tiến vượt bậc của BV Hữu nghị Việt Đức trong lĩnh vực ghép đa tạng, đồng thời đặt dấu mốc cho y học Việt Nam trên bản đồ thế giới, mở ra nhiều cơ hội cứu sống người bệnh nguy kịch. TS.BS Dương Đức Hùng – Giám đốc BV Hữu nghị Việt Đức đã xúc động chia sẻ thông tin trên với báo chí… Ca ghép khối tim – phổi đầu tiên kéo dài 7 giờ, hơn 40 chuyên gia tham gia trực tiếp… Cách đây hơn 3 tuần, người bệnh Trần Như Q (38 tuổi) bước vào ca ghép đa tạng đầu tiên trong lịch sử ghép tạng của Việt Nam – ghép khối tim – phổi đồng thời. Trước đó, nữ bệnh nhân có tiền sử: thông liên nhĩ – tăng áp động mạch phổi nặng đã bít dù thông liên nhĩ tại Bệnh viện Tim Hà Nội năm 2011, không theo dõi thường xuyên, mới dùng thuốc được 1 năm trở lại, bệnh nhân không có tiền sử tai biến mạch máu não. PGS. TS Phạm Hữu Lư – Phó Trưởng Khoa Ngoại Tim mạch và Lồng ngực, Trung tâm Tim mạch, BV Hữu nghị Việt Đức cho biết, bệnh nhân vào viện được chẩn đoán: hội chứng eisenmenger – suy thất phải không hồi phục – hở ba lá nặng/ tiền sử bít dù thông liên nhĩ, khả năng tử vong tính theo ngày, có chỉ định ghép cả tim và phổi đồng thời dù không kịp thời gian điều trị suy dinh dưỡng và phổi người hiến có nhiễm khuẩn Acinetor baummani và to hơn lồng ngực người nhận. “Chúng tôi đã hội chẩn liên chuyên khoa, bởi để thực hiện kỹ thuật ghép đồng thời khối tim – phổi cải tiến phải có sự phối hợp liên chuyên khoa: Nội tim mạch lồng ngực, gây mê – hồi sức, ngoại, phục hồi chức năng, dinh dưỡng …”- TS Lư nói. Trong ca phẫu thuật kéo dài 7 tiếng liên tục, các chuyên gia của BV Hữu nghị Việt Đức phải sử dụng hệ thống tuần hoàn ngoài cơ thể thay thế tạm thời tim và phổi trong suốt thời gian đó. Để đảm bảo tim hoạt động tốt nhưng cần tránh truyền nhiều dịch gây phù phổi, dùng ít thuốc mê và đưa vào các phương tiện theo dõi huyết động tiên tiến nhất. Các bác sĩ cũng tiến hành cắt bớt phổi hai bên cho vừa, nối hai phế quản gốc thay vì nối khí quản theo kinh điển để tưới máu miệng nối tốt hơn, soi phế quản ống mềm trong mổ đánh giá 2 miệng nối phế quản gốc. Khối tim – phổi của người hiến được chuẩn bị đưa vào ghép cho bệnh nhân. Theo TS Hùng, đây là ca bệnh đặc biệt hiếm gặp, đòi hỏi sự phối hợp liên chuyên khoa, áp dụng những kỹ thuật phẫu thuật và hồi sức tiên tiến hàng đầu hiện nay. “Ghép khối tim – phổi là một kỹ thuật y học tiên tiến, trong đó cả tim và hai phổi của người bệnh được thay thế đồng thời bằng tim và hai phổi khỏe mạnh từ người hiến tạng phù hợp. Đây là giải pháp điều trị cuối cùng cho các bệnh nhân mắc đồng thời bệnh tim và bệnh phổi giai đoạn cuối, khi tất cả các phương pháp điều trị khác không còn hiệu quả”- TS.BS Dương Đức Hùng nói và cho biết thêm: Ca phẫu thuật này đòi hỏi kỹ thuật cao, phối hợp nhiều chuyên khoa và hệ thống hồi sức, chăm sóc sau mổ đặc biệt. Tiếp tục ‘cắm cờ đỏ sao vàng’ của Việt Nam trên bản đồ ghép đa tạng, đặc biệt là trong ghép đồng thời tim – phổi Ông Hùng cũng thông tin, trên thế giới, ghép khối tim – phổi được thực hiện rất ít do yêu cầu nguồn tạng hiếm, quy trình phẫu thuật phức tạp và nguy cơ biến chứng cao; được chỉ định cho những trường hợp mắc đồng thời bệnh tim và bệnh phổi giai đoạn cuối khi tất cả các phương pháp điều trị khác không còn hiệu quả. Thành công của ca ghép đồng thời tim – phổi không chỉ đánh dấu bước tiến vượt bậc trong năng lực ghép tạng, đặc biệt là ghép đa tạng, mà còn khẳng định trình độ chuyên môn của đội ngũ y tế Việt Nam trong lĩnh vực ngoại khoa. Thành tựu này mở ra cơ hội sống và hướng điều trị mới cho những bệnh nhân mắc bệnh tim – phổi giai đoạn cuối. “Tính từ ngày thực hiện ca ghép, hôm nay tròn 24 ngày. Thời gian qua thực sự là những ngày ‘căng với ekip hồi sức và phẫu thuật viên tham gia thực hiện ca ghép đa tạng này. Đến hôm nay chúng tôi mới cảm giác như nhẹ người hơn Với thành công của ca ghép khối tim – phổi này, chúng tôi đã tiếp tục cắm cờ đỏ sao vàng của Việt Nam trên bản đồ ghép đa tạng, đặc biệt là trong ghép đồng thời tim – phổi bởi hiện nay ghép khối tim – phổi rất ít. Do yêu cầu nguồn tạng hiếm và kỹ thuật cực kỳ phức tạp, mỗi năm toàn thế giới chỉ thực hiện khoảng 100 ca ghép như này”- TS.BS Đương Dức Hùng chia sẻ. Các tình huống thường gặp gồm: bệnh tim bẩm sinh phức tạp kèm tăng áp động mạch phổi kiểu Eisenmenger; tăng áp động mạch phổi nặng đã gây suy tim phải không hồi phục; hoặc bệnh phổi giai đoạn cuối kèm bệnh tim trái không thể sửa chữa. Do yêu cầu nguồn tạng hiếm và kỹ thuật cực kỳ phức tạp, mỗi năm

Kỳ tích y khoa: Ca vỡ phế quản gốc hai bên đầu tiên được cứu sống tại Việt Nam

Vỡ phế quản gốc hai bên – tổn thương cực hiếm với nguy cơ tử vong cao, đã được các bác sĩ Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức xử lý thành công trong một ca cấp cứu khẩn cấp, cứu sống cô gái 18 tuổi sau tai nạn giao thông nghiêm trọng. Ngày 08/4, em P.T.T.N (18 tuổi, trú tại Hưng Yên) được chuyển đến Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức trong tình trạng nguy kịch sau vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng giữa xe máy và ô tô. Nạn nhân bị bánh ô tô cán trực tiếp qua vùng ngực, gây chấn thương nặng. Trước đó, em đã được sơ cứu tại Bệnh viện Đa khoa Hưng Hà, được đặt ống nội khí quản, dẫn lưu màng phổi hai bên trước khi chuyển khẩn cấp lên tuyến trên. Tại thời điểm tiếp nhận, em N. đang được an thần và thở máy, mạch nhanh, toàn bộ vùng ngực xây xát nặng, tràn khí dưới da lan rộng vùng đầu, mặt, cổ và ngực. Dẫn lưu màng phổi hai bên liên tục có khí thoát ra cho thấy nghi ngờ có tổn thương nghiêm trọng đường thở trên bệnh nhân bị các chấn thương khác phối hợp. Đồng thời, bệnh nhân còn bị nghi ngờ chấn thương sọ não, hàm mặt biến dạng, gãy xương hàm dưới, chấn thương tạng trong ổ bụng. Ngay lập tức, các bác sĩ đã tiến hành cấp cứu thăm khám lâm sàng, cận lâm sàng và đặc biệt là nội soi khí phế quản cấp cứu. Kết quả cuối cùng về chấn thương ngực cho thấy người bệnh bị vỡ phế quản gốc hai bên. Đây là một tổn thương rất nghiêm trọng và hiếm gặp với tỷ lệ tử vong cực cao, đe dọa trực tiếp đến tính mạng do rối loạn hô hấp và huyết động nặng nề. Bệnh nhân còn bị kèm theo chấn thương sọ não, hàm mặt biến dạng, gãy xương hàm dưới, chấn thương gan và lách độ 2. PGS.TS Phạm Hữu Lư, Phó Trưởng khoa Ngoại Tim mạch – Lồng ngực, Trung tâm Tim mạch và Lồng ngực, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức cho biết, trước diễn biến nguy kịch, bệnh viện đã nhanh chóng hội chẩn và quyết định xử trí khẩn cấp. Người bệnh được chuyển sang phòng mổ chuyên khoa tim mạch – lồng ngực với đầy đủ thiết bị chuyên sâu. Ê-kíp phẫu thuật lồng ngực đã mở xương ức để bộc lộ phế quản gốc hai bên, đồng thời sử dụng kỹ thuật ECMO (tim phổi nhân tạo) để đảm bảo duy trì bão hoà oxy máu và huyết động trong suốt quá trình mổ và hỗ trợ phổi sau mổ. Nữ bệnh nhân hiện đã ổn định được PGS.TS Phạm Hoa Lư khám lại. Ảnh: Bệnh viện cung cấp Kỳ tích của y khoa Việt Nam Theo các chuyên gia, đây là ca vỡ phế quản gốc hai bên đầu tiên được ghi nhận tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức và Việt Nam đồng thời là một trong những trường hợp cực hiếm trong y văn, với tỷ lệ gặp chưa đến 1% trong các ca đa chấn thương nặng. Sau khi xử trí lập lại lưu thông đường thở hai bên, tình trạng bệnh nhân ổn định lại (bão hoà oxy máu động mạch 98 – 99%, huyết động ổn định) được chuyển về phòng hồi sức tích cực điều trị tiếp. Qua hai tuần điều trị tích cực, tình trạng bệnh nhân dần hồi phục trở lại, bệnh nhân tỉnh táo, được rút ống nội khí quản và chuyển về khoa Ngoại Tim mạch – Lồng ngực, Trung tâm Tim mạch và Lồng ngực, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức để tiếp tục theo dõi. Sau đó, người bệnh được điều trị phục hồi vùng hàm mặt (kết hợp xương hàm dưới bằng nẹp vít). Hiện tại, bệnh nhân đã được xuất viện với thể trạng ổn định. Khám lại sau 1 tháng xuất viện, người bệnh phục hồi gần như hoàn toàn với thể trạng vui tươi, tinh thần lạc quan, kết quả soi khí – phế quản sau sửa chữa thông tốt, không hẹp. Các cơ quan bộ phận khác phục hồi tốt trong niềm vui phấn khởi của gia đình và nhân viên y tế tham gia cấp cứu và điều trị cho cháu. https://daibieunhandan.vn/ky-tich-y-khoa-ca-vo-phe-quan-goc-hai-ben-dau-tien-duoc-cuu-song-tai-viet-nam-10375820.html

Bác sĩ Tôn Thất Tùng – cha đẻ phương pháp mổ gan siêu nhanh của thế giới

Bác sĩ Tôn Thất Tùng phẫu tích hơn 200 lá gan tử thi để tìm hiểu cấu trúc mạch máu và phát minh phương pháp “cắt gan khô” được thế giới vinh danh “phương pháp Tôn Thất Tùng”. Giáo sư Tôn Thất Tùng sinh năm 1912, mất năm 1982 ở tuổi 70, nổi tiếng thế giới là nhà phẫu thuật trong lĩnh vực gan. Luận án tốt nghiệp bác sĩ y khoa Cách phân chia mạch máu của gan được bác sĩ Tùng bảo vệ thành công năm 1939 tại Pháp. Phương pháp này, còn gọi là phương pháp cắt gan khô, được Đại học Tổng hợp Paris trao huy chương bạc nhưng bị Viện Hàn lâm Phẫu thuật Paris cùng các giáo sư đầu ngành công kích dữ dội bởi ý tưởng quá mới. Nhớ lại y học thế giới giai đoạn này, học trò Giáo sư Tùng là Giáo sư Đặng Hanh Đệ, hiện 89 tuổi, nguyên chủ nhiệm phẫu thuật Khoa Tim mạch, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, nói rằng phương pháp của thầy Tùng bị phản đối do những năm 39-40 phương pháp mổ cắt gan từ cuống được coi là kinh điển. “Cắt gan từ cuống là kỹ thuật mổ kéo dài 3-6 giờ, bệnh nhân mất máu nhiều, trong khi phương pháp của thầy Tùng cắt từ ngoài vào thẳng cuống gan nên thời gian mổ ngắn chỉ 4-8 phút, hiệu quả cao nhưng đòi hỏi phẫu thuật viên phải nắm rất vững cấu trúc giải phẫu bên trong gan”, Giáo sư Đệ giải thích, hôm 18/8. Do nhược điểm của mổ cắt gan từ cuống như vậy nên vấn đề được bác sĩ Tùng đặt ra khi ấy là “đường nào mổ gan nhanh mà ít máu”. Một lần, phát hiện gan của một bệnh nhân Việt Nam có giun chui vào đường mật, bác sĩ Tùng nảy ra ý tưởng nghiên cứu cơ cấu lá gan. Trong 5 năm từ 1935 đến 1939, bằng con dao cạo thô sơ, ông phẫu tích hơn 200 lá gan trên tử thi để nghiên cứu các mạch máu và vẽ lại thành sơ đồ đối chiếu, từ đó rút ra bài học. Cuối cùng, ông thuộc lòng sự phân chia của các mạch máu trong gan, quan hệ của các mạch này so với bề mặt ngoài gan, tạo ra phương pháp cho phép cắt gan chỉ mất 4-8 phút, bệnh nhân giảm chảy máu và ít tổn thương. Mãi đến năm 1952, tại hội nghị phẫu thuật quốc tế ở Copenhaghen (Đan Mạch), phương pháp cắt gan của bác sĩ Tùng mới được giới y khoa thế giới thừa nhận, còn gọi là phương pháp cắt gan khô hoặc phương pháp Tôn Thất Tùng. Giới y khoa quốc tế gọi Tôn Thất Tùng là “người cha của cắt gan có quy phạm”, nhiều bác sĩ nước ngoài sang Việt Nam trực tiếp xem phẫu thuật và học hỏi. Cây đại thụ y khoa Việt Nam Giáo sư Tôn Thất Tùng được xem là cây đại thụ của y khoa Việt Nam, có nhiều cống hiến cho ngành y trên cương vị Chủ nhiệm Bộ môn Ngoại khoa (Đại học Y Hà Nội), Giám đốc Bệnh viện Việt – Đức, Thứ trưởng Y tế nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ông là người thầy đào tạo nhiều thế hệ bác sĩ tài năng cho nước nhà, được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động, Viện sĩ Viện hàn lâm Y học Liên Xô, Viện sĩ Viện hàn lâm Phẫu thuật Paris, hội viên Hội các nhà phẫu thuật Lyon (Pháp). Mang dòng họ hoàng tộc thời Nguyễn song ông không theo nghiệp làm quan mà năm 1931 ra Hà Nội học trường Trung học Bảo hộ (tức trường Bưởi – trường Chu Văn An ngày nay) rồi trường Y – Dược của Đại học Đông Dương. Ba năm sau, ông được tuyển cùng 10 sinh viên khác làm ngoại trú tại Bệnh viện Phủ Doãn, sau đó là người duy nhất được nhận vào làm việc tại khoa ngoại trường Y – Dược, tức Bệnh viện Việt – Đức ngày nay. Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập. Nền y tế Việt Nam thuở ấy quá sơ sài. Cả nước có 130 bác sĩ, chỉ khám chữa được những bệnh thông thường như sốt, tiêu chảy, còn chuyên sâu gần như không có. Điều khó khăn nhất là suốt nhiều năm chiến tranh và thuộc địa, Việt Nam bị cô lập với thế giới, không sách vở, không biết y học thế giới phát triển ra sao. Trong bối cảnh này, năm 1947 bác sĩ Tùng nhận chức Thứ trưởng Bộ Y tế với trọng trách xây dựng và phát triển nền y tế Việt Nam trở thành một mặt trận kháng chiến lớn mạnh về sau. Năm 1954, Tôn Thất Tùng mới có cơ hội tiếp xúc với nền y tế Liên Xô, Trung Quốc, trực tiếp mời chuyên gia về hướng dẫn, từ đó phát triển các chuyên ngành như tiêu hóa, thần kinh, xương khớp, tiết niệu. Tim mạch là chuyên khoa cuối cùng, đến năm 1960 mới hình thành. Bác sĩ Tùng đến nay được ghi danh là bác sĩ Việt Nam đầu tiên mổ tim bệnh nhân. Theo Giáo sư Đệ, “mổ tim hở ở Việt Nam thời ấy là cả một công trình, khi điều kiện vật chất thiếu thốn vô cùng”. Giáo sư Đệ khi ấy là sinh viên y khoa đi theo thầy Tùng học nghề. Ca phẫu thuật tim đầu tiên của bác sĩ Tùng diễn ra năm 1958, sau khi ông sang Ấn Độ học kỹ thuật này. Ông dùng máy tim phổi nhân tạo lắp vào bệnh nhân để hoạt động thay thế chức năng trái tim, rồi mở trái tim người bệnh ra sửa chữa. Cuộc mổ thuận lợi, không một trục trặc nào. Bác sĩ Gibbon (Mỹ) –

Nửa thế kỷ từ bệnh viện có một bác sĩ thành nơi ghép tủy lớn nhất Việt Nam

Bệnh viện Truyền máu – Huyết học TP HCM ban đầu chỉ có một bác sĩ, 50 năm sau trở thành cơ sở gần 1.000 nhân viên, tiên phong trong nhiều kỹ thuật khó và hiện là nơi ghép tủy lớn nhất Việt Nam. Tiền thân là Viện Truyền máu Quốc gia (chế độ Sài Gòn), sau ngày thống nhất đất nước nơi đây được đổi tên thành Viện Truyền máu và 5 năm sau trở thành Trung tâm Truyền máu – Huyết học TP HCM. Năm 2002, nơi này mang tên Bệnh viện Truyền máu Huyết học TP HCM, là cơ sở chuyên khoa hạng một, tuyến cuối của khu vực phía Nam, một trong những bệnh viện hàng đầu cả nước về truyền máu và huyết học. Những ngày đầu hoạt động sau ngày thống nhất đất nước năm 1975, viện chỉ vỏn vẹn 36 người, gồm một bác sĩ và bốn dược sĩ, chuyên tiếp nhận, điều chế và phân phối máu cho các bệnh viện tại thành phố, TS.BS.CK2 Phù Chí Dũng, Giám đốc Bệnh viện Truyền máu Huyết học TP HCM, cho biết tại Lễ kỷ niệm 50 năm thành lập bệnh viện, 30 năm thực hiện ca ghép tế bào gốc đầu tiên tại Việt Nam, ngày 11/7. Ngày 12/5/1990 đánh dấu bước ngoặt lớn khi bệnh viện lập khu điều trị các bệnh lý về máu quy mô 30 giường, với đội ngũ 6 bác sĩ, 10 điều dưỡng. Đây được xem là khoa điều trị bệnh lý huyết học riêng biệt đầu tiên cả nước. Hơn 5 năm sau, học hỏi kinh nghiệm từ Nhật Bản, Đài Loan, viện thực hiện ca ghép tủy xương đầu tiên tại Việt Nam và trở thành trung tâm ghép tủy đầu tiên của cả nước, mở đầu kỷ nguyên ghép tủy trị bệnh huyết học. Người đầu tiên ở Việt Nam được ghép tủy là nam thanh niên 21 tuổi mắc bệnh bạch cầu cấp dòng tủy, được ghép tế bào gốc từ anh ruột hiến. Sau ghép, người thanh niên khỏi bệnh, lập gia đình, sinh hai con và sống khỏe đến nay. PGS.TS.BS Trần Văn Bé, giám đốc đầu tiên của viện, người chỉ huy ca ghép trên, nhớ lại muôn vàn khó khăn thiếu thốn khi tiên phong thực hiện kỹ thuật này để cứu người bệnh. “Đến cây kim chọc tủy khi ấy còn chưa có, chúng tôi phải chọn lựa từ loại dùng cho thú y đem về xử lý để dùng”, ông nói. Từ thành công này, bệnh viện tiếp tục đi đầu trong nhiều kỹ thuật ghép tế bào gốc phức tạp khác. Năm 2002, nơi đây thực hiện ca ghép máu cuống rốn đầu tiên Việt Nam, sau đó là những kỹ thuật mới nhất của thế giới, đồng thời hỗ trợ nhiều bệnh viện khác triển khai kỹ thuật. Đến nay, bệnh viện thực hiện khoảng 700 ca, đứng đầu cả nước về số lượng. Ca ghép tủy đầu tiên Việt Nam tại Bệnh viện Truyền máu Huyết học TP HCM, năm 1995. Ảnh: Bệnh viện cung cấp Ngân hàng tế bào gốc là một trong ba lĩnh vực mạnh nhất của Bệnh viện Truyền máu – Huyết học TP HCM hiện nay. Hai lĩnh vực còn lại là khám chữa bệnh với gần 10.000 ca nhập viện, 140.000 lượt ngoại trú mỗi năm và ngân hàng máu. Hiện, ngân hàng máu cho ra đời hơn 650.000 đơn vị chế phẩm máu mỗi năm, phục vụ tất cả bệnh viện tại thành phố và một số tỉnh lân cận. Dự kiến cuối năm nay, bệnh viện khởi công xây trụ sở hai ngân hàng này, công suất gấp nhiều lần hiện tại. Đầu năm nay, bệnh viện là cơ sở y tế công lập đầu tiên đạt chứng nhận chất lượng JCI hàng đầu thế giới, điều trị người bệnh theo tiêu chuẩn quốc tế với giá cả Việt Nam. Nơi này hiện có gần 1.000 nhân viên với hơn 160 bác sĩ ở nhiều chuyên khoa. Bệnh viện tiếp tục phát triển nhiều liệu pháp mới, kỹ thuật mới, để người bệnh được thụ hưởng tiến bộ hàng đầu thế giới, không cần phải đi nước ngoài điều trị. Phó chủ tịch UBND TP HCM Trần Thị Diệu Thúy đánh giá cao những nỗ lực của bệnh viện trong hành trình từ cơ sở chỉ có một lĩnh vực duy nhất là lấy máu đã trở thành ngân hàng máu, ngân hàng tế bào gốc, cơ sở khám chữa bệnh đạt chuẩn quốc tế JCI, tiên phong trong nhiều kỹ thuật phức tạp ở Việt Nam. Bà kỳ vọng nơi này cùng một số bệnh viện lớn trong thành phố tiếp tục vai trò dẫn dắt, góp phần xây dựng TP HCM trở thành trung tâm chăm sóc sức khỏe khu vực ASEAN. https://vnexpress.net/nua-the-ky-tu-benh-vien-mot-bac-si-thanh-noi-ghep-tuy-lon-nhat-viet-nam-4912932.html  

Kỳ tích: ca ghép gan đặc biệt cho bệnh nhi 8 tháng tuổi, nặng chỉ 6,5kg từ người hiến chết não

Ngày 18/4 trở thành một dấu mốc đáng nhớ với Hệ thống Y tế Vinmec và ngành phẫu thuật ở Việt Nam khi nơi này thực hiện thành công ca ghép gan đặc biệt cho một bệnh nhi 8 tháng tuổi, nặng chỉ 6,5kg. Không chỉ là ca ghép gan ở bệnh nhi nhẹ cân nhất từng thực hiện tại Vinmec, đây còn là một trong những ca ghép gan nhỏ tuổi và nhẹ cân hiếm hoi tại Việt Nam, mang lại hy vọng sống cho nhiều bệnh nhi mắc bệnh gan hiểm nghèo. Bé N.L.T chào đời khỏe mạnh nhưng chỉ sau vài ngày, trên cơ thể nhỏ bé ấy đã xuất hiện những dấu hiệu bất thường. Mẹ của bé kể, khi con mới 10 ngày tuổi, chị phát hiện trên da có những chấm xuất huyết nhỏ, đưa đi khám thì phát hiện men gan cao. Lúc ấy, bác sĩ khuyên về nhà theo dõi thêm. Nhưng khi về nhà, da con càng lúc càng vàng, mắt cũng vàng, nước tiểu sẫm màu, phân bạc màu, bụng trướng to bất thường. Những ngày sau, mẹ bé chạy khắp các bệnh viện lớn, từ Bệnh viện Đại học Y, Bệnh viện Nhi Trung ương… rồi nhận về một chẩn đoán lạnh người: bệnh nhi teo mật bẩm sinh. “Lúc ấy, em chưa hiểu rõ, chỉ nghĩ bệnh tim bẩm sinh còn chữa được thì bệnh này chắc cũng không quá nghiêm trọng. Nhưng đến khi vào viện, nhìn những đứa trẻ bụng trướng căng, da vàng sậm, em mới biết bệnh của con mình nặng thế nào”, chị kể. Phát hiện con mình bị căn bệnh hiếm, rất nguy hiểm và vô cùng khó chữa nhưng người mẹ cắn răng âm thầm không nói với bất cứ ai. “Mọi người hỏi han về tình hình bệnh tật của con, nhưng em vẫn giấu cho đến khi con mổ thì mọi người mới biết. Vào thăm con, thấy các bạn ở cùng khoa với những triệu chứng rất nặng thì mọi người mới biết bệnh này nguy hiểm. Lúc đó cứ ai hỏi em về tình hình bệnh của con là em càng khóc”, người mẹ nghẹn ngào nhớ lại. Bé T. nhanh chóng được chỉ định phẫu thuật Kasai – một phương pháp nối đường mật ngoài gan với ruột – khi mới 1,5 tháng tuổi. Thế nhưng, hy vọng mong manh ấy nhanh chóng tắt lịm. Bệnh tình không thuyên giảm, da vẫn vàng, gan vẫn to, bụng trướng, bé quấy khóc triền miên, lách to gây chèn ép cơ hoành, khiến bé thở khó nhọc. Gia đình liên tục đi khám, trung bình 1-2 tuần/lần, bệnh viện dần trở thành ngôi nhà thứ hai của hai mẹ con. Đỉnh điểm của tuyệt vọng là khi các xét nghiệm từ bố, mẹ, ông, bà đều không phù hợp để hiến gan. Người mẹ trẻ gần như sụp đổ, có lúc từng nghĩ “hai mẹ con cùng đi đến nơi thật xa, giải thoát cho nhau để con không phải chịu đau đớn nữa”. Nhưng giữa lúc mọi cánh cửa dần khép lại, tin vui bất ngờ đến: Có một phần lá gan phù hợp từ bệnh nhân chết não tại Bệnh viện Bạch Mai có cùng nhóm máu với bé T. Một tia hy vọng lóe sáng, sự sống sẽ được chuyển giao. Ngay lập tức, hệ thống “Báo động đỏ” của Vinmec được kích hoạt. Hội đồng Chuyên môn Ghép gan khẩn cấp triệu tập, bao gồm các chuyên khoa Ngoại khoa Gan – Mật, Gây mê, Hồi sức cấp cứu, Nhi khoa, Chẩn đoán hình ảnh, Xét nghiệm, Dược…, dưới sự chủ trì của Thầy thuốc Nhân dân, PGS.TS.BS Phạm Đức Huấn – Giám đốc Trung tâm Tiêu hóa – Gan mật – Tiết niệu, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City. Hội đồng Chuyên môn Ghép gan đã hội chẩn và đi đến kết luận bệnh nhi bị xơ gan giai đoạn cuối do teo đường mật bẩm sinh. Họ thống nhất: Ghép gan là phương pháp duy nhất cứu sống bé. Tuy nhiên, bệnh nhi chỉ nặng 6,5kg và tiền sử bệnh trong thời gian dài của cháu bé đặt ra những thách thức lớn về gây mê – hồi sức và đặc biệt là kỹ thuật ghép. Tất cả đã được đội ngũ y bác sĩ Vinmec thảo luận rất chi tiết và đưa ra các phương án để đảm bảo an toàn cho bệnh nhi. Ca mổ được thực hiện chỉ sau 4 giờ chuẩn bị – một khoảng thời gian kỷ lục. Nhớ lại ca phẫu thuật, PGS.TS.BS Lê Văn Thành, người đóng vai trò tổng chỉ huy cuộc ghép, kể: “Ca phẫu thuật kéo dài hơn 10 tiếng, từng bước tiến hành và phối hợp chính xác đến từng phút. Chúng tôi làm việc với áp lực cao nhất, vì hiểu rằng từng giây, từng phút trôi qua là sự sống của bệnh nhi bị đe dọa”. Với thể trạng chỉ 6,5kg, các mạch máu trong cơ thể bé chỉ 3-4mm, nhỏ bằng khoảng một phần ba so với người trưởng thành. Không chỉ có vậy, bé còn gặp hai bất thường mạch máu nghiêm trọng: Teo tĩnh mạch cửa, teo tĩnh mạch chủ dưới đoạn sau gan – những thách thức cực lớn đòi hỏi phải tạo hình lại toàn bộ hệ thống mạch máu. “Đây là ca ghép khó nhất mà chúng tôi từng thực hiện, vì bệnh nhi nhỏ tuổi, nhẹ cân, có nhiều bất thường giải phẫu, đồng thời phải khắc phục tình trạng rối loạn đông máu. Bất cứ sai sót nhỏ nào cũng có thể dẫn tới thảm họa”, TS.BS Đào Đức Dũng- một trong những phẫu thuật viên chính của kíp mổ- chia sẻ. Ngay sau khi kết thúc ca mổ, thuốc mê vừa ngừng, tiếng khóc của cháu bé vang lên từ phòng mổ. Đó không chỉ là tiếng khóc của một em bé, mà là

Kỳ tích y học: Việt Nam lần đầu thực hiện thành công ghép tim nhân tạo bán phần

Ngày 12/04, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 (Hà Nội) cho biết đã thực hiện thành công ca ghép tim nhân tạo bán phần thế hệ thứ 3 (LVAD – Heart Mate3) lần đầu tiên tại Việt Nam. Trước đó, tháng 3-2025, bệnh nhân nữ HTX (46 tuổi, Thanh Hóa) nhập viện, được các bác sĩ chẩn đoán suy tim phân suất tống máu giảm nặng (EF chỉ còn 19%) do bệnh cơ tim giãn, kết hợp với các biến chứng nguy hiểm như nhồi máu não và tắc động mạch dưới đòn phải. Theo lời kể của người bệnh, chị đã được chẩn đoán suy tim giai đoạn cuối và điều trị bằng thuốc trong nhiều năm, tuy nhiên tình trạng sức khỏe không cải thiện, có những cơn khó thở cấp, tràn dịch màng phổi số lượng nhiều phải nhập viện cấp cứu. Bệnh nhân đã được hội chẩn cả trong nước và quốc tế, được chỉ định cấy ghép thiết bị hỗ trợ thất trái (LVAD – Left Ventricular Assist Device) thế hệ thứ 3, là thế hệ mới nhất nhằm thay thế chức năng bên trái của tim. Thiết bị hỗ trợ thất trái hoạt động như một chiếc bơm cơ học, bơm máu từ tim đến động mạch chủ, với cấu tạo và cơ chế hoạt động đặc biệt giúp tối ưu được dòng máu bơm ra, đồng thời giảm các nguy cơ huyết khối, tan máu. Thiết bị có dây nối với pin bên ngoài cơ thể. Thiết bị đã được chứng minh có khả năng kéo dài thời gian và chất lượng cuộc sống vượt trội cho người bệnh suy tim giai đoạn muộn. Ca phẫu thuật ghép tim nhân tạo được thực hiện bởi các bác sĩ Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 dưới sự hướng dẫn của GS Jan D.Schmitto – Chủ tịch Hội Tuần hoàn cơ học châu Âu. Ông cũng là người đầu tiên trên thế giới thực hiện thành công ca ghép tim nhân tạo bán phần thế hệ thứ 3 cho một bệnh suy tim giai đoạn cuối vào năm 2014 (hiện sau 11 năm, bệnh nhân này vẫn sinh hoạt bình thường). Sau 2 tuần cấy ghép, bệnh nhân HTX đã đi lại, sinh hoạt cá nhân hoàn toàn ổn định, đang được hướng dẫn theo các quy trình chăm sóc chuyên môn để sẵn sàng xuất viện. “Trước đây mỗi lần nhập viện, tôi đều rất lo sợ bởi không biết trái tim mình sẽ ngừng đập lúc nào. Tôi mong được sống để chứng kiến đám cưới của con trai dù cháu đang là sinh viên đại học. Hiện tại, tôi cảm thấy rất khoẻ mạnh và chờ đến ngày được ra viện”, chị X chia sẻ. Theo TS Đặng Việt Đức, Phó Viện trưởng Viện Tim mạch, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, thiết bị hỗ trợ thất trái thế hệ thứ 3 (LVAD- Heart Mate3) đang là một trong những kỹ thuật tiên tiến nhất, kỹ thuật cao nhất trong lĩnh vực tim mạch, đặc biệt trong điều trị bệnh nhân suy tim nặng. Với khả năng hỗ trợ, thay thế chức năng bơm máu của tâm thất trái, thiết bị này giúp cải thiện lưu lượng máu đến các cơ quan trong cơ thể, giúp bệnh nhân duy trì cuộc sống bình thường. Suy tim là giai đoạn cuối của các bệnh lý tim mạch, có tỉ lệ tử vong cao nhất trên thế giới, cao hơn cả bệnh lý ung thư và đột quỵ. Khoảng 50% bệnh nhân suy tim không sống quá 5 năm sau khi được bác sĩ chẩn đoán. Ở bệnh nhân suy tim giai đoạn cuối, con số này còn cao hơn, với tiên lượng sống trung bình khoảng 6-12 tháng, tỉ lệ tử vong trên 75% sau 1 năm. Theo các chuyên gia, thành công của ca ghép tim nhân tạo bán phần thế hệ thứ 3 đầu tiên tại Việt Nam đã mở ra cơ hội cho hàng nghìn người bệnh suy tim giai đoạn cuối. Thành công này đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lĩnh vực phẫu thuật tim mạch nước nhà, khẳng định năng lực chuyên môn vững vàng cùng chiến lược đầu tư, chỉ đạo đúng đắn trong phát triển kỹ thuật cao. Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 định hướng đến năm 2030 trở thành đơn vị tiên phong trong các kỹ thuật y khoa tiên tiến nhất của thế giới, sau đó làm chủ và chuyển giao cho các bệnh viện khác trong nước. https://plo.vn/ky-tich-y-hoc-viet-nam-lan-dau-thuc-hien-thanh-cong-ghep-tim-nhan-tao-ban-phan-post843933.html Xem thêm: Bệnh viện Bắc Thăng Long không ngừng phát triển, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao

Ca ghép phổi siêu khó lần đầu tiên Việt Nam làm được: Nhật Bản đưa tin, y khoa toàn cầu đánh giá cao

8 năm trước, ghép phổi được đánh giá là một kỹ thuật khó, chỉ một số quốc gia trên thế giới làm được. Tuy nhiên, thời điểm đó, Việt Nam đã phẫu thuật thành công cho một bệnh nhi. 2 người cùng hiến 1 phần lá phổi để bé 7 tuổi có cả 2 lá phổi Theo các chuyên gia, để thực hiện ghép phổi, các bác sĩ phải lựa chọn đánh giá tình trạng phổi của người cho, người nhận rất chặt chẽ. Sau ghép, việc chăm sóc để phổi ghép đủ khỏe, đủ chức năng cũng rất khó, bởi ngay khi được cắt ra, phổi sẽ bị tổn thương nên nguy cơ nhiễm trùng cũng cao hơn các tạng khác. “Ghép phổi là kỹ thuật ghép tạng khó nhất”, bác sĩ Trần Bình Giang, nguyên Giám đốc Bệnh viện Việt Đức đã từng chia sẻ. Cách đây 8 năm, ghép phổi là một kỹ thuật khó không chỉ với Việt Nam mà trên thế giới. Tuy nhiên, Bệnh viện Quân y 103 đã quyết tâm thực hiện ca ghép phổi từ người cho sống đầu tiên tại Việt Nam. Ca ghép phổi từ người cho sống đầu tiên tại Việt Nam. Bệnh nhân của ca ghép là cháu Ly Chương Bình (7 tuổi, quê ở xã Bát Đại Sơn, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang). Bình được chẩn đoán giãn phế quản bẩm sinh lan tỏa 2 phổi, đã biến chứng suy hô hấp, tâm phế mạn, suy dinh dưỡng độ III, có chỉ định tuyệt đối để ghép phổi. Nếu không được phẫu thuật ghép phổi thì Bình có tiên lượng tử vong cao. Hai người tình nguyện hiến 1 phần lá phổi cho Bình là bố em (28 tuổi) và bác ruột (30 tuổi) để tạo thành 2 lá phổi cho em. Ngày 21/2/2017, các bác sĩ của bệnh viện Quân y 103 đã phối hợp với một số bệnh viện và chuyên gia Nhật Bản và thực hiện thành công ca ghép phổi cho Bình. Trong ca ghép, Bình được cắt bỏ bộ 2 lá phổi bệnh, sau đó ghép 1 thùy phổi từ bố và 1 thùy từ bác ruột. Ca phẫu thuật kéo dài khoảng 11 giờ và được đánh giá là thành công. Sau 2 ngày ghép phổi, Bình đã được rút ống nội khí quản và tự thở được. Bình tỉnh táo, nói chuyện được, các chỉ số sinh học ổn định. Ca ghép phổi với nhiều khó khăn Ca ghép phổi từ người hiến còn sống đầu tiên tại Việt Nam đã thu hút sự chú ý của báo chí quốc tế và được đánh giá cao trong cộng đồng y khoa toàn cầu. Ca ghép này được đánh giá khó vì người cho là 2 người khác nhau (bố và bác của bệnh nhân) trong khi các ca ghép khác chỉ cần một người. Do đó, áp lực từ những người làm chuyên môn là rất lớn. Một khó khăn khác nữa là thể trạng của Bình rất yếu, do mắc bệnh từ nhỏ nên các cơ quan như tim của em cũng bị ảnh hưởng. Bình bị suy dinh dưỡng, 7 tuổi mà chỉ có 14kg. Ngoài ra, một khó khăn khác là nguy cơ nhiễm khuẩn phổi cao. Do phổi là cơ quan hô hấp cung cấp oxy cho cơ thể, hít thở với không khí bên ngoài nên nguy cơ nhiễm khuẩn rất cao. Nếu công tác khử khuẩn phòng mổ, công tác hậu phẫu không đảm bảo vô trùng thì phẫu thuật sẽ có nguy cơ thất bại. Trước khi thực hiện ca ghép phổi này, bệnh viện quân y đã cử các bác sĩ sang Nhật học kinh nghiệm ghép phổi, từ khâu gây mê, phẫu thuật tới chạy máy để đảm bảo ca ghép thành công. Bệnh nhi được lãnh đạo Bộ Y tế thời điểm đó tới thăm hỏi. Trường Đại học Okayama, Nhật Bản đã cử một đội ngũ chuyên gia đến hỗ trợ ca phẫu thuật và công bố thông tin về sự thành công của ca ghép này trên trang tin chính thức của họ. Một số báo chí quốc tế cũng đã đưa thông tin về thành công của ca ghép phổi từ người hiến còn sống đầu tiên tại Việt Nam. Điều này không chỉ phản ánh tầm quan trọng của sự kiện mà còn ghi nhận bước tiến đáng kể của y học Việt Nam trên trường quốc tế. Trước đây, ghép phổi chỉ có thể thực hiện ở các quốc gia có nền y học tiên tiến như Mỹ, Đức, Tây Ban Nha, Áo, Vương Quốc Anh, Nhật Bản, Hàn Quốc… Thành công của ca ghép này đã đưa Việt Nam vào danh sách các nước có khả năng thực hiện kỹ thuật khó này. Thành công của ca ghép phổi từ người cho sống đầu tiên tại việt Nam không chỉ mở ra cơ hội sống cho bệnh nhân mà còn khẳng định Việt Nam có thể làm chủ những kỹ thuật ghép tạng phức tạp. PGS.TS Nguyễn Mạnh An, nguyên Giám đốc Bệnh viện Quân Y 103 chia sẻ: “Thành công của ca ghép phổi này không chỉ là thành tựu của bệnh viện mà còn là của nền y tế Việt Nam. Những tạng lớn của con người Việt Nam đều có thể ghép được và người bệnh có cơ hội ghép tạng ngay ở trong nước, gia thành rẻ hơn rất nhiều”. Tại thời điểm đó, khi đánh giá về ca ghép tạng này, Nguyên Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến khẳng định: “Ca ghép phổi đầu tiên từ người cho sống thành công, Việt Nam đã ghi tên trên bản đồ thế giới trong kỹ thuật ghép phổi, đưa chuyên ngành ghép tạng của Việt Nam lên một tầm cao mới. Đây là thành tích lớn lao chào mừng 62 năm ngày Thầy thuốc Việt Nam 27/2”. Đến nay, Việt Nam đã làm

Hình ảnh y học ấn tượng nhất thế kỷ 21

Bệnh nhân suy tim ho ra cục máu đông có hình dạng như một cây phế quản nguyên vẹn, trở thành một trong những hình ảnh y học ấn tượng nhất thế kỷ 21. Năm 2018, Tạp chí Y học New England (The New England Journal of Medicine) đăng tải hình ảnh một cấu trúc kỳ lạ, có màu đỏ anh đào và hình dạng giống cành cây. Thoạt nhìn, nhiều người có thể lầm tưởng đó là một phần của hệ thống rễ cây hoặc một mảnh san hô. Tuy nhiên, đây là một cục máu đông hoàn chỉnh, dài 15,24 cm, có hình dạng gần như giống hệt cây phế quản phải của con người – một trong hai mạng lưới ống dẫn khí vào và ra khỏi phổi. Điều đáng kinh ngạc là nó được ho ra nguyên vẹn. Bệnh nhân là một người đàn ông 36 tuổi ở California. Hình ảnh cục máu đông vừa đẹp mắt vừa đáng sợ đến nay vẫn được các chuyên gia coi là một trong những hình ảnh y học ấn tượng nhất thế kỷ 21 cho đến nay. Nhiều người hoang mang, lo ngại rằng đó có thể là một lá phổi bị ho ra, nhưng điều này gần như không thể xảy ra. Ngay cả các bác sĩ điều trị cũng không thể giải thích chính xác cách cục máu đông này đi qua đường thở mà không bị vỡ. Tiến sĩ Georg Wieselthaler, bác sĩ phẫu thuật phổi và ghép tạng tại Đại học California, San Francisco (UCSF), cho biết bệnh nhân nhập viện trong tình trạng suy tim giai đoạn cuối. Anh được kết nối với một máy bơm hỗ trợ tâm thất để tối đa hóa lưu lượng máu, nhưng thiết bị này cũng làm tăng nguy cơ hình thành cục máu đông. “Dòng chảy rối bên trong máy bơm có thể dẫn đến hiện tượng này, vì vậy tất cả bệnh nhân sử dụng thiết bị đều phải dùng thuốc chống đông máu”, tiến sĩ Wieselthaler giải thích. Tuy nhiên, thuốc chống đông máu cũng mang đến rủi ro. Ở người khỏe mạnh, máu thiếu oxy rời khỏi tim, đi qua mạng lưới mao mạch phức tạp trong phổi để nhận oxy từ đường thở. Nếu các mạch này xuất hiện vết nứt nhỏ, cơ thể sẽ tự vá lại bằng cơ chế đông máu. Nhưng với bệnh nhân dùng thuốc chống đông, khả năng tự vá bị suy giảm, khiến các tổn thương có thể trở nên nghiêm trọng. Trong trường hợp này, máu từ mạng lưới mao mạch phổi của bệnh nhân đã tràn vào phổi phải, di chuyển đến cây phế quản. Sau nhiều ngày ho ra các cục máu đông nhỏ hơn, nam bệnh nhân đã ho mạnh và tống ra ngoài một cục máu đông lớn với hình dạng kỳ lạ. Khi tiến sĩ Wieselthaler cùng đồng nghiệp cẩn thận mở cục máu đông, họ phát hiện cấu trúc đường thở vẫn nguyên vẹn đến mức có thể xác định đó là cây phế quản phải chỉ bằng cách quan sát số lượng nhánh và cách sắp xếp của chúng. “Chúng tôi rất ngạc nhiên. Đây là một trường hợp cực kỳ hiếm gặp”, ông nói. Mặc dù hiếm, trường hợp này không phải chưa từng có tiền lệ. Một nghiên cứu năm 1926 trên Tạp chí Hiệp hội Y khoa Mỹ (The Journal of the American Medical Association) ghi nhận một phụ nữ 34 tuổi nhập viện vì nhiễm trùng đường hô hấp và ho ra “một mảnh màng lớn” – một lớp tế bào và chất nhầy tích tụ do nhiễm trùng – có hình dạng đúc của khí quản, hai phế quản và một số tiểu phế quản. Năm 2005, Tạp chí Phẫu thuật Tim-Lồng ngực châu Âu (European Journal of Cardio-Thoracic Surgery) công bố ảnh chụp một hình đúc cây phế quản nhỏ hơn, do một phụ nữ mang thai 25 tuổi bị rối loạn đông máu ho ra. Cô đã hồi phục và sinh con khỏe mạnh. Tuy nhiên, người phụ nữ bị nhiễm trùng đường hô hấp trong nghiên cứu năm 1926 đã không qua khỏi. Viêm phế quản nhựa, một bệnh lý chủ yếu ảnh hưởng đến trẻ em, thường đi kèm với rối loạn dòng bạch huyết và các bệnh tim, phổi khác. Bệnh này có thể khiến dịch bạch huyết tích tụ trong đường thở, dần trở nên cứng và bị ho ra nguyên vẹn. Đối với bệnh nhân hen suyễn, chất nhầy cũng có thể cứng lại trong đường thở do co thắt phế quản và mất nước, từ đó bị ho ra trong các cơn hen. Tuy nhiên, trong tất cả các trường hợp đã ghi nhận, chỉ có người phụ nữ mang thai năm 2005 ho ra một cục máu đông, lớn nhất từng được chụp ảnh – cho đến trường hợp của bệnh nhân tại UCSF. Máu đông ít chắc chắn và kém dính hơn bạch huyết hoặc chất nhầy cứng, vậy tại sao cục máu đông này không bị vỡ? Tiến sĩ Wieselthaler cho rằng fibrinogen, một protein huyết tương có vai trò như “keo dán” trong quá trình đông máu, có thể là yếu tố quyết định. Bệnh nhân không chỉ bị suy tim mà còn nhiễm trùng, điều này có thể khiến nồng độ fibrinogen trong máu cao hơn bình thường. Theo ông, sự gia tăng fibrinogen có thể đã khiến cục máu đông có độ đàn hồi bất thường, giúp nó không bị vỡ khi di chuyển qua đường thở. Gavitt Woodard, bác sĩ nội trú khoa phẫu thuật lồng ngực tại UCSF, người đã giúp tiến sĩ Wieselthaler chụp bức ảnh, cho rằng chính kích thước của cục máu đông đã giúp bệnh nhân ho ra được. “Có thể vì nó quá lớn, nên bệnh nhân đã tạo đủ lực từ toàn bộ bên phải lồng ngực để đẩy nó ra ngoài.

Giáo sư Đặng Văn Ngữ – Một nhân cách lớn

GS. Đặng Văn Ngữ là “cha đẻ” của thuốc kháng sinh Penicillin ở Việt Nam, đồng thời cũng là người có công lớn trong việc đẩy lùi bệnh sốt rét, giúp cứu sống hàng vạn bộ đội, thanh niên xung phong trong thời kỳ kháng chiến. Nhân kỷ niệm 70 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với con trai của Giáo sư – NSND Đặng Nhật Minh để nghe ông kể về cuộc đời của một nhà khoa học tận tụy, một người cha bình dị nhưng để lại một nhân cách lớn cho đời và cho con cháu noi theo. Dấu ấn của những công trình y học GS. Đặng Văn Ngữ sinh năm 1910 trong một gia đình nhà nho ở làng An Cựu (Thừa Thiên Huế). Thuở nhỏ, ông được gia đình cho theo học tiểu học ở Vinh, trung học Huế, sau đó học tiếp tại Hà Nội. Năm 20 tuổi, ông đỗ tú tài và nhận được học bổng theo học tại Trường Y khoa Đông Dương (tiền thân của Trường Đại học Y Dược Hà Nội). Năm 1937, sau 8 năm miệt mài đèn sách, ông bảo vệ thành công luận án áp-xe gan và tốt nghiệp Bác sĩ Y khoa. Với thành tích học tập xuất sắc, ông trở thành người Việt Nam đầu tiên được giữ lại trường làm trợ lý cho GS. Galliard – Chủ nhiệm Bộ môn Ký sinh trùng kiêm Hiệu trưởng Trường Y khoa Đông Dương lúc đó. Khi đang làm trợ giảng thì BS. Đặng Văn Ngữ được cử sang nghiên cứu tại Trường Đại học Y khoa Tokyo (Nhật Bản) trong khuôn khổ trao đổi nghiên cứu sinh giữa hai nước Pháp – Nhật như một đại diện xuất sắc của nền y học Pháp tại Đông Dương. Trong thời gian tu nghiệp ở Nhật, ông tìm ra giống nấm sản xuất Penicillin và công bố 4 công trình khoa học có giá trị. GS. Đặng Văn Ngữ (giữa) đang thuyết trình với Bác Hồ nhân dịp Bác thăm Trường Y – Dược và Khoa Ký sinh trùng. Cùng lúc đó ở miền Bắc, giai đoạn 1949-1950, phong trào kháng chiến chống Pháp phát triển mạnh mẽ, GS. Đặng Văn Ngữ lúc bấy giờ vẫn đang làm việc ở Nhật Bản đã xin về nước để tham gia kháng chiến theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tại Nhật, GS. Đặng Văn Ngữ là Chủ tịch Hội người Việt yêu nước, nhiều lần dẫn đầu đoàn biểu tình của Việt kiều tại Tokyo phản đối thực dân Pháp trở lại xâm chiếm Việt Nam. Vì thế, trước vận mệnh sống còn của Tổ quốc, một trí thức yêu nước như ông không thể đứng ngoài cuộc. Hành trang mang theo ngoài ít vật dụng cá nhân là một ống nấm Souche Penicillium (giống Penicillium) để rồi sau này làm nên cuộc “cách mạng” trong việc điều chế Penicillin kết tinh (bột) và “nước lọc” Penicillin. Vì sao lại gọi là “nước lọc” Penicillin? Mặc dù GS. Đặng Văn Ngữ đã điều chế thành công Penicillin kết tinh (bột) nhưng vấn đề nằm ở chỗ làm thế nào để có thể sản xuất được thật nhiều Penicillin đáp ứng nhu cầu kháng khuẩn của các thương bệnh binh ngoài mặt trận? Làm sao để bất kỳ một cơ sở y tế nào cũng có thể sản xuất được Penicillin, phổ biến nó một cách rộng rãi, thông dụng nhất? Bởi sản xuất Penicillin dạng bột là một công việc đòi hỏi thời gian lâu dài, do vậy, nó không thể thỏa mãn được nhu cầu cấp thiết của quân đội và nhân dân. “Cần một thứ thuốc dễ thực hiện để có thể nhanh chóng chữa lành các vết thương” là điều GS. Đặng Văn Ngữ luôn trăn trở. Và sau nhiều ngày nghiên cứu, GS. Đặng Văn Ngữ và các cộng sự của trường Y đều nhận ra rằng “nước lọc” Penicillin có tác dụng và hiệu lực hơn cả Penicillin kết tinh nếu dùng nó để chữa trị tại chỗ các vết thương nhiễm trùng. Cách thức sản xuất là: lấy nước thân cây ngô có chứa glucose được nấu lên rồi cấy nấm bằng giống của phòng thí nghiệm tạo ra “nước lọc” Penicillin đắp lên vết thương và nó có tác dụng chữa lành, chống nhiễm trùng rất hữu hiệu. GS.Đặng Văn Ngữ và gia đình. Về nước, ông nhận nhiệm vụ lên chiến khu Việt Bắc. Tại đây, ông được gặp Hồ Chủ tịch. Người đã động viên, khích lệ và có ảnh hưởng lớn đến tinh thần yêu nước, nhân cách sống của ông trong suốt cuộc đời nghiên cứu khoa học. Những năm 1950, trong điều kiện nghiên cứu hết sức thô sơ, khó khăn, thiếu thốn cả về nhân lực lẫn vật lực, một phòng labo dã chiến đã được ra đời tại Chiến khu Việt Bắc. Với quyết tâm lớn nhất là phải tìm và sản xuất được kháng sinh như ở các viện mà ông từng làm việc ở Nhật, ông đã sáng tạo bằng cách vận dụng những nguyên liệu dễ kiếm như thân cây ngô, sắn và cả lương khô để điều chế môi trường nuôi cấy nấm, giúp điều chế Penicillin dạng bột và “nước lọc” Penicillin. Trong đó, việc sáng chế ra “nước lọc” Penicillin là một sáng kiến mang tính đột phá với nhiều ưu điểm nổi trội, dùng để chữa trị tại chỗ các vết thương phẫu thuật nhiễm trùng rất hiệu quả. Ngoài ra, “nước lọc” Penicillin còn đáp ứng yêu cầu của cuộc kháng chiến, đó là với sự hướng dẫn của Giáo sư, bất kỳ một cơ sở y tế nào cũng có thể sản xuất được. Việc sản xuất được “nước lọc” Penicillin một cách rộng rãi có ý nghĩa vô cùng đặc biệt, góp phần đắc

Đặt Lịch Khám

    Đặt Lịch Khám